Làm rõ khái niệm “xung đột”, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và phân tích vấn đề “xung đột văn hoá”, “xung đột văn hoá thuần tuý” và “xung đột nhìn từ góc độ văn hoá” trong thời đại ngày nay. Từ những luận giải đó, tác giả đã đi đến khẳng định, bổ sung cho việc nghiên cứu xung đột bằng cách tiếp cận văn hoá và đưa văn hoá như một tham số vào trong các phân tích về xung đột và giải quyết xung đột là cái cần thiết trong thời đại ngày nay.
Từ ngày 10 đến 14/8/2009, Khoa Nhân học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức lớp học chuyên đề "Nhân học tôn giáo". Giảng viên là Giáo sư Charles Keyes, thuộc Trường Đại học Washington, một nhà nhân học có nhiều năm nghiên cứu về tín ngưỡng tôn giáo ở một số quốc gia Đông Nam Á và Nam Á. Học viên bao gồm một số giảng viên và nghiên cứu sinh thuộc các Khoa Nhân học, Văn hóa học, Đông phương học, v.v.
Chuyên đề bao gồm 5 bài giảng: Tôn giáo và hiện đại; Phật giáo Theravāda và hiện đại; Phật tử Theravāda đối diện với cái chết; Nhà nước, chủ nghĩa dân tộc, và bạo động trong các xã hội Phật giáo; Phật giáo, nhân quyền, và các tộc người thiểu số không theo đạo Phật. Tất cả đều được soạn sẵn bằng tiếng Anh và được Khoa Nhân học tổ chức biên dịch sang tiếng Việt để làm tài liệu học tập. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, một số chi tiết đã được Giáo sư Charles Keyes lược bớt. Đổi lại, trong khi trao đổi trực tiếp với học viên, Giáo sư đã cung cấp thêm một số kiến thức bổ ích khác chưa được làm rõ trong bài giảng.
Dưới đây là phần lược ghi của chúng tôi. Tuy không thật đầy đủ nhưng hy vọng nó cũng cung cấp được một vài thông tin có ích cho những bạn đọc không có điều kiện tham dự lớp học trên.
Có sự khác biệt vô cùng lớn
giữa bức tranh, có tính không gian, về cơ bản được tri nhận đồng thời (tức khắc)
và diễn trình trong thời gian của lời nói hay âm nhạc tuần tự tác động lên
thính giác chúng ta. Ngay cả khi xem những bức tranh đang chuyển động cũng nảy
sinh ý muốn bao quát đồng thời kết cấu không gian của chúng.
Tạo hóa đã bày đặt cho con người một nghịch lý vĩ đại mà con người từ khi xuất hiện cho đến mãi mai sau, dù thuộc màu da gì, thuộc dân tộc nào và sống bất cứ đâu trên trái đất này đều phải vượt qua nhưng không bao giờ vượt qua được.
Cuộc thảo luận về Cải cách Giáo dục đã kéo dài bao nhiêu năm rồi! Liệu có được một công cụtư duy hành dụng - mộthướng đi và cách làm - nhằm dồn các cuộc cãi cọ vào hành động cải cách giáo dục hữu hiệu? Sách này cố gắng đưa ra một lý thuyết đang cần cho sự nghiệp giáo dục của dân tộc mình, một dân tộc nhất thiết phải tiến lên hiện đại hóa- hiện đại hóa hay là chết - giống như một thời nào đó,độc lập hay là chết. Sách này cung cấp một vũ khí tư duy cải cách giáo dục vì nó chỉ ra mộtchốn hợp lưu tất yếucủa các dòng tâm lý học giáo dục - Công nghệ Giáo dục.
TỪ NGÔN TỪ TỤC Ô NHỤC PHỤ NỮ ĐẾN SỰ THỂ HIỆN QUYỀN LỰC PHỤ QUYỀN TRONG VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
Cai Pei (Thái Bội)
Trần Duy Khương lược dịch
Một số người cho rằng, việc cấm kỵ nói tục chính là vì tôn trọng phụ nữ, không nên “làm nhục mẹ của người khác”, nhưng điều mà chúng ta cần quan tâm ở đây là: tại sao những từ ngữ này luôn chỉ đến phụ nữ? Hơn nữa, người ta lại thường chỉ đến “mẹ” của đối phương mà không là “chị”, “em” hay là “dì”? Khi liên kết với thân thể của người phụ nữ, tại sao luôn là “sinh thực khí” mà không phải là “chân”, “tay” hay các bộ phận khác? Việc sử dụng những từ ngữ như thế bị hạn định bởi thể hệ giá trị và hệ thống tư tưởng nào? Quan hệ quyền lực được thể hiện ra là như thế nào? Ý thức phản kháng cái bẩn, cái tục dường như là một sự giả dối, vì ở đây, sự phản kháng cũng chính là hình thức thể hiện của sự thuần phục. Mặt khác, những từ ngữ bị phản kháng ấy phải chăng là một kiểu xâm phạm đến phụ nữ, nên vì thế mà cấm kỵ? Nhưng trên thực tế thì chắc chắn rằng, đó không thể là một kiểu xâm phạm, đó không phải là những nơi có thể bị xâm phạm (giá trị giới tính, sinh thực khí, vai trò của người mẹ), mà đó chính là sự hạn định và sự thể hiện của phụ quyền, cơ hồ như hoàn toàn không phải là kết quả từ sự tự cảm nhận của phụ nữ.
Sự phát triển và thâm nhập của văn hóa học vào nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn ngày càng sâu sắc, làm cho mọi người càng thức nhận vai trò và sự gắn kết của văn hóa với văn học vốn đã có từ bản chất đến nay càng sâu sắc và không thể chia tách.
Cơ sở tự nhiên - xã hội của sự hình thành văn hóa sinh thái - nhân văn là phương thức sản xuất xã hội, năng lực tư duy, nhận thức của con người và hoạt động thực tiễn của nó. Từ cội nguồn này, sự phát triển của văn hóa sinh thái - nhân văn có thể chia ra thành những nấc thang lịch sử: Giai đoạn văn hoá sinh thái - nhân văn có tính thần thoại và tính thống nhất. Giai đoạn văn hóa sinh thái nhân văn có tính duy lý và duy tình. Giai đoạn văn hóa sinh thái - nhân văn mang tính kết hợp Đông Tây (giai đoạn hiện đại).
Hiện nay, trên tinh thần đổi mới nhận thức về tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta đã nhận đinh tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, trong tôn giáo có những giá trị tốt đẹp về đạo đức, văn hóa. Vấn đề đạo đức tôn giáo đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Các giáo lý tôn giáo đều chứa đựng một số giá trị đạo đức nhân bản rất hữu ích cho việc xây dựng nền đạo đức mới và nhân cách con người Việt Nam hiện nay. Giá trị lớn nhất của đạo đức tôn giáo là góp phần duy trì đạo đức xã hội, hoàn thiện nhân cách cá nhân, hướng con người đến Chân - Thiện - Mỹ. Tuy nhiên, đạo đức tôn giáo cũng còn nhiều yếu tố tiêu cực, nó hướng con người đến hạnh phúc hư ảo và làm mất tính chủ động, sáng tạo của con người. Vấn đề đặt ra là, cần nhận điện đúng vai trò của đạo đức tôn giáo nhằm phát huy những giá trị tốt đẹp của tôn giáo và hạn chê những tác động tiêu cực của nó đối với việc hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam hiện nay.
Khó có thể định nghĩa tâm linh là gì, song có thể khẳng định chỉ có con người mới có được khái niệm về tâm linh. Khái niệm về tâm linh cũng chỉ có ở những người mà hoạt động của hệ thần kinh bình thường, tuy người đó có thể bị khuyết tật về một cơ quan nào đó như mắt, chân tay hay một cơ quan giác quan nào đó bị tổn thương, trừ các bệnh lý tổn thương thực thể hay chức phận tại vỏ não. Ví dụ: các bệnh về cấu trúc não bộ hoặc rối loạn chức năng như não úng thủy, bệnh Down, bệnh Alzheimer người già, bệnh tâm thần phân liệt… những người mắc các bệnh này sẽ không có đầy đủ ý niệm về tâm linh, có chăng chỉ là ảo giác không hiện thực.