Bài này tôi viết cũng khá lâu (gần 10 năm). Hôm nay xem lại thư mục của mình mới thấy nó, và gửi lên đây để các bạn cùng đọc. Tôi chưa gửi bài này cho ai cả. Có lẽ tôi sẽ gửi cho Tuần Việt Nam của Vietnamnet.
Bài viết đề cập đến mối quan hệ giữa 3 phạm trù: tự do, văn hoá và phát triển. Sự gặp gỡ giữa ba phạm trù này là ở chỗ, chúng phát triển những năng lực của con người. Chúng như là sự hiện thực hoá khát vọng hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ của con người. Tự do là nhận thức được cái tất yếu để tự quyết định, nghĩa là nó hướng đến cái chân. Phát triển kinh tế - xã hội là phát triển con người, nghĩa là hướng đến cái thiện. Cái mỹ - phạm trù còn lại thuộc về văn hoá và nó bao quát cả chân lẫn thiện. Tất cả quy tụ trong chủ nghĩa cộng sản, Cái mà C.Mác và Ph.Ăng ghen đồng nhất với văn hoá hay sau này, V.I.Lê nin đồng nhất với văn hoá vô sản.
Francis Fukuyama. Samuel Huntington, 1927-2008. – “The American Interest
Online”. December 29th, 2008.
Người Dịch: Dương Đỗ
Samuel P. Huntington, học giả nổi tiếng người
Mỹ, GS. Đại học Harvard, Chủ tịch Viện Hàn lâm Harvard nghiên cứu về quốc
tế và khu vực, Giám đốc Trung tâm Quan hệ quốc tế và Chủ tịch Khoa nghiên cứu về
chính phủ (Mỹ), vừa qua đời ngày 24/12/2008, hưởng thọ 81 tuổi. Ngay sau khi
qua đời, Huntington đã được Francis Fukuyama, một học giả nổi tiếng không kém,
đánh giá là “trong thời gian tới đây, chúng ta sẽ chẳng thấy được một người nào
như ông”.
Với bạn
đọc Việt Nam, Samuel P. Huntington không phải là người xa lạ. Từ giữa những năm
1990, qua các bản dịch của Viện Thông tin KHXH, nhiều bài báo “Sự đụng độ của
các nền văn minh” mà ông công bố lần đầu trên tờ Foreign Affairs số 3/1993, đã
được biết đến trước khi sự kiện 11/9/2001 làm cho tư tưởng của Huntington trở
thành “hiện tượng”.
Samuel
P. Huntington sinh năm 1927, lấy bằng tiến sĩ tại Đại học Harvard năm 1951. Những
năm 1977 và 1978, ông làm việc ở Nhà trắng với tư cách là điều phối viên của Dự
án an ninh cho Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ. Trong hai năm 1986-1987, ông là Chủ
tịch Hội Khoa học Chính trị Mỹ. Ông còn là người sáng lập và là Tổng Biên tập
trong bảy năm liền của tờ Tạp chí Foreign Policy. Là nhà nghiên cứu về chính
trị và chiến lược, Huntington quan tâm nhiều đến các vấn đề an ninh quốc gia,
dân chủ và sự phát triển ở những nước kém phát triển, văn hoá trong chính trị
và bản sắc dân tộc của nước Mỹ…
Mặc dù
không ít người vẫn bất đồng với quan điểm của Huntington, nhưng mới chỉ ít ngày
từ lúc qua đời, về ông, đã có rất nhiều bài viết với thái độ ngưỡng mộ và khâm
phục. Bài viết của Francis Fukuyama mà chúng tôi giới thiệu dưới đây có lẽ là
bài sớm nhất đánh giá về thân thế và tư tưởng của Huntington.
Chọn
đánh giá của Francis Fukuyama, GS. Đại học Johns Hopkins (Mỹ), học giả nổi tiếng
khắp thế giới với tác phẩm “Sự tận cùng của lịch sử và con người cuối cùng” (The End of History
and the Last Man, 1992), một cuốn sách đã nhận được nhiều giải thưởng quốc tế,
được xuất bản tại hơn 20 nước trên thế giới, chúng tôi nghĩ rằng, đánh giá đó
là đủ tin cậy.
Giới thiệu của Tạp chí “Triết học”: Khi đưa ra và luận giải một số quan niệm đang nhận được những ý kiến đánh giá, bình phẩm khác nhau về vị trí và vai trò của triết học trong kỷ nguyên tòan cầu của một số nhà triết học có tên tuổi trên diễn đàn triết học quốc tế như J. Habermas, S.P. Huntington, W.L. McBride, T.Friedman, E.Le Boucher,… trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những suy tư của mình về diện mạo của triết học trong kỷ nguyên tòan cầu. Đó là: Tại sao triết học, trong khi vẫn có đầy đủ uy tín của mình trên diễn đàn quốc tế, lại kém đi vào cuộc sống đến thế? Một khi các nhà triết học không biết cách ngăn chặn cái ác, cái xấu thì khi đó, tiếng nói nhân đạo, những định hướng giá trị sáng suốt sẽ ra sao? Liệu triết học trong kỷ nguyên tòan cầu có đủ khôn khéo để nhắc nhở lòai người tôn trọng những giá trị quý báu của những bài học đã từng phải trả giá trong quá khứ? Trong một “thế giới phẳng” (thuật ngữ do T. Friedman đưa ra) triết học sẽ mang diện mạo nào?
Bài viết
sử dụng cách nhìn nhân học và xã hội học về văn hóa để phân tích một số vấn đề
văn hóa cơ bản hiện nay ở Việt Nam trong quá trình trở nên hiện đại với bối
cảnh áp lực toàn cầu hóa. Nếu văn hóa bao gồm một hệ thống tri thức nhất định,
thì để nhanh chóng bắt kịp thế giới, hiện đại hóa ở Việt Nam phải bao
gồm việc tiếp thu một cách sáng tạo hệ tri thức quốc tế cập nhật. Việt Nam cũng
cần xây dựng một hệ giá trị và hệ chuẩn mực của tính hiện đại, trong đó luật
pháp là hình thái cốt lõi. Là lối sống, văn hóa sẽ là rất khó đồng thời là rất
dễ để biến đổi. Nhờ vậy, một xã hội mới có thể vừa bắt kịp thời đại vừa giữ gìn
được bản sắc của mình. Mọi quá trình hiện đại hóa cho đến nay đều đòi hỏi một
điều kiện tiên quyết, đó là một sự đột khởi về văn hóa. Đổi Mới là một sự đột
phá về mặt văn hóa-xã hội, song để tiến nhanh đến một xã hội công nghiệp hóa
đầy đủ, xã hội Việt Nam
vẫn cần một tinh thần quật khởi mạnh mẽ.
Công nghệ và thế giới “phẳng” làm giảm thiểu sự khác biệt giữa các nước về truy cập thông tin và khả năng sản xuất hàng hóa. Hơn kém nhau bây giờ là: dùng thông tin đó để sáng tạo ra cái gì có giá trị nhất và thiết kế ra sản phẩm mới có giá trị vượt trội so với hàng hóa thông thường. Bị cạnh tranh bởi các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ, Mỹ và các nước phát triển truy tìm và phát huy tối đa thế mạnh cốt lõi của họ đó là tính sáng tạo.
Giao lưu văn hóa (GLVH) trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa đòi hỏi bản lĩnh văn hóa Việt Nam. Bản lĩnh, bản sắc dân tộc là cội rễ của GLVH. Trong mọi hoạt động văn hóa, Đảng và Nhà nước ta bao giờ cũng nêu cao định đề biện chứng: Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
“Phản
ứng bản sắc” là cách thức đáp trả lại những tác động từ bên ngoài đến bản
sắc của một dân tộc, những tác động làm biến dạng nó, hay nói khác đi, làm mất
“nguyên bản” của nó. Phản
ứng có thể diễn ra khác nhau, phụ thuộc vào điều
kiện và khả năng của chủ thể tiếp nhậnvà xử lí các giá trị du nhập từ bên ngoài.
Sự cuồng loạn trầm trọng trong đời sống xã hội hiện nay là vì sự mất thăng bằng giữa các chế độ xã hội và mục đích quốc tế. Thiên nhiên đã tạo cho nhiều chủng tộc những ngôn ngữ, tôn giáo và truyền thống xã hội khác biệt, và đặt trước loài người nhiệm vụ kiến thiết một nền trật tự trong thế giới nhân loại và tìm ra một lối sống nhờ đó những chủng tộc khác nhau có thể chung sống hòa bình mà không dựa vào vũ lực để giải quyết những bất đồng giữa họ. Thế giới không phải là một bãi chiến để các quốc gia tranh giành xâu xé nhau mà là một nền cộng hòa của các dân tộc dị biệt hợp tác với nhau trong một nỗ lực xây dựng để hoàn thành cái sứ mạng cao cả là đem lại cuộc sống hòa bình và thịnh vượng cho tất cả mọi người.