Vanhoahoc.edu.vn. Lễ hội đền Lảnh Giang 2009
được thực hiện với sự phối hợp của Viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam do
TS Bùi Quang Thắng làm Tổng đạo diễn đã gây nên những luồng dư luận trái chiều. Bên cạnh sự hào hứng do có những yếu tố mới lạ của nghệ thuật đương đại
(body-art, video-art), là sự phản đối khá gay gắt của một số nhà nghiên
cứu. Đây là một tín hiệu đáng mừng trong quá trình bảo tồn và phát triển của văn hóa nước nhà.
TS Bùi Quang Thắng (Tổng đạo diễn chương trình): "Có những cái đời trước chưa làm (bởi
những giới hạn về kinh tế, công nghệ…) thì đời sau có thể bổ sung thêm. Đây là
xu hướng mới của các nước phát triển trên thế giới trong lĩnh vực bảo tồn, phát
huy giá trị các di sản văn hoá".
Nguyễn Tiến:“vấn đề đưa màu
sắc đương đại vào lễ hội này đâu phải gượng ép! Điều quan trọng là chúng ta cần
phải xem xem khi đưa yếu tố mới vào lễ hội truyền thống thì phản ứng của người
dân là thế nào và làm lễ hội cho ai...”
PGS.TS Nguyễn Văn Huy:
“Nguyên tắc đầu tiên trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật
thể là tôn trọng những gì chủ thể văn hóa nắm giữ chứ không phải là sáng tạo ra
những giá trị mới, nhất là không xuất phát từ nhu cầu nội tại của họ.”
GS.TS Ngô Đức Thịnh:
“những gì diễn ra lần này hoàn toàn là sự sân khấu hóa, đi ngược lại nguyên tắc
của lễ hội dân gian. Đây là sự lắp ghép rất gượng ép của trống phách, cờ quạt,
nghệ thuật đương đại (body-art, video-art), những màn múa tập thể... không tạo
ra một chỉnh thể, không có tư tưởng rõ ràng.”
Cảm nhận trong Lễ hội Lảnh Giang năm 2009
1.
Vai trò của người dân
Hàng năm cứ vào rạng sáng ngày mồng Hai tháng Sáu là ngày Khai hội Lảnh
Giang. Lễ hội này do người dân trong xa Mộc Nam tổ chức. Năm nay (2009) có sự
phối hợp của Viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam mà Tổng đạo diễn là TS
Bùi Quang Thắng thì trên một phương diện nào đó, lễ hội được khoác lên mình một
“màu sắc” mới.
Vậy, với màu sắc mới như thế liệu người dân ở đây có đồng tình hưởng ứng? Với
kinh nghiệm của mình, TS Bùi Quang Thắng đã cho không chỉ lãnh đạo huyện Duy
Tiên, Hà Nam nói chung mà chính người dân nơi đây thấy được vai trò và tầm quan
trọng của sự đổi mới khi đưa vào lễ hội truyền thống. Một mặt thì các yếu tố
truyền thống vẫn được diễn ra theo đúng trình tự vốn có của nó.
Đó là việc các cụ tổ chức các lễ thức liên quan đến việc Thánh: Lễ Cáo yết,
rước kiệu, tế tại sân đền…Bên cạnh đó, các yếu tố văn hoá đương đại cũng được
đưa vào một cách khéo léo khiến người xem hội không thấy bị khiên cưỡng. Các yếu
tố đương đại mà báo giới cũng như người xem hội hồi hộp chờ đợi như: body
painting (vẽ trên cơ thể người), sử dụng hiệu ứng âm thanh, ánh sáng trong đên
khai hội, ánh sáng trong mỗi vấn hầu Thánh.
Quả thực, không dễ dàng khi đưa yếu tố được coi là mới vào một lễ hội truyền
thống. Chính vậy mà có các luồng dư luận khác nhau về hiện tượng này. Với tư
cách là một người quan sát, tham dự lễ hội và nhìn dưới con mắt nghiên cứu thì
tôi nhận thấy một số vấn đề sau:
- Quy mô lễ hội lớn;
- Thành phần tham gia trực tiếp vào các hoạt động liên quan đông, nhưng
quan trọng hơn họ chính là những người nông dân vừa hôm qua cần cật nai lưng
ngoài đồng và rồi khi lễ hội kết thúc họ lại bắt tay ngay vào việc đồng áng.
Quá trình phỏng vấn các đối tượng đó thì họ cảm thấy tự hào khi có “chân” trong
đoàn rước hoặc được phân công vào mọt nhiệm vụ cụ thể nào đó.
- Cách bố trí sắp xếp các hoạt động chính cũng như các hoạt động phụ trợ hợp
lý không chỉ về mặt không gian mà cả về mặt thời gian.
- Công tác an ninh trật tự được phối hợp thực hiện rất tốt.
- Ý thức bảo vệ môi trường của người dân tham gia lễ hội cũng có vẻ như tốt
hơn nhiều lễ hội mà tôi đã có cơ hội tham dự.
Việc này không rõ BTC lễ hội có đặt lên bàn bạc và giáo dục không nhưng thực
tế cho thấy vấn đề rác bừa bãi trong lễ hội là không có. Phải chăng người dân
đã tự ý thức được việc làm này???!
Từ chị bán hàng nước gần cửa đền đến các cụ ông ngồi viết sớ ngay lối vào
cùng đều tỏ rõ ra mặt sự vui mừng khi làng vào hội. Tôi đoán chắc một phần là họ
nhận thấy lợi ích của bản thân mà lễ hội mang đến cho bản thân.
Chưa hết, các cháu học sinh bậc Tiểu học trong xã cũng được vinh dự tham
gia vào lễ hội với công việc rước cờ, chúng hồ hởi tập luyện (mặc dù mấy hôm đó
thời tiết rất nắng nóng) rồi ngay ngắn trong đoàn rước (chẳng khác nào những
người đã có kinh nghiệm trong việc này).
Rồi đến các chị phụ nữ, anh thanh niên, trung niên sẵn sàng than gia vào
các tiết mục diễn xướng hầu Thánh tập thế (trong đêm Khai hội).
Đến khi diễn ra việc hầu đồng thì người dân ngồi kín xung quanh chiếu hầu
chăm chú theo dõi từng động tác, cử chỉ của cô đồng khi Thánh nhập. Đôi lúc họ
còn hoà nhập vào không khí như một cuộc diễn xướng tập thể. Chính những lúc như
thế mà họ không còn có cảm giác về thân phận nghèo khó hay địa vị xã hội. Dù là
nông dân hay nhũng người có trình độ học vấn cao khi tham gia vào hoạt động này
thì ranh giới thân phận là không còn nữa (cảm nhận của tôi). Trong giá hầu lúc
gần 23h ngày 23/7 đã có 2 người phụ nữ bị “ốp đồng” hay “say đồng” khi mà họ
cùng hưởng ứng điệu múa của cô đồng…71 tuổi đến từ Hà Nội trong giá Ông Hoàng
Bơ. Hỏi ra, tôi được biết hai người phụ nữ này có thân phận hoàn toàn khác
nhau: một là nông dân trong thôn Yên Lạc; một chị kia là cán bộ nhà nước đến từ
Hà Nội. Tuy nhiên, họ có chung một điểm là “thăng hoa” trong lúc tham dự giá hầu.
Những tưởng chỉ có người phụ nữ là dễ bị nhập đồng hay Thánh ốp nhưng sự thật
không phải vậy. Trong lễ hội Lảnh Giang, sự có mặt của nhóm thành viên trên diễn
đàn trang web với tên miền photo.vn cũng “ngất ngây” theo điệu nhạc của cung
văn và sự trình diễn của cô đồng không kém phụ nữ là bao. Cho dù trên người của
anh ta có đeo dụng cụ tác nghiệp khá nặng nhưng anh ta cũng bị “cuốn” theo
không khí chung, rồi biết bao người khi tham dự cũng có cảm giác thăng hoa
không kém. Chỉ khi chứng kiến tại chỗ mới cảm nhận được điều này.
2. Yếu tố mới
trong lễ hội
Hầu đồng không phải là hiện tượng văn hoá mới mà theo kết quả nghiên cứu của
GS.TS Ngô Đức Thịnh thì loại hình diễn xướng này có từ thế kỷ XVI. Trải qua thời
gian và vào mỗi một thời kỳ xã hội khác nhau thì chúng phản ánh những nét đặc
thù riêng biệt. Tuy nhiên cũng có những yếu tố được gọi là hằng số văn hoá. Những
yếu tố được coi là hằng số văn hoá trong tín ngưỡng thờ Mẫu như màu sắc trang
phục biểu tượng cho mỗi phủ (tam phủ hay tứ phủ) hay việc mà cô đồng giơ tay
báo hiệu là Mẫu đệ Nhất, đệ Nhị hay đệ Tam nhập đồng (trong hầu tráng mạn)… Sự
khác biệt thể hiện ở trang phục ngày một cầu kỳ, tinh xảo, lễ vật ngày càng
phong phú và đa dạng hay trong lễ hội Lảnh Giang có việc sử dụng kết hợp âm
thanh và ánh sáng hiện đại vào trong nghi thức hầu đồng.
TS. Bùi Quang Thắng - Tổng đạo diễn lễ hội đã khéo léo trong việc đưa ánh
sáng hiện đại và dùng các công nghệ hiện đại để khuyếch đại âm thanh khiến nghi
lễ thêm trang trọng. đã có không ít ý kiến cho rằng nếu sử dụng chất liệu hiện
đại vào nghi lễ truyền thống sẽ làm mất đi chất linh thiêng. Ở đây, không như vậy
mà nhờ có ánh sáng hiện đại âm thanh đủ lớn khiến cho buổi lễ có phần trang trọng
và tăng vẻ uy nghi huyền ảo hơn.
Ánh sáng hiện đại được sử dụng ở đây không phải thứ ánh sáng laze lập loè
mà sử dụng một cách hiệu quả khiến cho nó có tác dụng kích thích sự hưng phấn
cho cô đồng mỗi khi Thánh nhập. Tiếng nhạc, câu ca rồi ánh sáng, sự cộng cảm của
người xem đều là yếu tố góp phần cho cô đồng nhanh đạt tới trạng thái ngây ngất,
thăng hoa.
Bên cạnh các yếu tố trên, trong buổi hầu Thánh thì tứ trụ cũng được tổng đạo
diễn “gửi” vào đó hình ảnh của các linh vật thông qua nghệ thuật hội hoạ - body
painting. Ngoài 18 chàng trai trong xã tham gia nội dung body painting sẽ trực
tiếp trở thành các tác phẩm sống trong lễ hội - rước chấp kích, bát bửu còn có
04 chàng trai ở vị trí tứ trụ quanh cô đồng cũng được khoác lên mình hình ảnh
những linh vật. Họ phấn khởi không kém 18 chàng lực điền
kia.
Cuộc sống của họ vốn thuần phát,
chân chất quanh năm ngày tháng chỉ quen với một màu xám của bùn thì hôm nay họ
lại được làm quen với màu sắc rực rỡ. Thật chẳng ai giống ai, dưới con mắt của
mỗi hoạ sỹ, họ là một tác phẩm hoàn mỹ. Mỗi ngày trong thời gian diễn ra lễ hội,
họ là một tác phẩm nghệ thuật. Rồi mai đây, giã đám họ lại trở về với mảnh ruộng,
cây lúa, sớm ngày lo việc cấy cày.
Có ai đó đã cho rằng việc đưa yếu
tố văn hoá đương đại vào lễ hội truyền thống mang tính gượng ép hay khi “hội”
to hơn lễ. Với tôi thì vấn đề đưa màu sắc đương đại vào lễ hội này đâu phải gượng
ép! Hơn thế, phần lễ vẫn diễn ra đúng lệ tục, trang nghiêm thành kính đối với đức
Thánh.Điều quan trọng là chúng ta cần
phải xem xem khi đưa yếu tố mới vào lễ hội truyền thống thì phản ứng của người
dân là thế nào và làm lễ hội cho ai mới là vấn đề cần quan tâm.
***
Khi lễ hội kết thúc có lẽ cũng là lúc mà “cánh cửa” bình luận được mở rộng
ra. Chắc chắn những ai quan tâm đến loại hình lễ hội này sẽ chú ý lắng nghe các
luồng thông tin khác nhau bàn về lễ hội Lảnh Giang năm nay.
Hơn thế, tôi mong muốn nhóm của TS. Bùi Quang Thắng sau 1 tháng lễ hội kết
thúc sẽ tập hợp được đầy đủ các bài viết và bức ảnh chụp về lễ hội này (trên
báo giấy cũng như báo điện tử) để in thành một tập sách. Nó sẽ có cả giá trị về
mặt tư liệu và vừa có giá trị cho “nhà đền” quảng bá hình ảnh của mình.
Bài: Nguyễn Tiến. Ảnh:
viettems.com; Photo.vn
PGS.TS. Nguyễn Văn Huy:
Không được áp đặt 'những yếu tố bên ngoài' vào lễ hội
PGS.TS. Nguyễn Văn Huy,
nguyên Giám đốc Bảo tàng dân tộc học, trả lời phỏng vấn của Viennam.net do
Khánh Linh thực hiện:
Trong lễ hội đền Lảnh Giang (Duy Tiên, Hà Nam), Viện Văn
hóa nghệ thuật Việt Nam thử nghiệm việc đưa nghệ thuật đương đại vào diễn xướng
tái hiện huyền tích các vị thánh được thờ ở đền, và diễn xướng hầu thánh. PGS
đánh giá thế nào về thử nghiệm này?
- Tôi có đọc trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng những ngày gần đây
nói về lễ hội đền Lảnh Giang. Càng xem càng thấy ngỡ ngàng. Gọi thế nào được nhỉ:
một cuộc cách mạng trong lễ hội ư? Thật quá mạnh dạn, quá mới ngoài sức tưởng
tượng của nhiều người. Tâm điểm ở đây là vấn đề đưa nghệ thuật đương đại với những
dàn múa được các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp – đạo diễn dàn dựng, với những
nhân vật thần thánh hay những người hầu dâng được các họa sĩ đương đại vẽ lên
thân thể những thanh niên tình nguyện trong làng, vào các hoạt động tâm linh,
vào nghi lễ hầu đồng như một phần của lễ hội.
Tất cả những ý tưởng này đều xuất phát từ một nhóm các nhà nghiên cứu - đạo
diễn. Đó là nguyện vọng từ bên ngoài cộng đồng là chủ thể của những nghi lễ
này. Tôi có cảm tưởng nghệ thuật đương đại kiểu này, nghệ thuật vẽ lên thân thể
như đã làm là hoàn toàn du nhập từ bên ngoài vào, nó rất hiện đại, rất Âu-Mỹ
nhưng không thể thích hợp được khi kết hợp trong những nghi lễ mang tính tâm
linh, thực hành tín ngưỡng dân gian.
Người Việt xưa có tục xăm mình, cũng vẽ hình giao long lên người nhưng chắc
không vẽ kiểu này. Người dân có thể hồ hởi ban đầu vì sự hiếu kỳ, vì sự mới lạ.
Nhưng cần suy ngẫm cho kỹ. Xét về phương diện bảo tồn văn hóa phi vật thể, tôi
quan tâm và trân trọng nhiều hơn những gì tự cộng đồng sáng tạo, những cái mới
được nảy sinh từ nhu cầu thực chất của cộng đồng và phù hợp với điều kiện vật
chất và tinh thần của cộng đồng.
TS Bùi Quang Thắng (Tổng đạo diễn chương trình) đã lý giải
về thử nghiệm này rằng: "Muốn mỗi lễ hội có bản sắc riêng của mình, mỗi thời
đại phải có sự bổ sung, sáng tạo thêm. Có những cái đời trước chưa làm (bởi những
giới hạn về kinh tế, công nghệ…) thì đời sau có thể bổ sung thêm. Đây là xu hướng
mới của các nước phát triển trên thế giới trong lĩnh vực bảo tồn, phát huy giá
trị các di sản văn hoá". Ông có đồng tình với TS Thắng không? Liệu đưa nghệ
thuật đương đại vào lễ hội có phải là sự bổ sung, sáng tạo để bảo tồn, phát huy
lễ hội truyền thống?
- Tôi nghĩ về một loạt câu hỏi rất quan trọng cần phải trả lời là bản sắc của
mỗi lễ hội là của ai và do ai sáng tạo ra? Người ta có cần cố tạo ra bản sắc
không hay cái quan trọng hơn là nội dung của các hoạt động lễ hội. Chính từ nội
dung sẽ cho người ta biết và hiểu về bản sắc. Hình như chúng ta nói quá nhiều
và quá nhấn mạnh đến bản sắc mà ít chú ý đến cái chính là nội dung của các hoạt
động lễ hội.
Có lẽ chúng ta đều nhất trí với nhau là các giá trị văn hóa không phải bất
biến mà luôn luôn biến đổi, thay đổi theo những điều kiện kinh tế-xã hội ở mỗi
thời kỳ lịch sử khác nhau. Điều quan trọng là xem xét những sự thay đổi đó xuất
phát từ nhu cầu nội tại của các chủ thể văn hóa, có vậy nó mới hài hòa, mới sống
lâu bền được.
Kinh nghiệm nhiều năm qua ở nước ta cho thấy những gì áp đặt từ bên ngoài
vào các sinh hoạt văn hóa ở làng xã, cộng đồng trước sau rồi cũng sẽ bị đẩy ra
ngoài. Cho nên mọi sự bổ sung, sáng tạo nhất là với các hội làng truyền thống,
với các hoạt động tâm linh dứt khoát không được áp đặt từ bên ngoài. Theo tôi
hiểu nguyên tắc đầu tiên trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi
vật thể là tôn trọng những gì chủ thể văn hóa nắm giữ chứ không phải là sáng tạo
ra những giá trị mới, nhất là không xuất phát từ nhu cầu nội tại của họ.
Theo tôi việc đưa nghệ thuật đương đại vào hội làng, vào các hoạt động tâm
linh cần được nghiên cứu thận trọng và có ý tưởng rõ ràng (làm ở đâu, làm đến
đâu, làm đến mức độ nào và làm như thế nào). Không nên lồng ghép mà cần tách lễ
hội và hoạt động tâm linh ra khỏi nghệ thuật đương đại để giữ lấy tính thiêng của
tín ngưỡng. Nghệ thuật đương đại là một lĩnh vực hoạt động nghệ thuật độc lập,
nó có thể lấy ý tưởng từ lễ hội hay bất cứ hoạt động tâm linh nào khác làm nền
tảng cho nội dung tư tưởng hay hình thức chuyển tải của mình.
Nó cần được biểu diễn độc lập như trên các sàn diễn nếu như cộng đồng có
nhu cầu, nhưng tuyệt nhiên không nên lồng ghép các hoạt động này vào với lễ hầu
đồng, một hoạt động tín ngưỡng thuần túy với ý tưởng là tạo nên bản sắc mới cho
lễ hội hay coi đó là xu thế mới trong việc bảo tồn các di sản văn hóa.
Viện Văn hóa nghệ thuật VN khẳng định chỉ "làm mẫu"
lễ hội trong năm nay, còn từ năm sau sẽ để người dân lặp lại đúng theo mô hình
này (để lại các video clip, chỉ chỗ thuê trang phục...). Nếu những người dân -
chủ nhân của lễ hội cảm thấy "hào hứng" với thử nghiệm được các nhà
hoạt động văn hóa chuyên nghiệp "áp đặt" cho họ thì đây có phải tín
hiệu tốt không? Ta có nên phát huy cách làm này cho các lễ hội khác không?
- Chúng ta phải rất cảnh giác với
sự “hào hứng” nhưvậy vì có nhiều kiểu
“hào hứng” với những nguyên nhân rất khác nhau. Người ta rất dễ háo hức với cái
mới như “gà đua tiếng gáy”. Chẳng hạn như từ chương trình “làng vui chơi, làng
ca hát” trên VTV với các kiểu thi đố khác nhau về văn hóa như gói bánh chưng
thi, giã gạo thi, đan thi, nặn gốm thi… đã trở thành một nét văn hóa đương đại
trong các ngày hội văn hóa ở nông thôn khắp từ nam đến bắc mà tôi cho là một sự
đón nhận cần phải xem lại, vì nó cào bằng văn hóa, làm mất đi những nét riêng
biệt của mỗi ngày hội. Nó như một sự “áp đặt” qua phương tiện truyền thông.
Một sự “hào hứng” cũng có tính áp
đặt khác được nhìn thấy ở hội Đền Trần Thương trong tương lai. Trên web của Viện
Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam
có viết “Để chuẩn bị cho lễ hội này, TS Thắng cất công tìm được 10 người có khả
năng xiên lình và một người đi được trên lưỡi cày nung đỏ. "Đền Trần
Thương phải đồng ý đưa những màn trình diễn hầu thánh này vào tôi mới đồng ý
làm. Có như thế mới có khách du lịch, mới có hương khói cho các ông" v.v..
Những điều kiện kiểu như thế này sẽ làm mất đi tính dân dã, dân chủ của các hội
làng, không còn tính sáng tạo của các chủ thể văn hóa nữa.
Vì là “thử nghiệm” nên chúng ta cần
thời gian để chờ xem phản ứng của xã hội, của cộng đồng như thế nào. Chúng ta
cũng cần đánh giá một số thử nghiệm khác của viện này đã làm mấy năm qua xem hiệu
quả đến đâu, được cái gì và chưa được cái gì. Đặc biệt cần phân biệt, không nên
lẫn lộn, hòa đồng giữa sân khấu hóa biểu diễn và các hoạt động thuần túy tâm
linh. Đó là vấn đề lý thuyết cần phải giải quyết hết sức rõ ràng nhưng chắc
không phải dễ thống nhất giữa các nhà khoa học và văn hóa trong quá trình bảo tồn
và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể với một quá trình khác là hiện
đại hóa và toàn cầu hóa.
GS.TS Ngô Đức Thịnh:
Cách tân nhưng không được làm tha hoá lễ hội
GS.TS Ngô Đức Thịnh,
nguyên Viện trưởng Viện Văn hoá dân gian, trả lời phỏng vấn của Viennam.net do
Khánh Linh thực hiện:
Tôi không "cực đoan" đến
mức phản đối việc đổi mới nghệ thuật truyền thống, ngay cả khi có liên quan đến
tín ngưỡng. Truyền thống cũng phải vận động, phải được cập nhật để "tìm đường"
vào xã hội đương đại dù chúng ta có tác động đến nó hay không.
Đạo Mẫu là tín ngưỡng có độ
"mở" rất lớn, nó tiếp nhận, bổ sung nhiều yếu tố mới suốt từ thế kỷ
16 đến nay. Lên đồng cũng vậy, kiểu lên đồng ngày xưa ở các vùng thôn quê rất
khác với kiểu lên đồng bị đô thị hóa bởi lớp người giàu có tiếp nhận và biến đổi
nó như chúng ta đang chứng kiến hiện nay. Sự thay đổi thể hiện rõ nhất ở trang
phục, múa, hát, các đồ lễ v.v...
Vào những năm 90 thế kỷ trước,
chính chúng tôi đã có ý định thử nghiệm đưa một số giá đồng lên sân khấu nhưng
không thành công: nó còn sống sượng quá ! Sau này, tự giới nghệ thuật muốn đưa
các giá đồng lên sân khấu thì lại khá ổn và được chấp nhận. Lên đồng lúc này đã
được đưa ra khỏi môi trường tín ngưỡng (tuy không phải dứt bỏ hoàn toàn). Đó
cũng là một thử nghiệm "cách tân".
Tuy nhiên, biến đổi hay tự làm mới
thì cũng phải giữ được biểu tượng cơ bản của văn hóa chứ.Còn thử nghiệm ở lễ hội đền Lảnh Giang lần
này có những khía cạnh không thể chấp nhận.
Thứ nhất, không thể mang lên đồng
ra một quảng trường, tự dựng lên một bàn thờ như thế. Kể cả khi "hội Lảnh
Giang" trước đây có những giá đồng thì tính nguyên gốc của nó có như thế
không? Tôi tin, lễ hội Lảnh Giang cũng như các lễ hội đạo Mẫu thì sinh hoạt cơ
bản phải diễn ra trong không gian của đền, phủ. Còn những gì diễn ra lần này
hoàn toàn là sự sân khấu hóa, đi ngược lại nguyên tắc của lễ hội dân gian. Đây là
sự lắp ghép rất gượng ép của trống phách, cờ quạt, nghệ thuật đương đại
(body-art, video-art), những màn múa tập thể... không tạo ra một chỉnh thể,
không có tư tưởng rõ ràng.
Bản thân tôi đã chứng kiến trống
phách, cờ quạt ở khắp các lễ hội từ Lam Kinh (Thanh Hóa), quan họ Làng Diềm (Bắc
Ninh), Kiếp Bạc (Hải Dương)... Văn hóa không phải là sự sao chép, áp đặt, đồng
loạt. Trong khi bản thân cốt lõi của lễ hội Lảnh Giang là gì lại không thể hiện
được?
Có thể bản thân những ông đồng,
bà đồng tham gia cũng "thích" vì sau một thời kỳ dài phải hoạt động
“bí mật”, nay được trình diện công khai trước công chúng. Nhưng cả hai màn lên
đồng đều là sự biến dạng đến mức khó nhận ra, cả khi diễn ra ở sân khấu trên hồ
nước lẫn khi lên đồng trên màn hình video - art sau khi rước vào trong đền.
Tính linh thiêng cũng như tinh thần của nghi thức lên đồng đã bị vứt bỏ, nhường
chỗ cho sự lắp ghép những thứ hào nhoáng, thỏa mãn sự tò mò mới lạ của người
nông dân chưa có cơ hội tiếp xúc.
Lên đồng là nghi lễ của cộng đồng
con nhang đệ tử hướng về các vị thần Tam phủ, Tứ phủ của họ, là môi trường giao
tiếp với thần linh... Trong văn hóa truyền thống thì không cần mang lên sân khấu
mặt nước 3 con rắn một cách lộ liễu như vậy. Chính thông qua huyền thoại và lời
hát để kích thích sự gợi cảm, trí tưởng tượng, tạo ra cảm giác bí ẩn của tâm
linh.
Sự biến đổi của nghi lễ lên đồng
sẽ được chấp nhận nếu bản thân chủ thể cảm thấy muốn thay đổi, chứ không phải
là sự áp đặt gượng ép. Đạo Mẫu tôn vinh cái đẹp, chứ không đưa những cái quái gở
vào. Nếu chúng ta mang những hình ảnh của lễ hội này đưa cho UNESCO thì họ sẽ
nghĩ thế nào về văn hóa truyền thống của ta? Lên đồng có còn là “bảo tàng sống
của văn hóa truyền thống” như nhận định của các chuyên gia về văn hoá phi vật
thể của UNESCO nữa hay không?
Thử nghiệm này càng đáng trách vì
nó xuất phát từ một Viện nghiên cứu văn hóa. Cả loạt lễ hội đã bị biến dạng
theo môtýp này (Lễ hội quan họ Làng Diềm, lễ hội Lam Kinh...). Viện nghiên cứu
mà lại đưa ra những thứ kỳ quái, đánh mất tính thiêng của một nghi lễ tín ngưỡng
sao?
Chúng ta không phản đối sự thay đổi,
cách tân, nhưng không chấp nhận sự tha hóa, làm biến dạng các nguyên tắc văn
hóa như thế này.