Nguyên Ngọc. Nhiệt đới buồn: Lời cảnh báo vẫn nóng sau nửa thế kỷ
29/11/2009
Nguyên Ngọc. Nhiệt đới buồn: Lời cảnh báo vẫn nóng sau nửa thế kỷ
NHIỆT ĐỚI BUỒN:
LỜI CẢNH BÁO VẪN NÓNG
SAU NỬA THẾ KỶ
NGUYÊN
NGỌC
Có
thể nói không quá đáng, việc xuất bản tác phẩm Nhiệt đới buồn của Claude Lévi-Strauss bằng tiếng Việt là một sự
kiện trong đời sống tinh thần của chúng ta.
Triết gia trăm tuổi
Trước đây cuốn Chủng tộc và lịch sử của ông, viết
theo yêu cầu của UNESCO, đã được dịch và in bằng tiếng Việt, cuốn sách rất
mỏng, song đã gây ấn tượng mạnh. Lần này là một trong những tác phẩm quan trọng
và nổi tiếng nhất của ông, một tác phẩm kinh điển về rất nhiều mặt, và thật kỳ
lạ.
Claude Lévi–Strauss là một trong những nhà
nhân học, dân tộc học, một nhà tư tưởng và nhà văn lớn nhất của thế giới trong
nửa cuối thế kỷ 20. Ông sinh năm 1908, cha là hoạ sĩ chân dung, rất thích sưu
tầm những đồ vật quý hiếm. Theo gương cha, cậu bé cũng say mê đi tìm những tác
phẩm nghệ thuật của các dân tộc xa lạ.
Học khoa triết ở đại học Sorbonne, anh thanh niên Claude
gặp và quen thân với những trí tuệ lớn nhất của nước Pháp thời bấy giờ: Simone
de Beauvoir và Merleau-Ponty. Năm 1934, một cuốn sách đọc được tình cờ, cuốn Xã
hội học nguyên thuỷ của Lowie, đã quyết định cả cuộc đời anh: trở thành nhà
dân tộc học.
Năm 1935, được bổ nhiệm giáo sư ở đại học São Paolo, Brazil,
Claude Lévi–Strauss lần đầu tiên có cơ hội tiến hành những
chuyến khảo sát dân tộc học ngắn và viết tác phẩm dân tộc học đầu tay Góp
phần nghiên cứu tổ chức xã hội của người Bororo. Bị gọi về Pháp để tham gia
“cuộc chiến tranh kỳ quặc” vào năm 1939, đến năm 1941 được giải ngũ ông liền
sang Mỹ, dạy ở trường New School for Social Research và viện Cao học New York.
Ông còn sống và làm việc ở Mỹ cho đến năm 1947 với tư cách tuỳ viên văn hoá sứ
quán Pháp.
Trở về Pháp sau đó, Claude Lévi–Strauss
thực sự lao vào sự nghiệp sáng tác phong phú và đồ sộ của mình. Những tác phẩm
quan trọng nhất của ông lần lượt ra đời: Đời sống gia đình của người Anh-
điêng Nambikwara, Cấu trúc sơ đẳng của quan hệ họ hàng, Nhiệt đới buồn, Nhân học cấu trúc, Tín ngưỡng
tô-tem ngày nay, Tư duy man dã, và bộ sách lớn Huyền thoại học
gồm bốn cuốn Cái Sống và cái Chín, Từ Mật ong đến Tro, Về
nguồn gốc các lối ăn, Con người trần trụi, tiếp sau là Con đường
đi của các Mặt nạ, Bản sắc, Gần và Xa…
Nỗi buồn nơi ngã ba
đường
Nhiệt đới buồnchiếm một vị trí đặc biệt trong toàn bộ sự nghiệp mênh
mông của ông. Nó được viết trong năm tháng, từ tháng 12.1954 đến 5.1955, như
một thiên tuỳ bút kỳ lạ, được tuôn ra một mạch liền không dứt, và đến nay, sau
nửa thế kỷ, dường như được khôi phục tính thời sự một cách kỳ diệu.
Thật
khó xếp nó vào thể loại nào. Mở đầu bằng một câu gây sốc “Tôi ghét các chuyến
viễn du và các nhà thám hiểm”, nhưng nó lại là một cuốn du ký, hết sức gợi tò
mò, không thiếu cả những pha phiêu lưu mạo hiểm, đưa chúng ta đến với những
nhóm người ở xa xôi nhất trên hành tinh, còn gần nhất với tình trạng nguyên
thuỷ, sắp và chắc chắn sẽ biến mất – cách nay nửa thế kỷ, nghĩa là nay đã biến
mất hoàn toàn – mà ông là người chứng kiến và được tiếp xúc cuối cùng…
Cũng
có khi, như trên một “tấm thảm bay” – tên một chương trong tác phẩm – ông đưa
ta từ vùng nhiệt đới Nam Mỹ hoang vu, đột ngột đến những thành phố nhân mãn
chen chúc của Ấn Độ và Pakistan, mà ông e sẽ là hình ảnh tương lai của châu Âu;
hay lên tận những vùng biên giới Myanmar, để gặp các nhà sư phi giới tính và
được chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật vừa thô sơ vừa vĩnh cửu, và cũng từ
đó suy nghiệm về ý nghĩa sâu xa của văn hoá và đời sống con người…
Cũng chính ở mặt này, ta nhận ra ở Claude Lévi–Strauss
một nhà văn tài năng. Xin hãy thử đọc lại chương Trên tàu, có lẽ trong
toàn bộ các nền văn học ta từng biết, hiếm có những trang mô tả nào tinh tế
hơn, tuyệt vời hơn về một buổi hoàng hôn trên đại dương.
Cũng có thể nhận ra con mắt soi mói, tinh tế nhiều khi
đến khắt khe của một nhà văn không hề dễ tính, ngắm nhìn và so sánh những đền
đài, chùa chiền của các nền văn minh lớn từng sinh ra, tồn tại và biến đi,
khiến người du khách bỗng như choáng váng khi được đưa qua hàng ngàn vạn năm
biến đổi của thế giới và con người, vừa phù du vừa vĩnh hằng…
Tuy nhiên, bằng một lối viết vừa phóng khoáng vừa chặt
chẽ, đây lại là một công trình khảo sát nhân học, dân tộc học hết sức tỉ mỉ,
khoa học, đến mức mẫu mực.
Những quan sát sắc sảo, tỉnh táo, đặc biệt những phân
tích và so sánh rất nhiều khi đầy tính phát hiện đến bất ngờ, như những phân
tích về các hình vẽ trên cơ thể và trên khuôn mặt của người Caduévo so với các
con bài trên bộ bài tây, sự phản ánh tinh vi của các hình vẽ ấy về cơ cấu đẳng
cấp chặt chẽ đến riết róng trong xã hội này; hoặc những nghiên cứu bất ngờ, thú
vị về chế độ đa thê của các thủ lĩnh ở bộ lạc Nambikwara và Tupi-Kawahib, những
thiết chế thông minh và hiệu quả khác nhau của các xã hội đó, cả đến những cơ
chế kỳ lạ như tục luyến ái đồng tính, để giải quyết những vấn đề nảy sinh do sự
cần thiết của quyền lực tập trung cho chính sự tồn tại của nhóm người; và
thật thú vị, chương Bài học chữ viết, với phát hiện kỳ lạ: chữ viết
chính là công cụ của quyền lực và áp bức!
Từ những quan sát chăm chú, khách quan, tinh tế và thông
minh, có thể thấy rõ cả hiệu quả của phương pháp phân tích cấu trúc luận nhân
học mà ông khởi xướng, Claude Lévi–Strauss
đã chạm đến một vấn đề lớn, sâu xa và lâu dài nhất của xã hội con người: sự
phát sinh, phát triển, chuyển động và suy thoái của các hình thái quyền lực.
Từ
đó đi đến những suy tư lịch sử và triết học không xa và hẳn là tất yếu. Ở
chương Chợ, Claude Lévi–Strauss
nói đến kinh nghiệm của Ấn Độ bốn ngàn năm trước trong việc tìm giải pháp cho
vấn đề một số lượng người quá lớn trên một không gian quá nhỏ, để cho mọi người
đều có thể sống làm người, vậy thì buộc phải làm người theo những cách khác nhau,
tức sáng tạo ra cơ chế đẳng cấp.
Và
ông nói rằng thất bại này của kinh nghiệm Ấn Độ cách nay bốn thiên niên kỷ là
một bi kịch không có lối ra của nhân loại. Khi một số lượng quá đông người phải
sống trên một không gian quá hẹp, thì xã hội tất yếu “tiết ra” sự nô lệ – ông
viết. Chúng ta biết lời cảnh báo nửa thế kỷ trước ấy của Claude Lévi–Strauss đang hiển hiện nóng
bỏng đến chừng nào.
Claude Lévi–Strauss nói đến ba tôn giáo lớn của nhân loại
trong suốt lịch sử: Phật giáo, Hồi giáo, Cơ đốc giáo, sự nối tiếp và tương tác
của những tín ngưỡng lớn ấy, sự hoà hợp đã có thể có giữa phương Đông và phương
Tây qua con đường tinh thần này, mà phương Tây đã đánh mất cơ hội.
Và thật bất ngờ với nhận định này của ông: “Hồi giáo là
phương Tây của phương Đông”, là cái cứng nhắc phương Tây tràn lấn cái mềm mại
uyển chuyển phương Đông, chính nó đã dựng bức tường ngăn trở sự hoà hợp đã có
thể có giữa hai thế giới. Có thể tranh luận về nhận định này của Claude
Lévi–Strauss, nhưng phải công nhận nó vẫn thời sự biết bao.
Càng về cuối tác phẩm, giọng nói của tác giả như càng da
diết, khẩn thiết. Và ông tự hỏi về sứ mệnh và tương lai của nhân học, dân tộc
học, thậm chí qua đó, sứ mệnh của con người. Ông tìm đến Đức Phật. Ông nói đến
sự tan biến giữa hữu nghĩa và vô nghĩa của sự vật mà nhà minh triết vĩ đại của
phương Đông đã nghiệm ra.
Có lẽ có một câu hỏi: Vì sao Claude Lévi–Strauss đặt tên
cho tác phẩm của mình làNhiệt đới buồn?
Quả thật cuốn sách kết thúc trên một âm điệu buồn. Và
không phải chỉ ở miền nhiệt đới, , cho miền nhiệt đới. Nỗi buồn trầm tư của
nhân loại đang đứng trên ngã ba đường, ngoái nhìn lại phía sau, trước một chọn
lựa mất còn, và tự hỏi một cách đau đớn, đồng thời lại vui mừng như một phát
hiện cơ bản: chúng ta đã đi đến chỗ hơn gì tình trạng ban đầu, xa hơn “nơi ta
đã cất bước ra đi”?
Cũng có người gọi Nhiệt đới buồnlà một thiên tự truyện tinh thần, của một con người muốn
tự soi và tự hiểu mình trong đối chiếu với lịch sử toàn nhân loại từ thuở khai
sinh.