V.E. Davidovich. văn hoá dưới con mắt các nhà KHXH và NV
06/02/2010
VĂN HÓA DƯỚICON MẮT
CÁC NHÀ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
GS.TSKH. V.E. Davidovich
В.Е. Давидович. Культура Глазами Социолгов и Гуанитариев.
В Книге: “В Зеркале Философии”. - Феникс. Ростов-на-Дону, 1997, 2007.
HỒSĨ QUÝ, LƯUMINHVĂN, NGUYỄNANHTUẤNdịch
Văn hoá luôn luôn cần đến đối tác, người nhận, người đối thoại,
người kế thừa. Sự phát triển của văn hoá luôn luôn đòi hỏi sự trao đổi các giá
trị. Tồn tại trong văn hoá có nghĩa là được giao tiếp với quá khứ và với tương
lai, với "người khác" hiện hữu. Đối với cá nhân thì sự tự cảm nhận
mình có mặt trong văn hoá và trở thành có văn hoá có nghĩa là vươn lên trên sự
tồn tại có giới hạn của chính mình, cũng có nghĩa là đại diện - trong tiểu sử
của mình - cho Vũ trụ, Tự nhiên, Lịch sử - toàn nhân loại một cách đầy đủ nhất.
Càng đầy đủ bao nhiêu thì cá nhân càng có quyền coi mình là có văn hoá, có quyền
tham gia vào văn hoá của Loài người và của Dân tộc bấy nhiêu.
Giới thiệu:
Davidovich Vsevolod Evgen’evich,
Giáo sư, Tiến sỹ khoa học ngành triết học, Nhà hoạt động khoa học công huân Nga,
Viện sỹ hàn lâm các khoa học nhân văn (Nga), Chủ tịch Hội triết học vùng sông
Đông, Cựu chiến binh chống Phátxít - trực tiếp tham gia và đã bị thương trong
các trận đánh nổi tiếng của Thế chiến II như Volgagrd, Vòng cung Kursk, Giải
phóng Đông Âu và Berlin..., là một trong những chuyên gia hàng đầu về triết học
và văn hóa học ở Liên bang Xôviết (trước đây) và Liên Bang Nga sau năm 1991, đã
đi xa ngày 3/10/2009 ngay sau khi khởi xướng một chuyên ngành khoa học mới ở
Nga - ngành chú giải học (Heurmernetics, ở ta còn được biết dưới tên gọi “Thông diễn học”)
bắt đầu bằng việc chú giải triết học của Husserl và Heidegger. “Biết mai chết
hôm nay vẫn trồng một cây táo” - ông đúng là người như câu ngạn ngữ Nga mà ông
thường nhắc.
Davidovich là người sáng
lập và là ủy viên Hội đồng biên tập của nhiều tạp chí nổi tiếng ở Nga, chẳng
hạn, “Các khoa học triết học”, “Nghiên cứu Xã hội học”, “Tri thức xã hội - nhân
văn”, “Tư tưởng khoa học vùng Kavkaz”... Ông được coi là người sáng lập một trường
phái về nghiên cứu văn hóa ở Nga.
Trong suốt cuộc đời, Davidovich
đã viết 9 cuốn sách và hơn 200 bài báo khoa học về triết học và văn hoá học... Tất
cả những cuốn sách của ông đều có tựa đề tưởng như không thể hay hơn: Nhân loại, ngươi là ai? (1975), Bản chất của văn hoá (1979), Lý luận về lý tưởng (1983), Công bằng xã hội: lý tưởng và những nguyên
tắc hoạt động (1989), Dưới lăng kính
triết học (1997)... trong đó có cuốn đã gây tranh cãi như Biên giới của tự do (1967). Ở cuốn này,
Davidovich chia ra 5 hình thức của tự do: tự
do sống, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do quyết định và tự do hành động và đi đến khẳng định: “Tự do đi vào thế giới cùng với con người; nó
là cái phân biệt con người với tất cả những gì còn lại”. Sách của
Davidovich có một số cuốn đã được đánh giá rất cao. Chẳng hạn, cuốn “Phương pháp giảng dạy triết học (1971) nhận
giải thưởng toàn Liên Bang về Sư phạm học. Cuốn Nhân loại, ngươi là ai? năm 1975 đã in tới 75.000 bản và mục từ Nhân loại trong Bách khoa thư mới về triết học (2001) đã sử dụng lại định nghĩa của
cuốn sách này. Năm 1982 cuốn Bản chất của
văn hóa được giải thưởng của các trường đại học.
Một số cuốn sách của
Davidovich đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và cũng không xa lạ với giới lý luận
Việt Nam. Năm 2002 cuốn Dưới lăng kính
triết học được dịch ra tiếng Việt tại Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Lúc
đó, ông đã dự định viết thêm một Lời nói đầu dành riêng cho bạn đọc Việt Nam.
Rất tiếc, khi bản thảo sắp lên khuôn, ông bị ốm. Vì mong cuốn sách sớm được ra
mắt bạn đọc, chúng tôi đã cho xuất bản không có phần này. Với hơn 600 trang
mang phong cách của một chuyên luận triết học thấm đẫm chất văn chương - phong
cách mà “Marx là một đại biểu bậc thày” (Lời Davidovich), trong đó có vô số
những dẫn giải về tác giả và tác phẩm triết học, mà cuốn sách không hề có một
chú thích. Có lẽ đây là chuyên khảo triết học hiếm hoi được trình bày dưới dạng
này. Dưới lăng kính triết học đã thu
hút sự chú ý của nhiều bạn đọc.
Xin được nói thêm, trong
lĩnh vực đào tạo, ông có công đào tạo hơn 40 tiến sỹ khoa học và trực tiếp
hướng dẫn hơn 140 tiến sỹ (Кандидат) thuộc nhiều thế hệ những người làm khoa
học ở nhiều nước trên thế giới, trong đó ở Việt Nam có hai người - Hồ Sĩ Quý và
Lưu Minh Văn - hai trong số ba dịch giả cuốn Dưới lăng kính triết học tiếng Việt.
Trong tạp chí số này,
chúng tôi muốn giới thiệu một phần nhỏ trong chương I của cuốn sách để tưởng
nhớ và ghi ơn ông.
Xin trân trọng giới thiệu
với bạn đọc.
Hồ Sĩ
Quý
Những
vấn đề "toàn nhân loại" chiếm nhiều vị trí trong sự tìm tòi văn hoá
học, đặc biệt trong dân tộc học. Để thể hiện hình ảnh của loài người trong lý
luận văn hoá và triết học văn hoá, cần phải làm rõ sơ đồ lý thuyết có thể bao
chứa được ý tưởng về nhân loại trong triết học về văn hoá loài. Chính là vấn đề
loài, vì phần lớn những tìm tòi văn hoá học đã đặt nhân cách, cá thể, và từng
con người riêng biệt vào trọng tâm của sự chú ý. Không có một người nào - dù
anh ta ngu muội, không được giáo dục, nghèo nàn về đạo đức, và như thế nào đi
nữa - đứng ngoài văn hoá. Một cá thể đứng ngoài văn hoá thì không còn là cá
thể, mà chỉ là một khách thể, một đơn vị của thế giới động vật. Dĩ nhiên, sự
lĩnh hội văn hoá ở các cá thể là khác nhau. Có những người là ngọn đèn soi sáng
và là người sáng tạo ra sự phong phú văn hoá, nhưng cũng có những người bị tuột
ra khỏi những chuẩn mực văn hoá, là những kẻ đánh mất đạo đức và văn hoá trong
đời sống của mình. Vậy văn hoá là gì?
Khi
xem xét "văn hoá" dưới dạng màkhái niệm ấy hiện đang bám rễ trong nhận thức, - cần ghi nhận khái niệm văn
hoá có tính đa nghĩa, tính bất định về diện mạo, và được sử dụng trong những
phương diện rất khác nhau. Không nhiều khái niệm không xác định, dễ bị dùng
theo những nghĩa khác nhau nhất (đôi lúc là đối lập nhau), như khái niệm mà
chúng ta đang xem xét.
Tất
cả các nhà nghiên cứu văn hoá, với sự nhất trí đến mủi lòng, đều thừa nhận thực
trạng đó.
Ngay
từ những năm 60 của thế kỷ XX, A.L. Kroeber và C. Kluckhohn,
khi phân tích chỉ riêng văn hoá học ở Mỹ thôi, đã đưa ra con số hơn 200 định
nghĩa văn hoá. Ngày nay, những con số tính toán như vậy đã trở nên lỗi thời, vô
vọng, vì những quan tâm lý luận tăng lên trong việc nghiên cứu văn hoá đã kéo
theo sự tăng lên một cách nhanh chóng các quan điểm khác nhau trong vấn đề phân
định văn hoá. Bất kỳ tác giả nào cũng có cách hiểu riêng về văn hoá. Quả thật, "bất
kỳ thành phố nào cũng có lề thói của mình".
Sự
phong phú như thế về ngữ nghĩa và về nội dung lý luận của các định nghĩa cho
thấy tính đa chức năng, sự đa dạng của thế giới văn hoá và của những khái niệm
thể hiện nó. Chính khái niệm văn hoá đôi khi lại rơi vào tình huống như đã có
lần người ta nói, là có thể ứng dụng chúng theo cách mà những thổ dân của một
trong những hòn đảo nhiệt đới đã áp dụng, khi họ di chuyển trên những bãi lầy
bồng bềnh. Ở đó họ đi theo quy tắc: đi nhanh và nhẹ nhàng, chỉ hơi chạm chân,
không dừng lại, nếu không thì họ sẽ biến mất trong đầm lầy mênh mông.
Và quả vậy, một loạt
khái niệm đã được thừa nhận rộng rãi, chừng nào người ta còn sử dụng chúng, có
thể nói, theo cách tiện thể, thì chúng thực hiện nhiệm vụ chức năng, trong văn
cảnh chung của sự suy tư và không gợi sự nghi vấn về nội dung của chính chúng.
Nhưng rất đáng tiếc là khi dừng lại để suy ngẫm, xem xét chúng thì người ta lại
thấy chúng thật mù mờ biết nhường nào. Và khi thử phân tích chúng, người ta còn
bị chìm vào vực thẳm logic, hiểu theo nghĩa đầy đủ của từ này - ta bị "lầy
thụt" trong những mối liên hệ và những quan hệ tứ phương.
Cần
phải nói rằng trong triết học, những tình trạng này, nói đúng ra, là thông lệ
hơn là ngoại lệ. Triết học không phải là tiên đề hoá, và người ta cũng không dễ
tìm thấy miếng đất vững chắc dưới chân nó. Chẳng phải vô cớ mà nhiều nhà thông
thái đã nói rằng, triết học - đó là vật không thể đem nhử con chó trong cũi
chui ra, và khi đọc tác phẩm triết học thì người ta có ấn tượng là nhai mãi một
cái gì đó nhưng lại chẳng có gì để nuốt. Điều đó như vậy, bởi vì triết học là
lĩnh vực tri thức ở cực ngoại biên, lĩnh vực tri thức ấy hướng đến những nền
móng cơ bản của tồn tại, hướng đến tự chiêm nghiệm (phản tư - Рефлектировать),
hướng đến nơi sâu thẳm của tự ý thức. Vì thế trong triết học không thể nói
tránh bằng những quan niệm số học đơn giản hoặc bằng những quan niệm có sức
nặng thương mại.
Nhưng
chính là cần thiết. Dù phức tạp đến đâu đi nữa, cũng cần thiết phải phân tích
khái niệm văn hoá, cũng như phân tích những gì mà nó biểu hiện, đi sâu vào làm
rõ bản chất của nó.
Trước
hết, chúng ta hãy ghi nhận rằng có hai lược đồ của việc xem xét vấn đề này: thế
tục và tôn giáo. Trong khuôn khổ cách giải thích Kinh Thánh, thuật ngữ
"văn hoá" bắt nguồn từ nghĩa "sự sùng bái", là niềm tin
truyền thống, là ý nghĩa cao cả của tồn tại, được đem đến bởi Đấng Toàn năng.
Một nhà tư tưởng tôn giáo hiện đại nổi tiếng, đại giáo chủ A. Men, đã khẳng
định rằng niềm tin vào ý nghĩa tối cao của Vũ trụ, ngày nay cũng như ở thời cổ đại, là điểm then
chốt đem lại sự thống nhất bên trong của bất kỳ nền văn hoá nào.
Các
tín đồ, những người bảo vệ nhiệt thành các tôn giáo đều khẳng định rằng, nếu ai
quên điều đó thì nói chung họ không có quyền được coi là người có văn hoá. Rõ
ràng không phải ngẫu nhiên mà "sự sùng bái" (theo nghĩa Latinh - sự
chăm sóc, sự sùng bái) lại tương đồng về ngữ âm và nội dung với thuật ngữ
"văn hoá" (Культ - Култура; Cult - Culture). Lịch sử không ghi nhận
được một xã hội nào mà trong đó lại hoàn toàn không có các quan điểm tôn giáo
dưới hình thức này hay hình thức khác. Những khẳng định về những cộng đồng phi
tôn giáo đều không thể tìm thấy sự chứng thực trên thực tế.
Trong sự sùng bái,
với tư cách là sự tổng hợp các chủ thể, các đối tượng, các phương thức hoạt
động tôn giáo, luôn luôn tồn tại yếu tố linh thiêng (sự thần thánh hoá), tôn
thờ Thần hoặc những vị Thần. Vị tất có thể hoài nghi rằng, hoạt động tôn giáo,
kinh nghiệm tôn giáo (kể cả những nghi thức sùng bái) là một trong những đặc
trưng cơ bản đánh dấu sự ra đời của tổ tiên con người từ trạng thái tự nhiên, xuất
hiện sự tồn tại của chính con người. Vì thế sự gần gũi giữa khái niệm "sự
sùng bái" và "văn hoá" là hoàn toàn có lý.
Nhưng
lịch sử đã và đang biết đến không những chỉ quan niệm tôn giáo, mà cả những
quan niệm thế tục về hiện thực. Trên thế giới có không ít những người vô thần
hoặc những người đơn giản là chẳng tin cái gì cả. Đánh giá thích đáng về văn hoá
tôn giáo và về sự tác động to lớn của nó đến vận mệnh của loài người, thì không
thể nhắm mắt trước dòng chảy mạnh mẽ của tư tưởng tự do thâm nhập vào toàn bộ
sự tồn tại lịch sử của con người. Quan niệm về Đấng Tuyệt đối, về Đấng Tạo hoá,
về Chúa trời - như các nhà thần học thuộc mọi giáo phái vẫn quan niệm - đều là
kết quả của sự Mặc khải (Откровения; Revelation),
đó là công việc mang tính chất thuần tuý cá nhân thầm kín, riêng tư, hiểu theo
nghĩa tốt đẹp. Kinh nghiệm tôn giáo mang tính chủ quan, nó xuất phát từ chính
chiều sâu của nhân cách.
Trong
khi phê phán chủ nghĩa vô thần tầm thường và một chiều, chúng ta hãy trao cho
mỗi con người quyền tự mình giải quyết vấn đề vị trí của mình trong vũ trụ và
trong mối quan hệ với hiện thực siêu cá nhân hay là siêu thực đã được giải
thích một cách nào đó. Có lẽ nên đồng ý với những nhà tư tưởng đã gắn
"Đấng thiêng liêng", "Chúa" với quan niệm về sự bí ẩn, về
cái tuyệt đối, về cái không thể hiểu được. Chúng ta ghi nhận rằng có tồn tại
văn hoá tôn giáo và văn hoá thế tục - thứ văn hoá được hình thành bên ngoài và
không có sự can dự của "sự sùng bái", trên cơ sở của tư duy lý tính,
trên cơ sở của những phát kiến khoa học. Triết học nói chung và thậm chí cả
triết học tôn giáo khác với các giáo lý, thần học. Như rất nhiều nhà triết học
có khuynh hướng tôn giáo đã giải thích rằng thần học được thể hiện ra như là sự
kiến giải về điều Mặc khải tích cực, là sự chỉ ra cho con người thấy ý nghĩa có
thể hiểu được về Lời của Chúa, là sự thấu hiểu Logos, là sự thông hiểu các giáo
lý trong Kinh Thánh. Còn triết học, ngay cả theo quan điểm của họ, chính là sự
nhìn thấu trong tư tưởng (nghĩa là một cách duy lý) cái vĩnh hằng và cái không
bị mất đi trong những yếu tố phù sinh và bị hạn chế bởi thời gian của hiện
thực.
Trong
thế giới hiện đại của khoa học xã hội và nhân văn thì khái niệm văn hoá được
đặt trong số những khái niệm nền tảng. Nó là công cụ hết sức quan trọng để phân
tích đời sống con người, giống như khái niệm "lực hấp dẫn" đối với
vật lý học hay là khái niệm "tiến hoá" đối với sinh học. Ở những tác
giả khác nhau và trong những điều kiện có rất nhiều ý kiến đa dạng, thoáng xuất
hiện những định nghĩa khác nhau. Các định nghĩa này rất phức tạp và rất nhiều
mặt. Nhưng trong đó hàm chứa những nét chung, làm nổi bật cái cốt lõi bản chất,
mà xung quanh bản chất đó đã tập hợp những đặc trưng cá thể hoá, những đặc
trưng phản ánh ý kiến và sự ưa thích của các tác giả. Ví dụ, Neil Smelser, một trong những nhà xã hội học và văn hoá học hàng đầu của
Mỹ ở những thập niên gần đây, trong giáo trình của mình về xã hội học đại
cương, đã cho rằng định nghĩa hiện đại về văn hoá cần thể hiện được những tín
điều, những giá trị và những phương tiện biểu cảm chung đối với một nhóm nào
đó, chúng được dùng để sắp xếp kinh nghiệm và điều chỉnh hành vi của các thành
viên trong nhóm đó. Những yếu tố cơ bản của văn hoá là những khái niệm (quan
niệm) được thể hiện trong ngôn ngữ, những quan hệ và những mối liên hệ qua lại,
các giá trị mà phù hợp với chúng, con người lựa chọn những mục tiêu và những
quy tắc xác định xem có thể làm cái gì và bằng cách nào, hay không thể làm điều
gì. Như vậy, ở ông, văn hoá được hiểu như là một tổ hợp các giá trị, các chuẩn
mực, các tiêu chuẩn của hành vi. Nó là nhân tố điều chỉnh hành vi của con
người, những mối quan hệ của họ với nhau, với xã hội và với tự nhiên.
Đại
thể cũng với tinh thần này khi tiếp cận văn hoá, nhà xã hội học Anh hiện đại Anthony
Giddens cho rằng văn hoá hàm chứa các giá trị
được tạo nên bởi những nhóm riêng biệt, hàm chứa những chuẩn mực mà các nhóm đó
tuân theo trong cuộc sống, và những vật thể vật chất do con người sản xuất ra.
Những lý tưởng trừu tượng, biểu hiện ra như là các giá trị; trong khi đó những
chuẩn mực phản ánh cái được phép và không được phép, lại là những nguyên tắc và
những quy tắc xác định mà con người cần phải tuân theo trong suốt cuộc đời
mình.
Trong
các tài liệu xuất bản ở Nga đã giới thiệu con số phong phú những cách tiếp cận
văn hoá, và đương nhiên, là cả các định nghĩa về văn hoá. Không thể không nói
một điều là, các nhà văn hoá học của nước Nga ở những thập niên gần đây đã sáng
tạo trong những hoàn cảnh tương đối thuận lợi. Họ không còn bị ràng buộc bởi
những nguyên lý cứng nhắc của các nhà kinh điển... Vấn đề là ở chỗ, chẳng hạn
thuật ngữ "văn hoá" không thường xuyên gặp ở K. Marx và F. Engels.
Các ông thường nói về nền "học vấn", về nền "giáo dục". Còn
V. I. Lenin nói rất nhiều về văn hoá và chính sách văn hoá. Rõ ràng, các nhà
sáng lập của chủ nghĩa Marx đã xuất phát từ những quan điểm riêng về vấn đề văn
hoá, nhưng nó không được nói đến dưới hình thức có tính hệ thống, các ông không
đưa ra một định nghĩa chi tiết và cô đọng về văn hoá. Sự thiếu vắng một định
nghĩa như thế (như Marx đã định nghĩa về hàng hoá hay Lenin định nghĩa về giai
cấp) đã giải phóng đôi tay cho các nhà lý luận có thể tìm tòi độc lập. Bắt đầu
từ những năm 60, cho đến ngày nay, vẫn chưa chấm dứt những cuộc tranh luận sôi
động xung quanh chính khái niệm văn hoá, cấu trúc logic của nó, bản chất và
những hình thức thể hiện của nó.
Những
cuộc thảo luận như thế, nhiều công trình nghiên cứu cơ bản của các tác giả đã
cho phép đạt được một tính xác định nào đó về những vấn đề căn bản. Điều đem
lại nhiều ý nghĩa trong lĩnh vực suy tư về văn hoá là sự quay trở lại đời sống
thường nhật và việc đọc những tác phẩm chứa đựng những tư tưởng có giá trị của
các nhà triết học Nga thuộc "Thế kỷ bạc" (N. Berdaev, A. Belyi, V.
Ivanov, V. Rozanov, P. Florenski, v.v.). Trong những tác phẩm của họ đã hình
thành cách hiểu độc đáo, phong phú và có hiệu quả về văn hoá.
Do
vậy, đã có sự thừa nhận tính hạn chế của những định nghĩa có tính chất số học
thuần tuý rất được phổ biến trong quá khứ (văn hoá - đó là tổng cộng, tổng số,
tổng hoà những sáng tạo của con người). Người ta đồng ý được với nhau rằng các
cách tiếp cận thuần tuý giá trị học về văn hoá là mang tính hạn chế, bởi vì
chúng khép văn hoá vào phạm vi tương đối hẹp. Giá trị, sự đánh giá, cái được ưa
thích, cái được mong đợi, cái được chờ đợi, cái có nội dung tốt - tất cả những cái
đó đều nói lên một cái gì đó tích cực đối với con người và đời sống của con
người. Và nếu thừa nhận rằng văn hoá - về bản chất đó chỉ là tổng hợp những giá
trị tích cực, còn tất cả những cái tiêu cực, không có tính xây dựng, nguy hiểm
đều được đặt trong "ngoặc" và được xem là "không phải văn
hoá", thì trong trường hợp này chính quan điểm về văn hoá đã trở thành
tương đối luận cực đoan.
Dĩ
nhiên, cách tiếp cận giá trị học không bị loại trừ khỏi những xem xét lý
thuyết. Hơn nữa, trong xã hội học về văn hoá, khi giải quyết những nhiệm vụ
giáo dục - sư phạm và trong phạm vi văn hoá chính trị thì cách tiếp cận này cũng
thể hiện tính khám phá và hiệu quả của nó. Và như vậy những sự đối lập kiểu
"văn hoá - dã man", "văn hoá - sự lỗ mãng", "văn hoá -
sự dốt nát" v.v. là hoàn toàn hợp lý và cần thiết. Sự từ bỏ một cách vô
căn cứ cách tiếp cận giá trị học là hoàn toàn không đúng, cũng giống như sự
thổi phồng nó một cách một chiều.
Những
cuộc thảo luận đã đi đến khẳng định rằng trong định nghĩa phi giá trị học về
văn hoá cần phải làm nổi bật những cơ sở thực thể của văn hoá, chỉ ra thực thể
của văn hoá, còn chính văn hoá nói chung cần được xem như một quá trình, như
một chỉnh thể động lực trong sự thống nhất của những yếu tố khách quan và chủ
quan, của những tiền đề và những kết quả, của tiến trình và kết cục.
Để
phân định giữa cách tiếp cận phi giá trị học và giá trị học, chúng tôi xin nêu thí
dụ, trong trường hợp thứ nhất thì máy chém và computer đều được xem là những
nhân tố văn hoá, còn trong trường hợp thứ hai - máy chém bị coi là phản văn
hoá.
Sự
thừa nhận chung về khả năng, tính hiệu quả đôi khi là hết sức cần thiết của
cách tiếp cận chức năng, hệ thống - cấu trúc và ngữ nghĩa, đồng thời đã củng cố
sự tin tưởng rằng không được phép loại ra khỏi định nghĩa văn hoá chính con
người với tư cách là nhân tố tích cực, là cội nguồn của văn hoá, là sự sáng tạo
và là sản phẩm của văn hoá. Chưa hẳn là đúng nếu coi văn hoá chủ yếu như là sự
tự vận động thuần tuý của những cấu trúc tầng sâu, của các hệ thống ký hiệu.
Người
ta thừa nhận rằng khái niệm văn hoá có tính ngữ cảnh. Trong cách hiểu khái niệm
này có rất nhiều điều phụ thuộc vào vị trí của nó trong ngữ cảnh, nó ở trong
lớp nghĩa nào, nó hoạt động trong hệ thống khái niệm nào và hướng đến mục đích
nhận thức nào. Khi bắt gặp từ, thuật ngữ, vị từ "văn hoá", thì trước
hết phải vạch ra nội dung của nó, xem nó liên quan đến lĩnh vực nào của tri
thức. Rất nhiều định nghĩa văn hoá có mặt trong các tài liệu phần lớn đều không
phải là những định nghĩa có tính triết học. Đúng hơn, các định nghĩa này thể
hiện ra như là những định nghĩa khoa học chung. Mà triết học lại hoàn toàn
không quy tụ hết vào khoa học. Vì vậy nhiều định nghĩa đã không đạt đến những
đặc trưng bản chất của văn hoá, không thể đi sâu vào chúng. Việc sử dụng các
khái niệm đó là hoàn toàn hợp lý, nhưng phải ở cấp độ xác định (dân tộc học hay
là khảo cổ học, xã hội học hay pháp lý, v.v.). Dung lượng và tính tổng hợp của
khái niệm "văn hoá" cho phép quan niệm về nó theo nhiều phương án,
nhiều phương diện: như là lát cắt của đời sống xã hội, là thiết chế xã hội, là những
đặc trưng của trình độ phát triển nhân cách, là hệ thống các chuẩn mực xã hội
có tính tương đối, là cơ chế chuyển tải kinh nghiệm, là hiện tượng tự quyết
định và v.v.. Song, tất nhiên, như là bản tính của Loài người, của tất cả chúng
ta.
Trong
các tác phẩm lịch sử và các tài liệu hiện đại của thế giới và ở nước Nga (tài
liệu thuần tuý hàn lâm và đại chúng) về các vấn đề văn hoá đã giới thiệu các
cách tiếp cận lý thuyết để hiểu văn hoá như: cách tiếp cận giá trị (giá trị
học), phi giá trị học, ngữ nghĩa, thông tin, nhân đạo, công nghệ học...
"Tính không đóng kín", "tính tình huống", "tính
mở" luôn hiện diện trong những kiến giải về văn hoá. Việc xây dựng một mô
hình khối, hình cầu, trong đó có sự tương quan hài hoà của tất cả các khía cạnh
xem xét nó, thì hãy còn ở phía trước. Đó là nhiệm vụ mà tư duy lý thuyết chưa
thể làm nổi. Bởi thế vẫn tồn tại những định nghĩa có tính chất tình thế, có
tính chất tác nghiệp, là những định nghĩa vẫn được gọi bằng thuật ngữ Latinh
"At hoc" ("cho điều đó", vì trường hợp đó, vì mục đích cụ
thể).
Tuy
vậy, dù sao... cũng nên thử đi vào chiều sâu của bó hoa những định nghĩa, bới
tung cành lá và cánh hoa để luồn lách tới rễ. Thiết nghĩ, cách tiếp cận công
nghệ học (hoạt động) có triển vọng hơn cả trong việc thâu tóm bản chất (chính
là bản chất). Nó không phủ nhận rằng trong việc xem xét hiện tượng học văn hoá
(những hình thức, những biểu hiện, những giới hạn của văn hoá), cách tiếp cận
"nhân đạo" và sự giả định văn hoá như là "độ đo con người",
thước đo sự tiến lên của con người hướng đến lý tưởng, phương thức hình thành
sự phong phú tinh thần và sự thực hiện các lực lượng xã hội mang tính bản chất
và v.v. cũng là những cách tiếp cận tốt.
Yếu
tố lôi cuốn trong cách tiếp cận "công nghệ" học (hoạt động) là gì? Đó
là dựa vào nó, có thể - như người ta vẫn thường nói - "chỉ tay" vào
cái gì là văn hoá và cái gì là không phải là văn hoá.
Các
cách tiếp cận khác có điểm yếu nào? (Một lần nữa chúng tôi xin nói rằng những
cách tiếp cận này không thể bị bỏ đi, mà chúng còn có lợi cho những phương diện
nào đó của sự phân tích các hiện tượng văn hoá). Chúng có điểm yếu bởi chính
"tính bộ phận" của mình, bởi sự rạch ròi các ranh giới mà đôi khi
chúng lại thể hiện đầy vẻ khoa trương và hoa mỹ dai dẳng. Đương nhiên, người ta
rất khoái nghe nói rằng văn hoá tốt hơn dã man, rằng văn hoá là cái gì đó đề
cao con người, nó liên kết mọi người lại và cho phép làm cho con người lớn lên
thành con người, nó là sự thể hiện tiềm năng sáng tạo... Ai dám bác bỏ những
bài tụng ca tương tự ca ngợi văn hoá. Tất cả những điều đó là thế. Song những
cách nhìn như vậy, theo quan điểm của chúng tôi, không cho phép thấy được gốc
rễ và chiều sâu của văn hoá.
Đối
với quan niệm hoạt động về bản chất của văn hoá (chúng tôi nhấn mạnh: chính là
bản chất) người ta đã đưa ra những nhận xét khác nhau. Chẳng hạn, người ta bảo
rằng những kiểu định đề: "Hành động là bản năng đích thực của tinh thần
con người" (P. Holbach) hay là "Hành động là khởi thuỷ của tồn
tại" (Goethe), "Con người là thực thể tự
nhiên đang hoạt động" (Marx) - đó là sản phẩm của tinh thần châu Âu, của
lịch sử phương Tây. Còn ở phương Đông, nguyên tắc quan hệ với thế giới lại đòi
hỏi con người bất hành động (Hữu - Vô). Và vì thế cách tiếp cận văn hoá theo
quan điểm hoạt động lại tỏ ra hạn chế và không thể áp dụng vào những biến thể
phương Đông của văn hoá chung của loài người. Nhưng coi là đối lập như thế chí
ít cũng không chính xác. "Hữu - Vô" không phải là sự phủ định bất kỳ
tính tích cực nào. Nó chỉ giả định tính tích cực, đặc thù, không can thiệp vào
trật tự tự nhiên của các sự vật và vào tiến trình của các sự kiện, giả định
tính tích cực dưới hình thức "thực hiện sự bất hành động". Điều đó,
có thể nói, chính là tính tích cực hài hoà, phi cải biến, không phải là sự cải
tạo, mà là sự hoà nhập vào những quá trình tự nhiên. Tất cả những cái đó cũng
là "hoạt động". Vì vậy cách tiếp cận hoạt động (công nghệ học) hoàn
toàn có thể áp dụng không chỉ ở phương Tây, mà cả ở phương Đông, tất nhiên,
phải tính đến tính đặc thù của phương Đông.
Cách
tiếp cận này đối với bản chất văn hoá được xem xét như thế nào? Khi nhìn vào toàn
bộ nội dung văn hoá học, có thể tìm thấy trong đó, một cách rõ ràng hoặc kín
đáo, chỉ dẫn về con người, về đời sống con người, về hành động của con người.
Con người là cơ sở của toàn bộ đề tài văn hoá học. Vì thế có thể nói rằng khái
niệm "văn hoá" phản ánh, cách này hay cách khác, chính đặc trưng loài
- toàn nhân loại của các hoạt động với tư cách là phương thức tồn tại của con
người nói chung. Có thể khẳng định rằng để hiểu được khái niệm văn hoá chỉ có
thể thông qua hiểu biết về hoạt động của con người.
Tuy nhiên, việc định
nghĩa một cách giản đơn văn hoá như là sự phản ánh hoạt động có thể tạo ra ấn
tượng về một vài ý tưởng sâu sắc. Nhưng chỉ có vậy! Vì vậy cần phải nhìn rõ cái
gì đang ẩn nấp đằng sau thuật ngữ "hoạt động". Vì không thể đi sâu
vào tất cả các ngóc ngách và các tranh luận đang diễn ra xung quanh khái niệm
này (mà những cuộc tranh luận ấy vẫn còn chưa chấm dứt), chúng tôi nêu rõ rằng
hoạt động - đó là kiểu quan hệ xác định giữa con người và thế giới. Nó, kiểu
quan hệ ấy được tạo nên không chỉ bởi di truyền, mà còn bởi lịch sử và xã hội.
Nó phản ảnh tính định hướng của con người hướng vào sự thích nghi với những
điều kiện tồn tại, cũng như phản ánh sự biến đổi của chính những điều kiện đó,
sự thích ứng của các điều kiện đó với các mục tiêu, với các định hướng của con
người. Không hoạt động hoàn toàn và tuyệt đối đồng nghĩa với sự chết. Hoạt động
cải tạo, tích cực, có mục đích, và phong phú - đó chính là cuộc sống, là cuộc
sống của con người, chứ không phải là sống lay lắt, bất lực, phá cấu trúc, hoặc
tan rã.
Một
trong số những người giàu đầu óc tưởng tượng hiện đại đã có lần buông ra lời lẽ
hoa mỹ rằng con người - đó là "nguyên sinh chất tích cực". Vâng, điều
đó là như thế. Hoạt động là đặc trưng nền tảng của sự tồn tại của con người, là
thực thể của lịch sử toàn bộ thế giới con người. Nó là động lực và là cỗ máy
đảm bảo sự phát triển liên tục, vĩnh cửu của nhân loại với tư cách là hệ thống
vật chất và tinh thần tạo nên thế giới hiện thực. Hoạt động không thể không có
đối tượng, không có địa chỉ cho tất cả và không cho một ai. Hoạt động, nếu nói
bằng ngôn ngữ toán học, không phải là véctơ mà là đại lượng số học, nghĩa là có
định hướng, có khuynh hướng, có mục đích.
Những
hình thức của hoạt động và sự phân nhánh bên trong của nó rất đa dạng. Trong
những sự tìm kiếm lý thuyết hiện đại người ta đã đưa ra những mô hình khác nhau
về sự phát triển hình thái học của nó. Ở hoạt động có những mức độ biểu hiện
không giống nhau - từ những hành vi rập khuôn cứng nhắc "theo các quy
tắc" cho đến sự cất cánh đầy sáng tạo, lòng nhiệt thành hăng hái, việc loại
bỏ những khuôn khổ cứng nhắc. Tính định hướng và có suy tính, sự tính toán một
cách hợp lý và sự dự cảm trực giác phi lý tính, tính toàn thể và sự gắn bó với
những thực tế lịch sử - cụ thể - tất cả những điều đó đều có trong hoạt động.
Có
lẽ viện sĩ M.X. Kagan hoàn toàn sâu sắc khi ông gọi con người không phải là
"Homo Sapiens" (con người có lý trí), không phải là "Homo Faber"
(con người biết chế tác), không phải là "Homo Ludens" (con người của
trò chơi) v.v., mà là "Homo Agens"
(con người của hành động). Theo sự khẳng định của ông, đó là định nghĩa liên
kết tất cả những định nghĩa đã được đưa ra, vạch rõ tính phiến diện của mỗi
định nghĩa trong số những định nghĩa đó, và vì thế, tính đúng đắn và tính không
đúng đắn của nó là đồng thời tại một thời điểm.
Khái
niệm "hoạt động" có giới hạn theo ý nghĩa là nó gắn trực tiếp với
hiện thực, không cần bổ sung bằng những sự xác định nào khác. Trong khái niệm
này và qua khái niệm này thể hiện, dưới hình thức chung nhất, hình dáng của
hiện thực, phác hoạ sự tồn tại của con người. Quan niệm này được các nhà tư
tưởng tôn giáo và thế tục chia sẻ. Một trong những nhà triết học và thần học
nổi tiếng nhất của thế kỷ XX - tín đồ Thiên chúa giáo Pierre Teilhard de Chardin - trong cuốn sách Thế
giới Thần thánh (Le Milieu Divin)đã khẳng định rằng, xét từ quan điểm giáo điều thì không có gì
đáng tin hơn là khả năng thần thánh hoá hoạt động của con người, những sức mạnh
tích cực và khát vọng của nó.
Văn
hoá cá nhân - đó là một thứ nguyên tắc liên hệ của con người với đối tượng, là
phương thức để nó hội nhập vào đời sống xã hội, là cơ chế của tự ý thức, là sự
hiểu thấu tính không thể chia cắt của mình với những cá nhân khác và hiểu thấu
tính độc lập và tính vô song của mình. Văn hoá - đó là đặc trưng của tính menton
(phương châm của ý thức, định hướng của ý thức ra bên ngoài - ra thế giới và
vào bên trong chính mình, vào nơi sâu thẳm của tinh thần). Văn hoá - đó là cái
cho phép đưa mục đích, ý nghĩa mang tính người vào thế giới, vào cá nhân. Nó
thâu tóm khả năng sử dụng những gì mà sự phát triển nhiều thế kỷ của nhân loại
đã tích luỹ được. Làm người có văn hoá - tức là "biết". Biết dùng
nhiều đồ vật, có kỹ năng (từ việc cày ruộng đến luyện trí óc), biết thể hiện
trong chính mình và thông qua mình cái được tạo ra bởi nhiều thế kỷ và cái đang
tồn tại hiện nay.
Với
mọi sự khác biệt của các cá nhân và các nhóm, mỗi hiện tượng văn hoá đều chứa
trong mình nó yếu tố tổng hợp, sự hiện diện - trong những biểu hiện văn hoá đơn
lẻ - những nét và những hình tượng được trù tính cho toàn bộ lộ trình của lịch
sử. Có những khuôn mẫu cổ chung nhất của văn hoá, có những sơ đồ vĩnh cửu của
nó. Tấm lưới của cái chỉnh thể bao trùm và chứa đựng trong mình nó vô số những
cách thức không ngờ tới, cái độc đáo, cái độc nhất vô nhị.
Cần
nêu lên cả cách tiếp cận được giới thiệu rất phổ biến trong văn hoá học trên
thế giới và ở nước Nga, nó đặt cơ sở trên nền tảng ý tưởng về sự đối thoại giữa
các nền văn hoá (từ Martin Buber đến Mikhain Bakhtin, Vladimir Bibler và Iuri Lotman).
Vấn đề là ở chỗ văn hoá, khi bị đóng kín trong một chủ thể riêng biệt (một cá
thể, thậm chí một nhóm), thì nó sẽ trở nên kém sức sống, suy yếu, suy thoái.
Văn hoá luôn luôn cần đến đối tác, người nhận, người đối thoại, người kế thừa.
Sự phát triển của văn hoá luôn luôn đòi hỏi sự trao đổi các giá trị. Tồn tại
trong văn hoá có nghĩa là được giao tiếp với quá khứ và với tương lai, với
"người khác" hiện hữu. Đối với cá nhân thì sự tự cảm nhận mình có mặt
trong văn hoá và trở thành có văn hoá có nghĩa là vươn lên trên sự tồn tại có
giới hạn của chính mình, cũng có nghĩa là đại diện - trong tiểu sử của mình -
cho Vũ trụ, Tự nhiên, Lịch sử - toàn nhân loại một cách đầy đủ nhất. Càng đầy
đủ bao nhiêu thì cá nhân càng có quyền coi mình là có văn hoá, có quyền tham
gia vào văn hoá của Loài người và của Dân tộc bấy nhiêu. Và tất nhiên,
"hấp thụ" - đó mới chỉ là một mặt, còn mặt khác - đó là "phát
xạ", in dấu ấn cá nhân của mình vào Tổng thể Vũ trụ.
Vậy,
văn hoá được thể hiện chuyên biệt trong những lĩnh vực nào và ở mức độ nào? Ở
đây, ta thấy tồn tại sự đa dạng các hiện tượng văn hoá. Có văn hoá sản xuất và
văn hoá kinh tế, văn hoá tổ chức, văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật, văn hoá
đạo đức, văn hoá khoa học, văn hoá sinh thái, văn hoá tôn giáo, văn hoá giáo
dục và những hình thức khác, chúng phụ thuộc vào đặc trưng của bộ phận cấu
thành đời sống xã hội trong đó chúng hoạt động. Và không phải ngẫu nhiên trong
thực tế sử dụng ngôn từ, người ta vẫn thường bắt gặp hiện tượng quy nền văn hoá
chỉnh thể, đa phương diện thành một trong những hình thức hoạt động của nó. Đối
với một số người, văn hoá được quan niệm trước hết là sự chiếm hữu kho tàng các
giá trị nghệ thuật, đối với một số người khác nó lại được hình dung như là tính
đạo đức (chúng ta hãy nhớ lại công thức của Albert Schweitzer "Văn hoá
chính là đạo đức"), đối với những người thứ ba - sẽ là vô văn hoá nếu ai
đó không có kinh nghiệm tôn giáo; còn đối với số người thứ tư thì những ai
không biết đến những thành tựu cao của khoa học, người đó sẽ nằm ngoài văn hoá./.