CÁC LOẠI HÌNH VĂN HÓA TÌNH DỤC
Zbigniewlew Starowicz
Trích từ chương III cuốn Quan
hệ tình ái trong các cộng đồng, các tôn giáo và các nền văn hóa (Nguyễn Tiến
Tài - Nguyễn Văn Văn dịch theo: “Seks W kulturach” (Tình dục trong các nền văn
hóa) của Zbigniewlew Starowicz. (Nhà xuất bản lao động, 1994, tái bản năm 2006
với tựa đề “Quan hệ giới tính trong các nền văn hóa”).
VĂN HÓA APOLLO
Đấy là một hình thức văn hoá đề cao mối
hài hòa giữa thể xác và tâm hồn, đồng thời nó ca ngợi những nỗi sung sướng tự
nhiên của cuộc sống con người. Con người ở đây ko bị các hội chứng tình ái bệnh
hoạn hoành hành như ở những nền văn hoá khác vẫn thường gặp. Thế giới tinh thần
của họ gắn bó mật thiết với thế giới tự nhiên và đời sống xã hội. Mặc dầu loại
hình văn hoá này không tránh khỏi chút ít khuyết tật, song niềm khát khao muốn
vươn tới sự hài hòa và cảm khoái trước cuộc sống đã làm cho nó trở nên hoàn hảo.
Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi đó là văn hóa Apollo – một cái tên bắt
nguồn từ thời xa xưa của thế giới Hi Lạp. Các yếu tố văn hoá Apollo có mặt
trong nhiều truyền thống văn hoá, chẳng hạn trong các nền văn hoá thô sơ phổ biến
hầu như trên khắp hành tinh chúng ta. Trải qua một thời gian nhất định, những yếu
tố của hình thái văn hoá này đã thẩm thấu ăn sâu vào nền văn hoá phương Tây
đang chứa đầy mâu thuẫn (Thí dụ: sự thể hiện nỗi buồn nhớ về chốn thiên đường
đã bị đánh mất và về buổi bình minh vàng son xa xưa). Một trong những biểu hiện
mới mẻ của nỗi buồn nhớ đó là phong trào tự nhiên chủ nghĩa (Naturalism) với tư
tưởng quay về với các tập quán Apollo. Một biểu hiện khác được thể hiện trong
câu chuyện hoang đường kể về cuộc tìm kiếm cõi thiên đường lạc thú trên các hòn
đảo kỳ lạ, thí dụ như đảo Taiti. Văn hóa Apollo còn được phản án cả trong văn học
lãng mạn và tình cảm. Có thể loại hình văn hóa này là sự thể hiện khát vọng
vươn tới tự do, hoặc cũng có thể đấy là một mô hình hoạt động luyến ái của người
cổ đại mà cuộc sống của họ gắn liền với thiên nhiên động vật một cách mật thiết.
Từ đó mà ta bắt gặp những nét mô phỏng tương đồng của người xưa với thế giới tự
nhiên. Trong văn hóa Châu Âu, buổi khởi nguyên của Apollo đã được mô tả rất tuyệt
vời, thí dụ như trong tiểu thuyết nổi tiếng “Damnic và Hloya”, trong tập “Những
bài ca dâng Chúa” của Kinh thánh và trong các bài thơ tình cổ Ba Lan. Có thể nói,
Apollo là một nền văn hoá tổng hợp đa dạng.
Một bằng chứng sống động của nền văn
hoá tình dục Apollo là các tập quán của cư dân Triobriand – một quần đảo san hô
nằm gần Tân Guinea. B.R.Malinowski, nhà bác học Ba Lan là một trong những người
đầu tiên đặt chân đến đây để tiến hành các cuộc khảo sát nghiên cứu. Công trình
của ông – cuốn “Đời sống tình dục của thổ dân miền Tây Bắc Melanesia”[32] đã
gây một tiếng vang lớn. Trước chiến tranh, cuốn sách đó đã được mọi người chuyền
tay nhau đọc say mê. Năm 1980 nó được tái bản lại với số lượng 5.000 bản. Công
trình của Malinowski là một nguồn tư liệu quý giá về nền văn hoá Apollo mà nó sẽ
được chúng ta sử dụng trong những phần tới. Xã hội cư dân đảo Triobriand thuộc
về chế độ mẫu quyền. Hệ thống pháp luật ở đây đã phản ánh vai trò, quyền thế của
phụ nữ. Dân cư sống thành từng thôn làng với cây cối um tùm bao quanh. Nhà cửa
được cất lên giữa các vùng đất thoáng. Ban ngày các gia đình tỏa ra làm việc,
đàn ông thì săn bắn, còn phụ nữ thì hái trái cây và sản xuất. Đời sống sinh hoạt
chủ yếu diễn ra ngoài trời. Nhà cửa chỉ là nơi ăn chốn ngủ. Trẻ em vui chơi thoải
mái. Ngay từ nhỏ, chúng đã được chứng chiến các hoạt động tình cảm của người lớn.
Tuổi dậy thì trẻ em đến rất sớn. Khái niệm về tình dục bắt nguồn từ các trò
chơi mang tính gợi dục như xem các bộ phận sinh dục của nhau hoặc sự va chạm cơ
thể tạo ra cảm giác kích thích giới tính v.v… Người lớn coi các biểu hiện tình
cảm trên chỉ là một thú tiêu khiển tự nhiên. Đối với nữ, các quan hệ giới tính
đã bắt đầu từ lúc 6-8 tuổi, đối với nam: từ 10-12 tuổi. Bước sang lứa tuổi
12-14 các chú bé đã trở thành những trang nam nhi và chúng được chuyển qua sống
trong khu “Bukumatula”, tức là căn hộ dành riêng cho những đàn ông độc thân. Vấn
đề luyến ái trong giai đoạn này giữ một ý nghĩa đặc biệt. Lúc này bắt đầu xuất
hiện các mối quan hệ tình dục trước hôn nhân mà cả hai không nhất thiết phải là
những cặp vợ chồng bắt buộc trong tương lai. Có nghĩa là họ còn có thể thoải
mái “bắt bồ” với bất kỳ đối tượng nào mà họ muốn. Thế nhưng khi đã lập gia
đình, các cặp vợ chồng vẫn rất tôn trọng nhau và bình đẳng phân chia trách nhiệm.
Lễ đính hôn được tiến hành trước khi tổ chức đám cưới và mang tính chất hợp
pháp. Ngoài mục đích kinh tế, hôn nhân còn mang ý nghĩa khoái cảm về mặt xác thịt.
Đời sống xã hội của cư dân đảo gắn liền
với nhiều nghi lễ, hội vui ca múa, các trò tiêu khiển đượm màu sắc tình cảm luyến
ái và đồng thời cả những luật lệ cấm chế. Vẻ đẹp của người đàn ông ở đây là
khuôn mặt chữ điền, môi đầy, trán thấp, mái tóc xõa trước trán, dáng người cao
và cân đối. Đàn bà đẹp phải là người có thân hình khỏe mạnh, nước da nâu mịn
màng, đôi vú to và rắn chắc. Thổ dân rất chú ý đến việc giữ gìn vệ sinh cơ thể.
Họ thường bôi lên người những loại dầu thơm đặc biệt. Hình thức tỏ tình khá đơn
giản. Nếu cô gái tự tay tặng cho người con trai một món quà nào đó thì coi như
mọi việc đã xong xuôi. Đôi uyên ương sẽ dắt nhau đến những chỗ cách xa làng,
nơi có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, để rồi ở đó họ có thể hàng giờ ân ái
đam mê mà không bị ai bắt gặp. Màn tình tự được bắt đầu từ việc cởi khố quần ở
người con trai và chiếc váy áo ở người con gái. Sau đó, họ ngồi sát bên nhau vuốt
ve âu yếm và nói chuyện tâm tình khá lâu. Rồi đôi uyên ương hôn hít nhau (hôn bằng
mũi chứ không phải bằng môi như người Âu). Dần dần, cơ thể nóng rực lên và hưng
phấn trào dân, họ cắn môi và vuốt tóc nhau cho đến lúc giao hoan. Trong quá
trình chăn gối, các đôi tình nhân thường âu yếm nhau bằng những từ ngữ cảm thán
đặc biệt. Tư thế cổ điển không hấp dẫn lắm đối với thổ dân vì nó chóng gây mệt
sức. Thời gian ân ái diễn ra khá lâu. Nam giới cũng quan tâm đến việc làm cho bạn
gái đạt được khoái cảm tột độ. Mức độ sinh hoạt phụ thuộc vào sự đòi hỏi của cả
hai bên. Nói chung các đối tượng đều cố gắng để đôi bên đều nhận được sự khoái
cảm và thỏa mãn. Các quan hệ đồng tính luyến ái, và những kiểu sinh hoạt trái tự
nhiên như Oralism hoặc Analism đều bị xem như là những hiện tượng vi phạm đạo đức.
Đối với các đối tượng này người ta tỏ rõ thái độ giễu cợt và tìm cách cô lập họ.
Sự vội vã, hấp tấp, thiếu vệ sinh và thẩm mỹ khi sinh hoạt ân ái đều bị đánh
giá không tốt. Các hiện tượng như ngoại tình, quan hệ chung chạ với các đối tượng
thuộc tầng lớp xã hội thấp hơn và những đặc quyền của thủ lĩnh đều được xếp vào
những công việc riêng tư mà không ai có quyền can thiệp. Thủ dâm bị khinh bỉ,
nhưng có thể được châm chước.
Đời sống luyến ái của nam nữ gắn liền với
một nền văn hoá dân gian khá phong phú. Ở đây tồn tại vô số các truyền thuyết
trò chơi, các hình thức tuồng câm và khẩu ngữ mang nội dung luyến ái giới tính.
Các tập quán tình dục không mang tính chất khổ hạnh, nhưng cũng không quá phóng
túng, buông thả. Sự tiếp thu tình dục sớm của trẻ em, thói quen sống chung đối
với hiện tượng lõa thể và các hoạt động ân ái của người lớn, kinh nghiệm chăn gối
ở lứa tuổi mới lớn, quan niệm tự nhiên đối với tình dục, hình thức làm tình
phong phú, vống từ vựng tình dục học đa dạng, việc cởi bỏ y phục trong quá
trình sinh hoạt giao phối. Đấy là toàn bộ những yếu tố đã làm cho hoạt động luyến
ái ở đây diễn ra một cách cởi mở và tự nhiên, xóa tan tâm lý sợ hãi và cuối
cùng đem lại niềm thỏa mãn và nỗi sung sướng cùng cực trước ái ân. Tất cả những
đặc điểm này đã được phản án rõ trong đời sống gia đình và xã hội cư dân đảo.
Các phong tục, mê tín, tôn giáo và các quan hệ nam nữ đã tạo nên một thể thống
nhất giúp cho đời sống tinh thần con người trở nên hài hòa dễ chịu. Tất nhiên
chúng ta cũng không nên quá cường điệu để rồi xem đấy là một thiên đường tình
ái hoàn hảo. Con người ở đây cũng không hề xa lạ với những tình cảm đời thường
như hờn ghen, ngoại tình, li dị, hay những nỗi đau khổ, tuyệt vọng về tinh thần
v.v… Nhưng nhìn chung, cần phải công nhận rằng: đây là một nền văn hoá tình dục
đã đạt được những mức độ hài hòa cần thiết làm mất đi các chứng bệnh căng thẳng
thần kinh mà ta thường gặp ở những nền văn hoá khác.
CÁC NỀN VĂN HÓA PHÓNG TÚNG
Các nền văn hoá, trong đó hệ thống những
chuẩn mực và tập quán có mối quan hệ dễ dãi với các hoạt động chăn gối không phải
là hiếm. Chúng có mặt từ Châu Phi, Châu Mỹ, cho tới phương Đông và hiện nay
đang xâm nhập vào Tây Âu. Tiếc rằng, các cuộc nghiên cứu nhân chủng học và xã hội
học về loại hình văn hoá này còn quá ít. Để làm cơ sở cho việc nghiên cứu,
chúng tôi chọn ra công trình khảo cứu – cuốn “Giao tiếp tình dục trên đảo
Mangeria”[33] của D.S.Marshall viết về đời sống luyến ái của cư dân trên một
hòn đảo thuộc Cook (Thái Bình Dương). Đảo Mangaia rất nhỏ, đi chưa tới một ngày
đường. Nơi rộng nhất chỉ khoảng 7km. Giữa đảo là hòn núi Rangimotia, nơi bắt nguồn
của nhiều con khe cung cấp nước cho các khu ruộng bậc thang. Cư dân sống quây
quần thành từng xóm, mỗi xóm độ vài chục người. Ở đây vẫn còn sót lại rất nhiều
những phong tục tập quán có từ thời xa xưa. Dựa trên cơ sở phản ánh này mà
chúng ta có thể đánh giá về nền văn hoá tình dục của vùng miền Trung Polynesia.
Thổ dân cư dân đảo sống theo một quan hệ họ hàng đông đúc. Trẻ em chơi đùa với
nhau từ lúc lêng 3-4 tháng tuổi. Sau đó thì chúng tách ra thành từng nhóm nam
riêng nữ riêng. Đây là yếu tố tạo nền sự hình thành hành vi giới tính ở trẻ em
cho tới khi chúng trưởng thành. Trẻ em chỉ mặc trang phục vào ngày lễ hoặc lúc
đi chùa. Những biểu hiện tình cảm luyến ái ở trẻ em bắt đầu từ khi chúng tròn
8-10 tuổi. Người lớn mặc quần áo, nhưng không quá nghiêm túc, trịnh trọng.
Có vô số chuyện dân gian và ngụ ngôn
mang nội dung tình cảm giới tính. Tục cắt mào được xem như là giai đoạn từ giã
tuổi thiếu thời để bước vào thế giới người lớn. Ngoài ra “thủ tục” để trở thành
người lớn còn bao gồm những chi tiết nghi lễ hết sức đặc biệt. Trong buổi lễ thụ
giới vị chủ tọa sẽ hướng dẫn cho chàng trai những kiến thức cụ thể về đời sống
chăn gối với các kĩ năng sinh hoạt và nghệ thuật ân ái nhằm đưa lại cho người
phụ nữ niềm khoái cảm và thỏa mãn. Sau đó đối tượng sẽ được trực tiếp “thực
hành” chăn gối với một phụ nữ già dặn kinh nghiệm. Kể từ thời điểm này, vị
thành niên đó có quyền tham gia vào mọi hoạt động giao hoan mà thông thường là
với những bạn gái đồng niên. Thổ dân xem tình dục là một hoạt động quan trọng.
Sinh hoạt chăn gối chủ yếu diễn ra vào ban đêm, trong các căn nhà để trống hoặc
ở ngoài trời và luôn tỏ ra nồng nàn, say sưa. Việc kéo dài thời gian sinh hoạt
được đặc biệt coi trọng. Thời gian làm tình khá lâu bằng cách ve vuốt ngực và bộ
phận sinh dục của nhau. Thanh niên thường sử dụng hình thức hôn môi. Phương
pháp ve vuốt nhằm mục đích tăng độ cương của vú và kích thích bài tiết chất nhờn
ở người phụ nữ. Thổ dấn đánh giá cao các thủ thuật làm tình trước khi ân ái vì
theo họ, nó có tác dụng kích thích khoái cảm do hai cơ thể truyền qua nhau. Những
người mới lập gia đình thường áp dụng nhiều tư thế sinh hoạt và thích nhìn ngắm
hình ảnh khỏa thân. Nhưng dần dần sự kích thích đó cũng trở nên nhàm chán và
khi đã có kinh nghiệm, họ chỉ sử dụng một vài tư thế sinh hoạt nhất định. Điều
quan trọng là làm sao để kéo dài thời gian ân ái trong những tư thế quen thuộc
trên. Tột đỉnh khoái cảm được xem là một thành phần quan trọng của hoạt động
chăn gối, song đấy chưa phải là mục đích duy nhất. Vấn đề cốt yếu là khả năng gặp
gỡ trong khoảng thời gian trên làm cho người phụ nữ nhận được khoái cảm nhiều lần
hơn hoặc khoái cảm kéo dài.
Các quan hệ ân ái: Mặc dầu mỗi người có
những đặc điểm khác nhau về nguồn gốc, mức độ phát triển lý trí và thể xác,
nhưng không ai có thể từ bỏ được lạc thú do đời sống luyến ái đem lại. Ở giai
đoạn trước khi hôn nhân, các thiếu nữ thường có cảm tình với những bạn trai đồng
niên, nhưng sau đấy họ nhanh chóng chuyển qua các đối tượng lớn tuổi hơn. Phía
con trai cũng thích những phụ nữ già dặn từng trải. Trước khi lấy chồng, trung
bình mỗi thiếu nữ có 3-4 tình nhân, còn con trai thì có tới 10 “cô bồ”. Motoro
(Đến đêm thì lẻn đến) là một hình thức tỏ tình phổ biến trong cư dân đảo. Khi
người nhà cô gái đã ngủ hết (Họ đều nằm chung một chỗ), chàng thanh niên mới
lén ra khỏi nhà mình và bí mật vượt qua những khu vườn sum suê sao cho đội tuần
tra không thấy, rồi cuối cùng lẹ làng đột nhập vào nhà cô gái. Gã ăn sương này
phải nhanh chân hơn các tình địch của mình mới hòng đoạt được gái đẹp. Nếu mọi
việc trót lọt, chàng trai có thể giao hoan suốt đêm với cô gái cho tới trước ba
giờ sáng. Trong trường hợp mà người đẹp tỏ ý xiêu lòng, hoặc anh ta đã trở
thành tình nhân thường xuyên thì việc đột nhập lại càng dễ dàng. Nếu bị phản đối,
anh thanh niên này chỉ còn lại hai con đường – một là tìm cách thuyết phục cô
gái, hai là dùng vũ lực để thỏa tình. Về phía người đẹp, cô ta có thể hô hoán cả
nhà dậy để buộc anh ta phải bỏ chạy.
Nếu vật giới của đàn ông đã vào người
phụ nữ thì sự kháng cự trên sẽ dừng lại. Đối với các phụ huynh thì quan điểm của
họ thường tỏ ra coi trọng việc cô con gái quan hệ chăn gối với nhiều đàn ông. Họ
cho rằng, nhờ đó mà con gái của mình sẽ lựa chọn được người chồng ưng ý nhất.
Hơn nữa hiện tượng này thay đổi tình nhân thường xuyên cũng bắt đầu từ quan niệm
cho rằng: chung đụng chỉ riêng với một người đàn ông có thể dẫn đến hậu quả
mang thai. Nhưng khi đã lỡ có thai cũng chưa chắc chắn là cha mẹ phía cô gái sẽ
gả con cho “thủ phạm”, mặc dù đây là yếu tố thường đẩy nhanh đến việc kết hôn.
Trước kia, tiêu chuẩn làm vợ là phải biết đảm đương việc nhà, còn ngày nay
thanh niên lại chú trọng đến hình thức bề ngoài hơn. Đối với các cặp vợ chồng
trẻ, sinh hoạt chăn gối không còn là chuyện ngỡ ngàng e thẹn nữa, vì các quan hệ
tình ái trước khi hôn nhân đã cho họ những kinh nghiệm nhất định. Những cản trở
đối với hôn nhân thường xuất phát từ yếu tố vật chất và tục lệ (chẳng hạnh như
mức độ huyết thống). Vì thế có khá nhiều nhanh niên trẻ đã phải đi tìm vợ ở các
làng đảo khác lân cận. Hôn nhân là một hiện tượng quan trọng trong đời sống xã
hội và tập quá cư dân đảo. Nó làm thay đổi lối sống trong sinh hoạt luyến ái của
người đàn ông. Bây giờ anh ta cố gắng để không hoang phí sức lực cho chuyện ái
ân nhiều lần trong một đêm nữa mà biết tạo ra một chế độ gặp gỡ dàn trải ra suốt
thời gian của cả tuần lễ. Vợ chồng rất ít khi được gặp nhau để nói chuyện thân
mật. Họ chỉ được gần gũi nhau khi ân ái. Ở vào độ tuổi tứ tuấn, phụ nữ nơi đây
đã tàn lụi nhan sắc, nhưng khoản “tươi mát” của họ vẫn còn dạt dào và dường như
còn dữ dội hơn xưa. Tuổi già chỉ đến dần dần và thổ dân chuẩn bị cái chết một
cách có ý thức. Cái chết của một thành viên là sự kiện gây chấn động mạnh cho
toàn bộ cư dân đảo. Hiện tượng ngoại tình không có gì là ghê gớm đối với tập tục,
nhưng rất hiếm khi xảy ra. Thông thường các quả phụ tìm đến những người tình cũ
của mình. Thổ dân ở đây cho rằng, trong lĩnh vực luyến ái, mỗi người cần có một
quyền tự do nhất định. Nếu ngoại tình làm ảnh hưởng xấu đến quyền lợi chung thì
sẽ bị xã hội trừng phạt.
Các nhà truyền giáo Ki tô đã ảnh hưởng
đáng kể tới những tập quán của cư dân, nhưng thái độ và quan điểm của hai bên
rõ ràng là khác biệt. Các nhà giảng đạo Châu Âu có lối sống khổ hạnh trong lúc
dân địa phương lại tỏ ra phóng túng dễ dãi. Các nhà truyền giáo cổ xúy cho tư
tưởng luyến ái trong phạm vi hôn nhân. Tập quán cư dân đảo thì phản đối các
quan hệ tình dục cùng hoặc gần huyết thống, sinh hoạt chăn gối quá lộ liễu,
sinh hoạt tình dục tập thể, các hiện tượng lệch lạc đồi trụy, sử dụng thuốc
kích thích và nói chuyện tục tĩu. Có ý kiến cho rằng, ở nam giới khoái cảm thường
đến nhanh hơn, còn người đàn bà để đạt được điều đó cần phải có một quá trình
kích thích lâu hơn. Thế nhưng cũng có những phụ nữ ngay từ thời gian làm tình đầu
tiên đã xuất hiện khoái cảm tột độ. Đàn ông địa phương ở đây thường rất quan
tâm đến vấn đề khoái cảm của các đối tượng phái đẹp. Cần phải công nhận rằng,
việc thỏa mãn người phụ nữ là một đặc điểm trong nền văn hoá của cư dân đảo. Hiện
tượng bất lực ở nam giới bị xem như là bệnh hoạn và là một bất hạnh lớn. Nguyên
nhân của nó, người ta kết án ở việc hoang dâm bừa bãi. Các cung bậc tình cảm.
Thổ dân địa phương không hề có khái niệm tình yêu theo ý niệm của chúng ta. Đối
với họ, mặc dù vẫn tồn tại những trạng thái tâm lý bình thường như khát khao, đắm
đuối v.v… Những người địa phương biết tiếng Anh thường đồng nhất khái niệm
“tình yêu” và “chăn gối” là một. Đối với họ giữa hoạt động chăn gối và tình cảm
như không hề có mối liên hệ gì với nhau. Tình dục chỉ là do thói quen và kinh
nghiệm dẫn tới mà thôi (chẳng hạn như sự hiểu biết lẫn nhau, kĩ năng và nghệ
thuật ân ái) chứ không phải do bắt nguồn từ động cơ tình cảm. Trong quá trình
đi lại chung chạ, các quan hệ tình cảm mới bắt đầu này nở, nhất là ở những đôi
lừa đã có một quá trình gần gũi xác thịt lâu dài. Có thể nhận xét rằng, ở đây
tình dục đã dẫn đến tình yêu mà không phải là ngược lại. Việc nghiên cứu các tập
quán cư dân đảo Mangaia cho thấy là một người đàn ông bản địa hoạt động ân ái
nhiều hơn và thường xuyên hơn là một người đàn ông Châu Âu (?) bình thường. Tuy
nhiên sự vô độ thái quá đôi khi làm cho một số cư dân rơi vào hậu quả vô sinh
và bệnh liệt dương. Hiện tượng lệch lạc trong tình dục và đồng tính luyến ái hầu
như không thấy. Điều này cho phép chúng ta bác bỏ một nhận định rằng, nạn đồng
tính luyến ái tồn tại khắp nơi mà nguyên nhân là do sự thúc đẩy về mặt sinh lý.
Nếu quả đúng như thế thì chẳng lẽ thổ dân cư dân đảo lại là trường hợp ngoại lệ.
Nền văn hóa phóng túng của cư dân đảo Mangaia được định vị theo một điều kiện sớm
thích nghi với môi trường tình dục. Đấy là một yếu tố quan trọng góp phần hình
thành những giá trị tình cảm giới tính nam nữ. Mặc dầu nét phóng khoáng đó
không hề tiếp tay cho các tình trạng lệch lạc và bừa bãi trong đời sống luyến
ái của xã hội Mangaia. Phải chăng đấy là kết quả của một truyền thống tự do luyến
ái có tác dụng làm giảm bớt những chứng bệnh căng thẳng thần kinh do tình dục
gây ra. Nền văn hoá này là một bằng chứng sinh động cho một điều là bản thân
tình dục có thể tự tạo nên những cung bậc tình cảm giới tính như yêu thương, hờn
ghét, thân mật v.v… Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý rằng ở đây không tìm thấy sự
phổ biến của loại tình yêu lãng mạn đã từng rộ lên một thời khá dài tại phương
Tây. Nguyên nhân có thể là do thứ mốt thời thượng trên đòi hỏi quá cầu kì và phức
tạp, nó làm cho yếu tố tình dục bị chi phối và hạn chế phần nào.
CÁC NỀN VĂN HÓA BUÔNG THẢ
Khái niệm “văn hoá buông thả” để chỉ sự
chấp nhận mọi hình thức tình dục lệch lạc, đồng tính luyến ái, ngoại tình, làm
tình tập thể v.v… Nó quan niệm tình ái như là trò tiêu khiển và là ngọn nguồn của
những lạc thú. Loại hình văn hoá này thường gặp Olympos. Chúng tôi gọi Olympos
nhằm để chỉ một thành phần giai cấp đặc ân đặc quyền và có thế lực. Không lấy gì
làm lạ là các nền văn hoá buông thả từng tồn tại dưới các cung triều vua chúa,
trong các tầng lớp quý tộc và thượng lưu. Giới lãng tử bấy giờ cũng được liệt
vào thành phần Olympos. Ưu thế địa vị xã hội cao của các đối tượng này đã dễ
dàng chinh phục được những trái tim đang thèm khát tình yêu lẫn danh vọng. Tuy
nhiên do nhiều nguyên nhân mà không phải toàn bộ các thành phần Olympos đều bị
cuốn vào lối sống trên. Nền văn hoá buông thả dưới những hình thức đa dạng đồng
thời cũng cuốn hút cả các tầng lớp xã hội có dây mơ rễ má với Olympos. Vào thế
kỷ XX những thành phần này sinh hoạt thành các công xã Hippy hoặc những cộng đồng
biệt lập. Thế nhưng rất hiếm khi văn hoá buông thả giữ vài trò chủ đạo trong đời
sống xã hội. Nguyên do là vì mỗi xã hội đều tạo cho mình một hệ thống các chuẩn
mực, cấm chế và quy định chung. Một trong những nền văn hoá buông thả nổi tiếng
là nền văn hoá Libertine ở Pháp. Thành phần Olympos của nó rất hạn chế, chủ yếu
chỉ trong giới triều thần bấy giờ. Lối sống sa đọa đã được thể hiện rõ ở trên
vô số các bức điêu khắc, tranh họa, tiểu thuyết và văn chương châm biến còn lưu
giữ đến ngày nay. Văn hóa Libertine đã xem các mối quan hệ tự do xác thịt là
thước đo giá trị của mình. Lòng chung thủy và mẫu mức khổ hạnh trước đây bị giễu
cợt và bị đồng nhất với thức bệnh hoạn bất thường. Các tình nhân và của các nhà
vua chi phối sâu sắc đến các chính sách và chiến lược quốc gia. Rất nhiều trường
hợp người ta đã bán đứt các thiếu nữ cho các triều thần giàu có. Để bù lại, họ
được sống trong các biệt thự sang trọng với những tài khoản chi phí thoải mái
hàng năm. Đời sống ân ái khá phong phú với các tư thế và kĩ thuật làm tình đa dạng.
Không thiếu những tài liệu nói về “Tình yêu kiểu Pháp”. Trong ngôn ngữ Pháp thời
đó còn lưu lại một kho tàng từ vựng tình dục học khá dồi dào.
Thiều đình Karl II ở Anh cũng là một bằng
chứng tiêu biểu của loại hình văn hoá buông thả. Dưới thời cai trị của vị vua
này, tất cả mọi thứ thuộc về lĩnh vực tình ái đều được cho phép, ngoại trừ bệnh
đồng tính luyến ái công khai. Nạn mãi dâm rất phát triển. Các khách chơi từ mọi
miền Châu Âu đều đổ về những nhà chứa nỏi tiếng ở Anh. Các cảnh làm tình mạnh bạo
được trưng diễn công khai trên các sân khấu. Ăn chơi dâm loạn được xem là biểu
hiện của lòng trung thành đối với nhà vua. Khắp nơi trên xứ sở sương mù này nổi
lên những bậc mệnh phụ đài các, phóng đãng mà ảnh hưởng của họ quả không nhỏ đối
với đời sống xã hội. Văn hoá cũng hết lời ca ngợi lối sống theo chủ nghĩa
Hedone[34]. Chúng ta có thể tìm thấy vô số những dẫn chứng từ các tài liệu khác
nhau mô tả một cuộc sống xa hoa trụy lạc trong giới vương giả và các tầng lớp
quý tộc giàu có. Mặc dù đấy không phải là lối sống bắt buộc, nhưng nó khẳng định
vai trò quan trọng của các tầng lớp Olympos trong sự phát triển nền văn hoá
tình dục buông thả. Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, các yếu tố buông
thả cũng có mặt ở nhiều nền văn hoá khác. Chúng xuất hiện cả trong các phong
trào tôn giáo (chẳng hạn như phong trào thờ tinh trùng của giáo phái Vasilian).
Tính chất phóng đãng nhuốm màu sắc thần bí là nét đặc trưng ở một số giáo phái
Ngộ đạo trong những thập kỷ đầu của Công nguyên. Đối với một số phong trào giáo
phái, lối sống phóng đãng đôi khi là phương tiện để tuyên truyền cho hệ tư tưởng
tôn giáo của mình. Cũng như vậy, nhiều hiệp hội tôn giáo đã không ngừng tăng cường
màu sắc thần bí phóng đãng. Chẳng hạn như Hiệp hội quỉ Sa tăng (Satanism) từng
nổi tiếng với nghi lễ khỏa thân và kết thúc là một cuộc hoan lạc tập thể giữa
các thành viên của Hội. Mặc dù, nhiều tài liệu đã thất lạc, nhưng chúng ta có
thể phỏng đoán rằng, trong nhiều thế kỷ đã xuất hiện không ít những hiệp hội thần
bí tôn thờ hình thức truy hoan tập thể và những tà thuật mang tính chất hoang
tàng phóng đãng. Chính điều kiện buông tuồng đó là nguyên nhân dẫn đến nhiều vụ
giết người và hãm hiếp ghê rợn.
Khuynh hướng tình dục buông thả cũng từng
có mặt trong các nền văn hoá cổ xưa của vùng Cận Đông. Nhưng các hoạt động
phóng túng thường gắn liền với những thời vụ nhất định – giai đoạn chuyển tiếp
từ mùa này sang mùa kia của năm. Lúc đó các thành viên trong hiệp hội được quyền
tự do quan hệ ân ái một cách thoải mái. Mục đích là nhằm thần thánh hóa các
phong tục tín ngưỡng và lòng thành của con người trước các đấng thần linh. Khoảng
thời gian tự do ân ái rất ngắn và nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt nặng nề. Tập tục
này được khẳng định trong Cựu ước kinh với việc các nhà lập pháp Do Thái đã tìm
cách ngăn ngừa dân chúng của mình khỏi những ảnh hưởng đó. Một thí dụ khác của
hành vi buông thả là các lễ tế của Tửu Thần, mà ở một số quốc gia ngoài ý nghĩa
tôn giáo chúng còn kèm theo cả tục uống rượu và những hoạt động truy hoan tập
thể. Ngày nay uống rượu cũng là nguyên nhân của nhiều trò chơi bời trụy lạc, mặc
dù tính chất của nó giờ đây đã trở nên khác trước. Hiện tượng buông tuồng phóng
túng phát sinh mạnh vào những giai đoạn khủng hoảng của nền văn hoá này hay nền
văn hoá kia, khi mà cơ cấu xã hội chịu những cơn chấn động sâu sắc và hệ thống
những giá trị đạo đức đang rơi vào tình trạng suy đồi nghiêm trọng. Một trong
những bằng chứng đó là cuộc cách mạng tình dục ở các nước phương Tây. Nhiều nhà
nghiên cứu cho rằng lý do buông thả tồn tại trong tình trạng vô ý thức của đa số
mọi người, song nó lại luôn luôn bị trấn áp bởi ý thức. Việc phân tích các giấc
mơ có nội dung tình dục và cả những biểu hiện đòi hỏi sinh lý dưới tác động của
rượu, đã khẳng định cho quan điểm trên. Trước đây, khi nghiên cứu sâu và vấn đề
này, chúng tôi cũng đã tìm hiểu hiện tượng hoang tưởng về tình dục ngoài đời và
trong giấc mơ. Có cảm giác như là các xu hướng phóng túng không phải toàn toàn
là đặc điểm thuộc tính chung cho tất cả mọi người. Chúng chỉ xuất hiện ở một số
đối tượng được đem ra nghiên cứu và không hiếm khi dẫn đến tình trạng bình quân
hóa. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của các chất kích thích đối với thần kinh cho thấy
rằng, một vài trong số đó gây ra ảo ảnh mang nội dung tình dục. Chính nhiều
nhóm hội thần bí sử dụng những chất kích thích này vào các buổi lễ thụ giới,
thí dụ như thổ dân da đỏ Trung Mỹ. Trong trạng thái đó dục tình được kích thích
mạnh, có thể tạo ra khoái cảm tột bậc mà không cần sự tác động trực tiếp của yếu
tố thực thể xác thịt. Như vậy là cũng có thể các hành vi dục tình đã xuất hiện
dưới tác động của các nơ ron hooc môn phức tạp lên những trung tâm thần kinh
tương ứng. Ở một số người, hiện tượng phóng túng tình dục có thể phát sinh từ hệ
quả của các tác nhân kích thích vô tri. Ở một số khác, nó phát triển dưới ảnh
hưởng trực tiếp từ các đối tượng giới tính. Do đó, khi đề cập đến loại hình văn
hoá buông thả, chúng ta cần phải tìm hiểu những biểu hiện cụ thể của nó từ các
hiệp hội thần bí phóng đãng và đồng thời phải thấy được những nhu cầu tình dục
mà chúng vượt ra khỏi sự kiểm soát của ý thức do tác động của rượu và các chất
kích thích có tác dụng thúc đẩy hành vi tình dục ở một số đối tượng cụ thể. Những
hình thức biểu hiện cụ thể của hành vi buông thả hết sức đa dạng và khác nhau,
chẳng hạn như giữa các hiệp hội Libertine và phái Swingers. Theo Bartels thì hoạt
động tình dục của những người Swingers chỉ đơn thuần là những động tác máy móc,
mang tính kĩ thuật, mà hoàn toàn thiếu chất cảm xúc rung động. Hệ quả là các
quan hệ ân ái bị phi nhân tính và trở thành trò tiêu khiển mang tính chất
thương mại. Tình dục được xem như một hình thức công nghệ với việc luyện tập
các thao tác chuyển động rập khuôn, trong đó sức bền và kỹ xảo là yếu tố quan
trọng. Các đối tượng của phong trào Libertine lại đưa ra những tiêu chuẩn khác.
Họ quan niệm tình dục là một hình thức giải trí lõa thể dựa trên cơ sở tình bạn
nhóm hội. Ở đây mọi người giao tiếp với nhau một cách tự nhiên, lịch thiệp và
thậm chí rất tinh tế. Phóng túng nhưng không thô bạo. Phóng túng với những hình
thức sinh hoạt đa dạng và toát lên xúc cảm thực sự. Nói chung sự khác nhau giữa
phong cách Swingers và các hiệp hội Libertine bắt nguồn từ ý thức của hai thời
đại khác nhau và những quan niệm bất đồng về vấn đề tình dục, tình yêu.
NỀN VĂN HÓA CỦA NHỮNG TÌNH NHÂN
Các phong tục cho phép những quan hệ
tình dục ngoài hôn thú có mặt ở nhiều nền văn hoá và tồn tại dưới những mô típ
khác nhau. Nói chung đấy là biểu hiện của thứ đạo đức hai mặt trong các nền văn
hoá có truyền thống phụ quyền lâu đời, nơi mà phong tục cho phép nam giới được
ngoại tình và ngược lại cấm chế đối với phụ nữ. Ở đây người ta đã lập luận rằng,
bản chất của đàn ông là đa thê và hành vi tự do của họ không gây ra hậu quả
nghiêm trọng cho hôn nhân. Còn đàn bà thì đại diện cho một thứ tâm lý đa cảm, yếu
ớt và bồng bột, vì thế họ cần phải được pháp luật và nam giới giám sát. Tóm lại
quan hệ ngoài hôn nhân đã phát sinh trên cơ sở những quan niệm khác nhau về giới
tính, hoặc là nghiêm khắc với giới nữ, trong khi tỏ ra dễ dãi với cánh đàn ông.
Tại các nước Châu Âu, chính luật pháp cũng đã bảo vệ cho những tập quán trên.
Ngay cả ngày nay, những tàn tích đó cũng chưa lùi hết vào dĩ vãng. Một số truyền
thống phụ quyền hiện còn tồn tại ở Ý, Tây Ban Nha và nhiều nước khác, là những
bằng chứng cụ thể. Cho đến những thập kỷ 80, tại Brazil vẫn còn nạn giết vợ.
Các ông chồng vũ phu thường đày đọa vợ mình đến chết nếu có dấu hiệu nghi vấn
ngoại tình. Còn tòa án và các luật sư thì tìm cách bảo vệ cho kẻ giết người với
những mức án mang tính chất tượng trưng. Tất cả những nhân vật này đều cùng lập
luận ngụy biện rằng chỗ đứng của đàn bà là ở nhà và họ cần phải phục tùng nam
giới. Nếu người vợ cũng giết chồng với hình thức tương tự thì cô ta sẽ bị trừng
phạt hết sức nặng nề. Tại Brazil phong trào giải phóng phụ nữ chống lại quan điểm
cổ hủ trên đã vạch trần hàng nghìn bản án đầy rẫy sự phân biệt giới tính và
luân lý đang là áp lực đè nặng lên hệ thống lập pháp nhân quyền. Thái độ đồng
tình đối với các quan hệ ngoài giá thú là nét điển hình của nền văn hoá cung
đình trong giới quý tộc vương giả. Còn dưới triều của những vị vua cuối cùng
thuộc dòng họ Loudovic thì chúng trở thành một thứ nghĩa vụ đạo đức “trung quân
ái quốc”. Hôn nhân ở đây thường mang những mục đích vụ lợi hơn là yếu tố tình cảm.
Vào thế kỷ XII-XIII, phong trào Troubadour cũng tán thành vấn đề ngoại tình.
Cách đây chưa lâu, ngay tại Ba Lan cũng không ít những phụ nữ đã tìm cách vụng
trộm mây mưa trong khi chồng còn ở mặt trận hoặc công tác xa. Các tình nhân đã
vung tay “boa” những món chi phí hậu hĩnh cho những quả phụ lãng mạn này. Rõ
ràng đấy là biểu hiện của mục đích kinh tế, song cũng có những trường hợp mà bản
chất đa cảm, yếu đuối của một số phụ nữ đã đưa họ đến với những người đàn ông để
mong tìm một sự che chở, an ủi nào đó. Có thể nói, các quan hệ tình ái trước và
sau hôn nhân với tính chất đạo đức lá mặt lá trái của nó là một hiện tượng rất
thịnh hành ở Ba Lan.
Một trong những tập quán ngoại tình
tiêu biểu còn tồn tại cho đến ngày nay là nền văn hoá ngoại tình của chủng tộc
Turu mà nhà nhân chủng học Mỹ G.Shneider đã bỏ ra suốt 15 tháng trời vào những
năm 1959-1960 để nghiên cứu, khảo sát. Dân số hiện nay của tộc người Turu còn
khoảng 175.000 nhân khẩu. Họ nói tiếng Bantu và sống rải rác ở một số vùng thuộc
Tandania. Người Turu sống bằng nghề trồng mía, kê, nuôi cừu bò và các động vật
có sừng lớn. Tuổi dậy thì ở trẻ em phát triển khá sớm. Con gái đến 10 tuổi thì
được cắt âm vật và sau đó cho phép được lập gia đình. Cuộc sống tinh thần của
người Turu gắn bó mật thiết với Mbuia – là một tập tục diễn ra trong các buổi lễ
Imaa thần bí. Ở đó các quả phụ sẽ tâm sự cho nhau nghe về đời sống gia đình, những
cảm xúc và hoạt động chăn gối riêng tư của họ. Nếu người đàn ông nào có cảm
tình đặc biệt với ai trong số đó thì anh ta sẽ tỏ ý bằng cách thường xuyên tặng
quà cho đối tượng. Hành vi này được gọi là “Hembes”. Xã hội Turu đòi hỏi ở người
phụ nữ đạo đức phẩm hạnh, nhưng đồng thời cũng sẵn sàng tha thứ cho những tâm hồn
quá ư lãng mạn và… đa tình. Nếu người đẹp ngỏ ý muốn xin cái cuốc hoặc tìm cách
giấu lấy đôi dép của người đàn ông nào đó thì có nghĩa là cô ta đã phải lòng và
muốn quan hệ ân ái. Song phút quyết định nhất thì đối tượng nam giới ở đó phải
tự chủ động lấy. Nơi gặp gỡ của các đôi tình nhân thường là diễn ra ngay tại
nhà người đẹp, hoặc ở trong rừng và những địa điểm kín đáo khác. Nhưng tuyệt
nhiên họ không bao giờ kéo nhau về nhà người đàn ông. Hoạt động tình dục giữa
các tình nhân thường diễn ra một cách dè dặt, có điều phong phú hơn nhiều so với
khi quan hệ vợ chồng. Các đức ông chồng không hề phản đối và tỏ ra ghen tuông
khi biết mình đang bị vợ “xỏ mũi”. Ngược lại họ vẫn luôn giữ bình tĩnh và lịch
thiệp, thậm chí nếu chuyện tình của vợ mình đã bị vỡ lỡ, tai tiếng. Thế nhưng tại
sao các bà vợ vẫn cố ý che dấu mối quan hệ lẳng lơ của mình? Rất có thể là do họ
muốn thực hiện thủ thuật “bắt cá hai tay”, vừa muốn chiếm đoạt tình nhân, lại vừa
muốn giữ tình cảm của chồng đối với mình, thậm chí ngay cả trong trường hợp người
chồng không đồng ý.
Ở một chừng mực nhất định, tính chất
Mbuia còn được thể hiện trong điệu nhảy mang tên “Uiuma Ngoy”. Đây là một loại
vũ điệu có mặt trong những ngày lễ cắt âm vật của bộ tộc. Vũ điệu được thực hiện
qua hai giai đoạn: giai đoạn đầu chỉ có phụ nữ tham gia, gia đoạn thứ hai của
nam và nữ cùng nhảy. Ở lần sau, điệu vũ có những biến thể như sau: chân phải của
người phụ nữ nâng lên cao, chân trái đứng vững nhờ đôi tay giữ lấy vai hoặc
hông của người đàn ông. Còn người đàn ông thì ép sát vào giữa đôi chân người phụ
nữ và khi cả hai cùng xoay người nhảy thì bàn tay của anh ta hướng về chỗ kín của
người đàn bà với những động tác bắt chước hình thức làm tình với nhau. Tuy vậy,
tập quán ngoại tình của người Turu cũng có những khuôn khổ nhất định. Chẳng hạn
luật lệ ở đây nghiêm cấm quan hệ tình dục trong anh em họ hàng cách nhau năm đời.
Vì thế đàn ông Turu thường “cặp bồ” với những đối tượng không thuộc phạm vi
dòng họ của mình. Như vậy để tránh hiện tượng loạn luân, người Turu cũng đã có
một tập tục cấm chế nhất định. Theo tập quán ngoại tình địa phương thì các tình
nhân vốn rất bí mất trong các quan hệ dan díu của mình. Người chồng không thể
truy kết đối tượng đã quyến rũ vợ mình nếu thiếu những bằng cớ xác đáng. Chỉ
trong trường hợp cả hai bị bắt quả tang thì anh ta mới có quyền quy kết và yêu
cầu thủ phạm bồi thường là hai con bê nếu vi phạm luật loạn luân, hoặc sáu con
dê nếu tình nhân là người ngoại tộc. Trong trường hợp người chồng cho phép vợ
ngoại tình thì anh ta sẽ không truy cứu tình địch của mình. Tất nhiên anh ta vẫn
có quyền bắt buộc mối quan hệ trên phải chấm dứt, nhưng thông thường thì rất ít
khi xảy ra chuyện đó. Trong thời gian diễn ra cuộc tình, các cặp tình nhân bí mật
hẹn hò và tặng quà cho nhau. Người chồng và kẻ tình địch vẫn đối xử với nhau một
cách bình thường, thậm chí họ còn mới nhau uống bia, giúp nhau tu sửa nhà cửa
và các công việc đồng áng v.v… Các bà vợ của họ cũng rất đoàn kết và cùng nhau
tham gia đỡ đàn nhau việc nhà. Đối với người Turu mối quan hệ ngoại tình lý tưởng
nhất là những cuộc tình chỉ xoay quanh trong phạm vi ái ân, tặng quà cho nhau
và điều quan trọng là chúng không làm tổn hại đến cuộc sống gia đình.
Theo tập quán Turu, sự ổn định đời sống
gia đình dựa trên việc thường xuyên chăn gối và tình cảm của các bà vợ đối với
người chồng. Người phụ nữ ở đây không chỉ lệ thuộc vào các đức ông chồng mà còn
chịu sự kiểm soát của cha đẻ và anh ruột mình. Trên thực tế, hôn nhân là hình
thức người đàn ông mướn phụ nữ bằng cách thế của hồi môn của mình cho người vợ.
Toàn bộ số phận của người phụ nữ bắt đầu từ lễ cắt âm vật, hành kinh lần thứ nhất
đến nghi lễ Imaa huyền bí dành cho các quả phụ đều phụ thuộc vào cuộc sống của
người đàn ông. Nguyên nhân của tập quán ngoại tình ở đây là gì? Theo chúng tôi,
vấn đề mấu chốt trong trường hợp này là do quan niệm hôn nhân như một hình thức
khế ước. Hôn nhân mà không bắt nguồn từ tình yêu thực sự thì lòng trung thành vợ
chồng khó mà được bảo tồn. Một nguyên nhân khác nữa là do tâm lý cô đơn thường
xuyên ám ảnh các bà vợ đã làm cho những người này thông cảm và đoàn kết với
nhau. Họ đã không ghen ghét nhau mà ngược lại còn ngấm ngầm khuyến khích, ủng hộ
nhau. Chính những yếu tố trên đây là mầm mống phát sinh ra tập quán ngoại tình
của người Turu nhằm thỏa mãn những nhu cầu về mặt tình cảm mà tổ ấm gia đình vẫn
không bị đe dọa, tổn hại. Thiếu những biểu hiện rung động trong quan hệ vợ chồng
và xu hướng tìm kiếm chúng ngoài phạm vi hôn nhân là nguyên nhân đặc trưng của
tình trạng ngoại tình trong các nền văn hoá không phân biệt nhau về hình thái. Ở
đó hôn nhân dựa trên tính chất giao kèo chứ không phải xuất phát từ tình yêu,
luyến ái và lòng say mê thực sự.
CÁC NỀN VĂN HÓA THẦN BÍ
Đây là những nền văn hoá còn đang chứa
nhiều ẩn số và đang gây một sự quan tâm dặc biệt trong giới nghiên cứu và các độc
giả. Nếu như trong những thập kỷ trước, sự hấp dẫn của
phương Đông chỉ lôi cuốn giới quí tộc, lãng tử và trí thức, thì ngày nay cả giới
trẻ cũng đang hướng về nó. Các giáo phái mới cùng vô số hiệp hội thần bí tập hợp
xung quanh những vị thầy tu thứ thiệt hoặc giả dạng đang mọc lên như nấm. Cuốn
sách “Phương Đông và những nền văn hoá phản diện”[35] của tác giả St. Tokarsky
đã đưa ra nhiều tư liệu thú vị về đề tài này. Có thể nói, làn sóng trở về văn
hoá phương Đông đang rộ lên như một thứ mốt mới ở phương Tây. Xuất hiện nhan nhản
những giáo phái và nhóm hội tôn thờ tư tưởng Phật giáo, đạo Hindu hay những
hình thức sùng bái khác. Người ta cũng cho ra lò hàng loạt các ấn phẩm viết về
vấn đề liệu pháp tâm lý dựa trên những phương pháp của các trường phái tôn giáo
– triết học phương Đông mà trong đó có hẳn những chương hướng dẫn tỉ mỉ các kỹ
năng tình dục và cách thức chữa trị các bệnh rối loạn sinh lý. Rất khó mà phán
đoán rằng, việc sản xuất sách ồ ạt ở đây chỉ mang tính chất thời mốt, trào lưu
văn hóa phản diện hay thực sự người phương Tây muốn khai thác nền văn hoá chứa
đầy những tiềm ẩn này. Chúng tôi không đặt ra nhiệm vụ phân tích động cơ dẫn đến
tình hình trên mà chỉ điểm xuyết qua các nền văn hoá thần bí tiêu biểu nhất mà
thôi. Đó là hai nền văn hoá nổi tiếng: Đạo giáo và Tan-tri giáo. Để mô tả hành
vi tình dục trước hết phải hiểu rõ bản chất của nền văn hoá. Thiếu điều này
chúng ta khó mà nắm bắt được hết ý nghĩa của hành vi tình dục. Đạo giáo xuất hiện
vào thế kỷ VI Tr.Cn là một trong những truyền thống văn hoá vĩ đại của Trung Quốc.
Ngày nay, tư tưởng của nó đã được hàng chục triệu người ngưỡng mộ. Mặc dầu có
những thay đổi chút ít, song Đạo giáo vẫn là một truyền thống đầy sức sống.
Lĩnh vực tình dục trong Đạo giáo là một thế giới đa dạng, trong đó nổi lên tư
tưởng thống nhất và định hướng thần bí. Đạo giáo quan niệm thế giới như một tổng
thể năng lượng không thể đo được và cũng không bao giờ hao cạn. Dưới tác động
tương hỗ với thế giới xung quanh, mỗi thực thể con người hoạt động như một hệ
thống linh hoạt. Thể xác nằm trong sự biến đổi thường xuyên. Đạo tự như một thứ
mô toàn vẹn không ngừng biến đổi. Đây là một khái niệm phức tạp và khó định nghĩa.
Nói chung bản chất của Đạo là học tập cách sử dụng tình cảm và khả năng của
mình để nắm bắt được các hình thức của Đạo và liên kết với chúng một cách hài
hòa. Một trong những luận điểm chủ yếu của triết lý Đạo giáo là quy luật đối
kháng Âm –Dương. Hai yếu tố này thường xuyên chống chọi lẫn nhau và những xung
đột liên tục của chúng tạo nên động lực để phát triển. Âm thuộc về đàn bà với bản
chất đen tối, vô biên, sâu thẳm và cường thịnh trong mây đen, nước, chum vại,
hoa trái cùng nhiều loại động vật. Dương được biểu tượng cho người đàn ông với
những đặc điểm đỏ, sáng, cao, thiên cầu, có nhiều ở trong các động vật rồng, cừu,
gà trống, mùa hè, múi… Mục đích của các bài tập luyện và phát triển của Đạo là
mối hài hòa giữa con người với thế giới xung quanh. Cơ sở của sự hài hòa là cân
bằng Âm – Dương với biểu tượng Trời – Đất mà giữa chúng là Con Người.
Trong đời sống của người
Trung Quốc, tình dục luôn có một chỗ đứng đặc biệt. Chế độ đa thê phổ biến rộng
rãi trong các tầng lớp xã hội khá giả. Nó xuất phát từ những tín ngưỡng phản án
thuộc tính của đất. Phụ nữ thường được đồng nhất với đất (Âm), vì thế người đàn
ông có nhiều vợ là một hình thức khẳng định địa vị cao cả (Trời) của mình.
Trong quan hệ đa thê, người chồng phải làm cho các bà vợ của mình được thỏa mãn
về mặt chăn gối, song anh ta không được dẫn mình đến tình trạng kiệt quệ sức lực.
Đây là vấn đề hết sức quan trọng bởi vì người chồng là trụ cột gia đình và anh
ta phải đảm bảo cuộc sống tổ ấm của mình. Hơn nữa đó là hình thức để người đàn
ông bảo vệ địa vị uy tính của nam giới. Đạo cũng đem ra một số nguyên tắc nổi
tiếng về nghiệm vụ của người đàn ông là: đưa lại khoái cảm cho phụ nữ trên cơ sở
bảo tồn nguồn tinh lực của mình. Đây là yếu tố dẫn đến việc áp dụng nhiều hình
thức kĩ thuật trong đời sống chăn gối của người Trung Quốc. Đạo giáo đã để lại
một kho tàng tư liệu hướng dẫn về nghệ thuật ân ái với những vấn đề cụ thể như:
mức độ sinh hoạt, thơi gian lý tưởng trong ngày và cả năm, những độ tuổi thích
hợp cho hoạt động tình dục v.v… Mục đích của Đạo là nhằm giúp cho những đôi
uyên ương nhận được khoái cảm tuyệt với mà tình dục đưa lại. Các phương pháp
làm tình âu yếm cũng rất được các Đạo sĩ coi trọng. Họ cho rằng, giai đoạn chuẩn
bị này có tác dụng kích thích sự bài tiết tinh chất. Sự bài tiết này diễn ra mạnh
mẽ trong trạng thái sung mãn đỉnh điểm. Nghệ thuật ân ái trong Đạo giáo dựa
trên một số nguyên tắc cơ bản như sau: hạn chế xuất tinh, rèn luyện khả năng
khoái cảm trong điều kiện kiềm chế xuất tinh, biết cách thở đúng và sâu, tạo cảm
giác thoải mái và đồng tình về phía người phụ nữ, nhiệt độ và môi trường tối
ưu, ăn uống đầy đủ chất cần thiết, phát triển cảm thụ khứu giác và tri giác, áp
dụng khẩu ngữ ân ái v.v… Mục đích của hoạt động chăn gối là hoàn thành hàng
ngàn “cú ái tình”, tạo nên khoái cảm cả thể xác lẫn tâm hồn và cuối cùng là bước
chuyển tiếp đến một trạng thái say đắm huyền diệu tột đỉnh trên cơ sở hấp thu
được nguồn năng lượng cần thiết. Mặc dù việc tìm hiểu trên chỉ mới có tính chất
bước đầu và cũng chưa thể khám phá ra những nội dung đầy huyền bí của triết học
Đạo giáo, nhưng chúng tôi hy vọng là các độc giả đã có những ấn tượng nhất định
về nó. Quả thực đây là một nền văn hoá hết sức tinh tế mà mục đích cao nhất của
nó là nhằm vươn tới một nghệ thuật chăn gối hoàn thiện, qua đó đưa lại cho con
người những lạc thú tuyệt vời của ái ân.
NỀN
VĂN HÓA TRẤN ÁP TÌNH DỤC
Trong bức tranh tổng thể của nền văn
hoá tình dục thế giới có một loại hình văn hoá mà ở đó khác với nền văn hoá
phóng túng, mọi hành vi luyến ái đều bị trấn áp cấm đoán. Để hiểu rõ hơn, chúng
ta sẽ nghiên cứu cụ thể về một công xã người Ai len thuộc đảo Inis Big trên cơ
sở nguồn tài liệu thu thấp được từ các cuộc khảo cứu do J.C. Messenger – nhà
nhân chủng học Mỹ tiến hành vào những năm 70 của thế kỷ này[36]. Công xã nằm
trên một hòn đảo nhỏ gần nước Cộng hòa Ai len với 350 nhân khẩu và 71 nóc nhà
phân tán trong bốn cụm làng. Ở đây cũng có bưu điện, trường học, hai cửa hàng,
cơ quan y tế, xí nghiệp may mặc v.v… Không có cảng buộc cư dân phải sử dụng
thuyền để giao dịch buôn bán với đất liền. Kinh tế chủ yếu là chăn nuôi gia
súc, nông nghiệp, ngư nghiệp, du lịch. Hàng năm Công xã nhận được một khoản trợ
cấp tài chính của chính phủ. Đời sống xã hội cư dân đảo chủ yếu nằm trong mối
quan hệ giữa các gia đình. Cha, mục sư và giới trí thức có một vài trò hết sức
đặc biệt. Tất cả cư dân đảo đều là các tín giáo theo đạo Ki tô. Vấn đề đạo đức
luân lý luôn luôn được đưa lên hàng đầu. Đa số các trường hợp kết hôn là do cha
mẹ tự xếp đặt mà không cần phải thông qua sự đồng ý của con cái. Thông thường
đàn ông lập gia đình lúc 36 tuổi, còn phụ nữ lúc 25 tuổi. Nghĩa vụ hàng đầu của
các cặp vợ chồng là sinh con đẻ cái. Tình yêu được xem như một cái gì đó không
quan trọng cho lắm. Nam và nữ có lối sống khác biệt nhau. Trước cũng như sau
khi hôn nhân, họ chủ yếu sinh hoạt theo nhóm giới của mình. Mỗi gia đình trung
bình có 7 con. So với giới nữ, cuộc sống của cánh đàn ông tỏ ra phong phú hơn
nhiều. Họ tập trung nhau chơi bài, giao hảo, v.v… Phụ nữ thì phải luôn luôn cặm
cụi công việc đồng áng, nhà cửa, bếp núc. Tình trạng cấm đoán và phép lệ khe khắt
dã làm cho con người ở đây hết sức ngây thơ, ấu trĩ trong chuyện ái ân chăn gối.
Đề tài luyến ái không bao giờ được đem
ra thảo luận trong các cuộc nói chuyện hàng ngày. Các bậc cha mẹ xem việc đó rất
có hại cho trẻ em. Họ hoàn toàn để cho các con em của mình phải tự lo liệu xoay
sở lấy công việc “thầm kín riêng tư” sau khi lập gia đình. Dân cư địa phương
không hề hiểu những nguyên tắc sơ đẳng nhất về các vấn đề tâm sinh lý tình dục
thậm chí nhiều thuật ngữ đối với họ là của những điều hết sức xa lạ. Đa số các
thiếu nữ khi bước vào tuổi dậy thì đều không được chuẩn bị, giáo dục về hiện tượng
kinh nguyệt. Đây là nguyên nhân làm gây ra tình trạng sốc tâm lý của nhiều trường
hợp. Tại đây đang ngự trị một thành kiến cho rằng, sự suy yếu các chức năng
sinh lý ở giới nữ tất sẽ dẫn đến các hiện tượng rối loạn về tinh thần. Hầu hết
các chị em địa phương không hề biết cảm khoái ái ân là gì. Theo quan niệm của
nam giới, sinh hoạt chăn gối chỉ làm cho sức khỏe bị hao tổn mà thôi. Trước
cũng như sau khi lập gia đình, hình thức rất phổ biến để trung hòa những đòi hỏi
sinh lý của đàn ông là thủ dâm. Quan hệ tình dục trước hôn nhân bị nghiêm cấm
và giám sát nghiêm ngặt. Cách làm tình khi ân ái tỏ ra hơi vụng về dưới hình thức
hôn hít và ve vuốt thô thiển. Vai trò chủ động luôn luôn thuộc về người đàn
ông. Tư thế cổ điển và hình thức duy nhất được áp dụng trong sinh hoạt chăn gối./
Cư dân địa phương vẫn quen tập quán giữ nguyên quần áo khi hoạt động ân ái. Đàn
ông nhanh chóng đạt được thỏa mãn và yên giấc mà chẳng hề phải biết người đẹp của
mình có nhận được khoái cảm hay không. Khỏa thân hoàn toàn bị nghiêm cấm. Dân đảo
không có thói quen nói chuyện tục, không ôm nhau khi khiêu vũ, hội hè v.v… Ngay
cả trong gia dình, nam nữ cũng sinh hoạt một cách riêng rẽ và tình cảm rất ít
khi biểu lộ ra ngoài. Đối với con cái, các cha mẹ cũng hiếm khi có những cử chỉ
âu yếm, thân mật, thậm chí họ còn hạn chế cho con bú. Bất kỳ một sự tò mò của
trẻ em tới lĩnh vực tình dục đều bị trừng phạt. Hình thức trừng phạt chủ yếu là
các bậc phụ huynh dùng lời lẽ huấn thị hoặc nặng hơn nữa thì dùng roi vọt. Dân
địa phương thường có thói quen “ngôi lê mách lẻo” để giễu cợt những ai có biểu
hiện tình cảm “quá mức bình thường”. Đây là yếu tố làm hạn chế phần nào sự phát
triển các mối quan hệ luyến ái nam nữ. Thậm chí nhiều đôi uyên ương đã đính hôn
cũng không dám đi dạo chơi vì sợ những lời đàm tiếu dị nghị.
Tình trạng kết hôn ở lứa tuổi cao cùng
với nạn “lỡ thì” rất phổ biến trong cư dân đảo, không chỉ do hậu quả của một đời
sống luyến ái khe khắt mà còn xuất phát từ tập quán thừa kế truyền thống tại Ai
len. Con trai trong các gia đình thường phải chờ đợi rất lâu trong khi các ông
bố của mình suy ngẫm viết di chúc về quyền thừa kế. Hơn nữa các ông già lại hay
có tát giở chứng thay đổi đối tượng thừa kế và chừng nào còn sống thì họ chưa
muốn nhường tài sản – đất đai cho con cái của mình. Còn các bà mẹ thì lo sợ
nàng dâu lấn hết quyền hành trong khi con trai vì “tình” mà quên đi chữ “hiếu”.
Do đó không lấy gì làm ngạc nhiên là rất nhiều chàng trai ngoài 30 tuổi rồi mà
vẫn cố bám lấy gia đình, chẳng hề vội vã tính đến chuyện yêu đương và hôn nhân.
Còn các thiếu nữ mới đến tuổi trưởng thành đã canh cánh một nỗi lo bị ế chồng.
Sự nghiêm khắc trong tập quán, những đòi hỏi quá cao đối với vai trò một người
vợ đồng thời với qui lệ cấm li dị là những vấn đề hét sức đau khổ cho các cô
gái mỗi khi họ quyết định lập gia đình. Nhiều thanh niên đã tìm cách chạy ra nước
ngoài hòng thay đổi cuộc sống. Tình trạng này đang có chiều hướng gia tăng. Tất
nhiên hiện tượng di cư trên còn vì những mục đích kinh tế, song những nguyên
nhân sâu xa xuất phát từ các tập quán đạo đức địa phương không phải là không có
ảnh hưởng đáng kể. Rõ ràng giới trẻ đã không còn thích hợp với những tục lệ
khuôn phép thâm căn cố đế đang ngự trị trong đời sống xã hội cư dân đảo nói
chung và lĩnh vực luyến ái nói riêng. Ngoài ra, việc tiếp xúc với khách du lịch
nước ngoài tới đây càng đốt cháy thêm ở họ những ý định đi tìm hạnh phúc ở một
miền đất khác. Tại đảo có tới 29% đàn ông độc thân “quá lứa”. Cuộc sống đơn độc
tẻ nhạt của những đối tượng này là nguyên nhấn dẫn đến các hiện tượng phổ biến
như thủ dâm, rượu chè, quậy phá v.v… Thực chất đây là hình thức nhằm làm dịu bớt
những đòi hỏi sinh lý như một bệnh dịch đang lan tràn trong cư dân đảo. Trong
vòng nhiều năm J.C Messenger – tác giả của cuộc điều tra nghiên cứu và cùng với
vợ, ông đã tận dụng mọi phương tiện để thu thập tài liệu như hỏi chuyện, quan
sát, ghi âm, phỏng vấn các nhân viên của cơ quan phục vụ bảo vệ sức khỏe v.v…
Cũng cần phải nhận thấy rằng, vai trò của các vị mục sự địa phương đố với đời sống
xã hội ốc đảo là hết sức to lớn. Ông ta là người bảo vệ trung thành các tập
quán cũ, tích cực đấu tranh với nạn rượu chè và tìm mọi cách hạn chế những ảnh
hưởng từ bên ngoài mà khách du lịch và ngoại kiều mang đến. Tại sao cho tới nửa
sau thế kỷ XX mà một loại hình văn hoá cấm chế luyến ái như thế vẫn còn được tồn
tại? Có khá nhiều ý kiến về vấn đề này. Một số nhà nghiên cứu thì nhấn mạnh đến
ảnh hưởng của những yếu tố lịch sử Ai len, đặc biệt là tư tưởng của trào thuyết
tôn giáo Jansenism. Theo thuyết này mà người Ai len quan niệm về việc sinh con
như là một nghĩa vụ bất đắc dĩ và xấu hổ. Còn phụ nữ thì xem tình dục như một
cái gì đó mờ ám, nguy hiểm. Một số nhà bác học khác lại chú ý đến sự tác động của
các tập quán gia đình người Ai len. Ở đó ngay cả các bà mẹ vốn là những người
có uy tín nhất trong gia đình đã luôn luôn nhồi nhét cho con trai những thành
kiến đối với phái nữ. Các ông bốn cũng tỏ thái độ ác cảm không kém. Đây có thể
là những yếu tố gây nên xu hướng tình dục đồng giới vốn đang diễn ra một cách
âm thầm trong cư dân địa phương. Tóm lại những yếu tố đã ảnh hưởng đáng kể tới
nền văn hoá trấn áp tình dục này là: vai trò cha linh mục, tư tưởng Jansenism,
hình thức giáo dục trẻ và các tập quán lâu đời, định kiến đối với giới nữ, tập
quán thừa kế và một số thói quen xã hội (“ngồi lê mách lẻo”, các hình thức trừng
phạt trẻ em v.v…). Hơn nữa tình trạng biệt lập của ốc đảo trong một thời gian
dài với số dân ít ỏi cũng là những đặc thù đã tạo điều kiện cho sự tồn tại của
loại hình tình dục bị đàn áp, dù cho trên thế giới đang diễn ra những biến đổi
hết sức mạnh mẽ.
Tuy nhiên xã hội Inis Big không phải là
trường hợp duy nhất. Ngược lại loại hình cấm chế tình dục này có mặt khắp mọi
nơi từ Alaska cho tới những miền xa xôi của Australia. Để tìm hiểu nguyên nhân
của những nền văn hoá tương tự, chúng ta phải làm sáng tỏ các yếu tố tác động
liên quan đến tập quán giới tính, tình dục, luyến ái, đồng thời phải tìm hiểu cả
những ảnh hưởng lịch sử, tôn giáo, kinh tế và quan hệ gia đình. Các điều kiện
khách quan cũng không kém phần quan trọng. Xã hội càng biệt lập với bên ngoài
bao nhiêu thì tác động của những tập quán đối với nó càng mạnh mẽ bấy nhiêu. Qua
việc tìm hiểu xã hội Inis Big, chúng ta cũng nhận thấy một điều là ở phương Tât
cũng như ở phươgn Đông không hề tồn tại một nền văn hoá thuần nhất mà chỉ có sự
pha trộn và hợp hó, trong đó nổi lên những đặc điểm chủ đạo chi phối toàn bộ nền
văn hoá đó mà thôi. Inis Big không phải xa xôi gì với châu Âu, người dân ở đây
vẫn đọc báo chí và biết được những gì đang xảy ra trên thế giới. Có điều tập tục
lâu đời đã đè nặng lên tiềm thức làm cho họ khó long mà dứt bỏ được thế giới bất
biến của mình. Tuy nhiên thông qua các du khách và ngoại kiều luồn gió văn hoá
mới cũng đang không ngừng thổi tới ốc đảo bé nhỏ này, chúng làm cho bộ mặt các
tập quán và nhất là giới trẻ ở đây có những thay đổi rõ rệt. Vậy thì trước hoàn
cảnh đó liệu nền văn hoá đàn áp tình dục Inis Big có tồn tại mãi được không?
Tóm lại, qua việc nghiên cứu nền văn hoá tình dục của cư dân dâor Inis Big,
chúng ta có thể nhận xét rằng, các tập quán cổ hủ đã ảnh hưởng đáng kể đến đời
sống luyến ái, chúng là cho thế giới con người trở nên nghèo nàn, niềm sung sướng
và khoái cảm trước tình yêu luyến ái bị bóp nghẹt và tước mất.
NỀN VĂN HÓA DI CHỨNG LOẠN THẦN KINH
Cảm giác bị đe dọa và sợ hãi trước một
giới tính khác, tình trạng căng thẳng tâm lý khi âu yếm và ân ái, tự cô lập
mình với mọi người. Đấy là những dấu hiệu của chứng loạn thần kinh – một hiện
tượng khá phổ biến đối với nhiều người. Một số ý kiến cho rằng, chứng loạn thần
kinh phụ thuộc vào văn hóa, lứa tuổi cũng như thành phần giai cấp. Nhưng ở đây
chúng tôi xem chứng loạn thần kinh như một nét đặc thù của các nền văn hoá. Vì
lẽ dó nền chúng tôi tạm đưa ra khái niệm “Nền văn hoá di chứng loạn thần kinh”.
Nhiều nhà tâm lý học quả quyết rằng, quá trình loạn chứng thần kinh ở phương
Tây đang tiến triển mà biểu hiện trực tiếp là xu hướng gia tăng các căn bệnh
tình dục tâm thần. Song đây lại là một vấn đề ngoài lề. Trong mỗi nền văn hoá
và ở mỗi giai đoạn lịch sử xã hội cụ thể đều tồn tại những nạn nhân từ căn bệnh
loạn thần kinh. Khoa phân tâm học xã hội chuyên nghiên cứu về lĩnh vực này. Khi
nói tới nền văn hoá loạn chứng thần kinh là chúng tôi muốn ám chỉ những tập
quán cố hữu, mối quan hệ giữa các giới tính và những chế định xã hội với những
biến thể tâm thần được truyền từ thế hệ này qua các thế hệ khác. Dựa trên những
tư liệu lấy từ các cuộc khảo sát của các nhà nhân chủng học M. Altsuler, chúng
ta sẽ tìm hiểu về chủng tộc Caiapa là một trong những thí dụ tiêu biểu cho loại
hình văn hoá trên. Caiapa là một bộ lạc da đỏ sinh sống ở vùng hạ lưu tỉnh
Esmeralda thuộc lãnh thổ Ecuador. Cuộc sống của thổ dân gắn liền với con sông
mang tên Caiapa và những nhánh phụ của nó. Người Caiapa sống bằng nghề làm ruộng,
săn bắt và đánh cá. Họ thờ Thiên Chúa giáo một cách miễn cưỡng và hình thức.
Các thủ tục hôn nhân được tiến hành trong nhà thờ. Song song với các tập quán
Thiên Chúa giá, nhiều truyền thống bản địa vẫn còn tồn tại và gìn giữ. Người
Caiapa thích có con đàn cháu đống và đấy cũng là động cơ hôn nhân của họ. Tục lệ
thờ người chết có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống cư dân. Trẻ em sinh ra
được xem như là sự tiếp nối luân hồi số phận của người đã khuất dưới một dung mạo
và cuộc sống khác. Thủ tục dạm hỏi ở đây khá đơn giản. Sau một vài đêm “tìm hiểu”
nhau trong một cái trại bằng mùng quây lên, thế là cả hai đã đồng ý để tiến tới
thành hôn. Tuy nhiên cha mẹ phía đằng cô gái cũng có thể từ chối một cách khéo
léo mà không để cho kẻ cầu hôn phải mất lòng. Ngoài ra còn tồn tại tục lệ
“Suputangaima” – tức là một cách thức kiếm vợ đơn giản hơn. Theo đó vị hôn phu
sẽ trực tiếp đến gặp người đẹp mà mình ưng ý, đoạn ngỏ lời trăm năm thẳng thừng
với đối tượng. Nếu đề nghị được chấp nhận thì hôn nhân có hiệu lực ngay sau đó.
Trong trường hợp kẻ cầu hôn không đủ “dũng khí” đến gặp người đẹp thì anh ta buộc
phải cậy đến anh em họ hàng hoặc một “Hội đồng” gồm hai người da đỏ và hai người
da đen. Để trả ơn, vị hôn phu sẽ đãi những người giúp việc một chầu rượu rum thỏa
thích cùng với một khoản thù lao nhất định. Cuộc sống hôn nhân ở đây khá bền vững,
song việc ly dị cũng hết sức dễ dàng. Chỉ cần người vợ bỏ đi hoặc người chồng
ra lệnh cho cô ta ra khỏi nhà, thế là họ có thể chia tay với nhau mãi mãi. Các
đối tượng có quyền được đi bước nữa, nhưng họ chỉ được phép tái hôn với những
người đã từng có gia đình. Ngoại tình bị xem là một hành vi nghiêm trọng. Trừng
phạt thường do thủ lĩnh phán quyết mà chủ yếu là hình thức đánh roi. Riêng phụ
nữ thì chịu những hình thức nặng nề hơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy phái đẹp ở
đây tỏ ra đa tình mạnh mẽ hơn trong đời sống ân ái. Giới mày râu thì luôn luôn
bị ám ảnh bởi tâm lý tự ti về sự kém cỏi của mình. Rượu chè là một hình thức
sinh hoạt thường xuyên và không thể thiếu được trong đời sống của cánh đàn ông.
Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em Caiapa đã
chịu một chế độ giáo dục về vệ sinh hết sức nghiêm khắc. Trong mỗi gia đình,
người ta dựng một cây cầu nhỏ. Đàn ông và con trai vệ sinh phía cuối cầu, còn
phụ nữ và con gái đi ở phía trên cầu. Khi sắp có nhu cầu “vệ sinh”, các em bé sẽ
được đặt vào một cái lỗ trên cầu. Đứa bé phải ngồi ở đó cho đến khi đặng “hoàn
thành” nhiệm vụ. Sau đấy để thưởng cho việc luyện tập trên, người mẹ sẽ cho đứa
bé bú sữa. Trên cơ sở lý thuyết về sự phát triển tâm lý tính dục ở giai đoạn trẻ,
các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng, chính hình thức vệ sinh trong tình
trạng bị gò ép căng thẳng như thế đã làm phát sinh ra một số tâm lý như cảm
giác sợ người, tâm lý bị bỏ rơi và e dè trong tình dục. Chế độ giáo dục trẻ em ở
đây cũng rất nghiêm khắc. Lúc lên 2-3 tuổi là thời gian đòi hỏi phải được đi đứng
thì chúng lại bị giữ chặt một chỗ trong nhà. Tóm lại chế độ giáo dục vệ sinh kiểu
gò ép, việc cản trở nhu cầu đi đứng vui chơi của trẻ cùng với điều kiện ăn uống
không thích hợp là những yếu tố quyết định đến quá trình hình thành hành vi
tình dục và luyến ái sau này của các thành viên xã hội Caiapa.
Mỗi khi thấy người, nhất là kẻ lạ mặt,
dân bản xứ thường hay bỏ chạy hoặc lẩn trốn. Họ dường như sống với ba thế giới
khác nhau (cư dân, người da đen, người da trắng) và ứng với mỗi thế giới là một
cách cư xử riêng. Để khắc phục nhược điểm của mình, thổ dân buộc phải tìm đến
rượu. Uống rượu làm giảm bớt cảm giác sợ hãi, kể cả sợ hãi trước ái ân. Mức độ
dục tình trong nam giới địa phương rất thấp. Nhiều người sinh hoạt chăn gối một
cách miễn cưỡng. Khả năng ân ái 2 – 3 lần trong một tuần đã là một “chiến tích”
tự hào của đàn ông Caiapa. Thậm chí trong giới nam nhi bản xứ còn phổ biến một
khái niệm ám chỉ hoạt động ái ân là “Medio Trabana” (Chẳng khác gì sự khổ sai).
Cần phải thấy rằng, khả năng tình dục quá yếu của đàn ông Caiapa bắt nguồn từ
các hình thức làm tình nghèo nàn, thời gian kéo dài của một cuộc ái ân quá ngắn
ngủi, tư thế sinh hoạt đơn điệu và thể lực của người đàn ông mau chóng bị hao
kiệt – đây là toàn bộ những đặc trưng của đời sống tình dục và luyến ái của cư
dân Caiapa. Có lẽ sinh hoạt tinh thần của người dân Caiapa sẽ nghèo đi biết mấy
nếu như họ không biết đến làn vũ điệu truyền thống mang chút ít hơi hướng hương
vị trữ tình của mình trong các ngày lễ Noen và Năm Mới. Vào những dịp vui đó,
các cô vợ sẽ trưng diện những bộ cánh đẹp nhất và sau nữa trở thành những vị
khách dễ thường nhất của các đức lang. Các nàng sẽ tiến vào “Phòng trai”[38]
trong một tư thế hết sức uyển chuyển và nhí nhảnh. Ông chồng thì đầu tóc rối xù
và tất nhiên là người tỏa ra nồng nặc mùi rượu, lảo đảo bước ra đón chào người
đẹp. Đoạn cô vợ sẽ thực hiện một số động tác quay vòng với tốc độ nhanh làm ta
liên tưởng đến điệu vũ của con chim công. Ông chồng phải đứng xa một chút để
không bị đụng vào chuyển động. Vũ điệu đó được lặp đi lặp lại vài lần cho đến khi
người đẹp đột ngột dừng lại và lui ra. Tất cả những tình tiết của tục lệ trên
đã phản ánh một mối tương quan hết sức đặc biệt giữa hai giới tính. Phụ nữ chiếm
ưu thế giữ quyền chủ động, chi phối và hoàn toàn bộ diễn tiến của vũ điệu. Mặc
khác vũ điệu cũng toát lên sự yếu kém của đàn ông và biểu thị sức mạnh dục tình
của phái đẹp thổ dân Caiapa. Tóm lại văn hoá tình dục Caiapa là một bộ phận
tinh thần trong đó đời sống luyến ái hết sức nghèo nàn và què cụt cùng với xu
hướng tâm lý thiếu tự tin cũng như nỗi sợ hãi trước tình dục. Vai trò của nam
giới tỏ ra yếu kém, ngược lại phụ nữ thể hiện tính cách mạnh mẽ và đầy thách thức.
Tất cả những nét đặc trưng này được phản ánh rõ nét trong văn học dân gian và
thần thoại Caiapa. Hội chứng loạn thần kinh của người da đỏ có nguồn gốc xâu xa
với các hình thức giáo dục trẻ em và tệ tục uống rượu là những nguyên nhân gây
nên tình trạng què cụt, bệnh hoạn trong đời sống luyến ái của cư dân Caiapa.
HÀNH VI TÌNH DỤC TRÊN THẾ GIỚI
Tình dục trẻ em. Sự tò mò về giới tính
và thể xác, sự ham mê đối với những trò chơi mang tính dục giữa các bạn bè đồng
niên nhưng khác giới là những hiện tượng phổ biến trong các nền văn hoá. Những
cảm quan phong phú của trẻ em về tình dục phần lớn bắt nguồn từ sự quan sát các
hành vi ở người lớn. Tâm lý bị kích thích sinh lý bắt đầu xuất hiện ở trẻ em mà
một trong số chúng đã có khả năng cảm nhận được nguồn khoái lạc này. Thật khó
mà tưởng tượng nổi, trẻ em đã quan hệ xác thịt với người lớn tại nhiều nền văn
hoá trên thế giới ra sao? Trong các cho xã hội sơ khai, quan hệ tình dục giữa
đàn ông với các bé gái là một hiện tượng khá phổ biến. Thủ dâm. Kết quả của các
cuộc khảo cứu cho thấy rằng, trong các xã hội nơi mà thái độ đối với các hiện
tượng ngoại tình và tình dục trước hôn nhân tỏ ra cởi mở thì chứng thủ dâm được
hạn chế rất nhiều. Thủ dâm bị phản đối trong những nền văn hoá sơ khai. Người
ta quan niệm đấy là thể hành vi đẩy con người vào một tình trạng lố bịch. Quan
hệ tình dục trước hôn nhân. Trên nguyên tắc đại đa số các nền văn hoá đều tán thành
các quan hệ tình dục trước hôn nhân, nhưng thông thường điều đó phải đi đôi với
những điều kiện nhất định. Trong trường hợp này, tại nhiều nơi, kể cả những nền
văn hoá phản đối quan hệ tình dục trước hôn nhân vì những lý do thuộc về tôn
giáo, tập quán cũng tỏ ra dễ dãi đối với nam giới hơn là phụ nữ. Tại một số nền
văn hoá, trong đó có các nền văn hoá châu Á, phụ nữ nói chung bị cấm chỉ các
quan hệ tình dục trước hôn nhân. Nếu không chứng minh được sự còn trinh của
mình trong đêm tân hôn thì cuộc hôn nhân với cô gái đó sẽ không trở thành hiện
thực. Tại Ấn Độ các thiếu nữ hầu như không hề được nếm mùi vị hương hoa của luyến
ái trước khi họ đi lấy chồng. Bởi vì theo tập quán ở đây thì mọi cuộc hôn nhân
đều do cha mẹ tự sắp xếp lấy. Thậm chí trước đó trai gái cũng dường như chưa hề
biết mặt nhau.
Ngày nay trong các nền văn hoá Ki tô
giáo, tình trạng phân liệt giữa thực tế và lý thuyết đang có chiều hướng gia
tăng. Phần đông đàn ông và thậm chí có khá nhiều phụ nữ đã không còn nhất nhất
tuân thủ theo những quy định hiện hành của Nhà Thờ về việc nghiêm cấm các quan
hệ tình dục trước hôn nhân. Nói chung dư luận xã hội có phần châm chước hơn đối
với những trường hợp mà các đôi tình nhân “ăn trước kẻng” đó sau này chịu cùng
nhau “kết tóc tơ duyên”. Ngược lại đối với những ai “thả dàn” quá mức thì búa
rìu dư luận xã hội ắt hẳn sẽ không tha. Hiện nay tại các nước Tây Âu, việc cấm
đoán ân ái trước hôn nhân đã không còn tồn tại. Theo kết quả của một số cuộc
trưng cầu ý kiến tiến hành từ năm 1975-1983 ở Pháp, Mỹ và Tây Đức thì có tới
75-92% số người tán thành ân ái trước hôn nhân. Người ta xem đây là công việc
riêng tư nằm ngoài phạm vi quản lý của nhà thời và đồng thời nó bình đẳng đối với
nam giới cũng như cả phái đẹp. Đời sống tình dục trong hôn nhân. Tại hầu hết các
nền văn hoá quan hệ vợ chồng là hình thức tình dục chủ yếu. Mức độ hoạt động
chăn gối dao động từ 2 đến 3 lần tình dục một tuần. Ân ái thường diễn ra tại
nhà và trước khi đi ngủ. Trong số các nước Tây Âu thì các cặp vợ chồng người
Anh và một số dân tộc Scandinavia là “xung” hơn cả, ngược lại “hiền” nhất là
người Giéc- măng. Thông thường mức độ sinh hoạt và thời gian ân ái của các cặp
vợ chồng dần dần có phần giảm sút theo quá trình chung sống. Ngoại tình. Phần lớn
các phong tục văn hoá thế giới đều hết sức “kỵ” chuyện ngoại tình của giới nữ.
Trong khi đó cũng là chuyện “ông ăn gỏi (chả) bà ăn nem” đó cả thôi, mà chúng lại
có vẻ bênh vực cho cánh đàn ông nhiều hơn. Đời sống tình dục ở lứa tuổi trung
niên. Đa số các nền văn hoá đều không phản đối hoạt động tình dục ở lứa tuổi muộn
mằn. Quan hệ thể xác đối với một số trường hợp vì hoàn cảnh như ly dị, góa bụa
v.v… cũng được hầu hết các tập quán tán thành. Các cuộc khảo cứu của Vinna và
Newton cho biết có một số nền văn hoá tán thành hoạt động ân ái của đàn ông
trung niên (Trung Quốc, Tây Tạng, Bedouin[39], Java, Okinawa…), trong đó có nền
văn hoá thậm chí không phản đối nam giới trung niên ăn nằm với những cô gái trẻ
(Văn hóa Samoa). Tồn tại 26 nền văn hoá tán đồng hoạt động chăn gối của những mệnh
phụ hồi xuân (Polynesia, Ấn Độ, Tân Ghi nê), 6 trong số này chấp nhận việc họ
đi lại với cánh thanh niên trẻ.
Các cuộc khảo sát tại nhiều nước phương
Tây cũng cho thấy tình dục tuổi “hồi xuân” còn mạnh mẽ gấp bội so với những
giai đoạn trẻ trung. Nó được quan niệm như là một hoạt động bình thường cần thiết
cho sức khỏe và nhu cầu tinh thần con người. Và càng kéo dài được hoạt động ái
ân chừng nào thì cuộc sống con người càng trở nền trường thọ bấy nhiêu. Tư thế
sinh hoạt tình dục. Các tư thế ái ân được áp dụng trên thực tế không quá đa dạng
như ta tưởng. Phổ biến nhất vẫn là tư thế cổ điển. Tại Melanesia và Australia
các cặp uyên ương thường sử dụng hình thức nam ngồi và nữ nằm ngửa. Một số chủng
tộc Bắc Phi có kiểu sinh hoạt giữa đùi (Phải chăng đây là phương pháp để tránh
thụ thai?). Ở phương Tây nói chung việc ứng dụng các lối chơi khác nhau thường
thấy trong các mối quan hệ ngoại hôn nhân và mãi dâm. Tư thế nằm nghiêng khá phổ
biến đối với một số tập quán Châu Phi và Châu Á. Khoái cảm ân ái. Đối với nam
giới, khoái cảm ân ái là sự đồng nghĩa với việc giao hợp, còn ở phụ nữ thì nó
phụ thuộc vào tính chế định văn hoá. Tại các nền văn hoá đàn áp tình dục và
Thanh giáo người ta đã tìm cách bóp chết nó. Ngược lại các tập quán văn hoá thần
bí và Apollo đã làm cho đa số phụ nữ thực sự được thỏa mãn và sung sướng. Tình
hình tương tự, kể cả đối với nam giới cũng tìm thấy trong các nền văn hoá
Polynesia. Nói chung hiện tượng kéo dài khoái cảm là rất hiếm khi xảy ra. Nếu xảy
ra, có chăng chỉ ở giới nữ, còn đối với đàn ông thì hầu như là không. Tại
phương Tây hiện tượng khoái cảm xuất hiện nhờ sự kích thích âm vật được xem là
chưa chín muồi. Người ta chỉ coi nó đúng là “tiêu chuẩn” khi nguồn lạc thú này
đạt được trong quá trình giao phối. Ngày nay, quan niệm trên đã trở nên lạc hậu
và để đạt được điều đó, nhiều đôi uyên ương trẻ đã bắt đầu biết áp dụng những
phương pháp kích thích khác nhau. Tại một số nền văn hoá Polynesia và Châu Phi
do tục lệ cắt âm vật nên đa số phụ nữ ở đây chỉ thực sự nhận được khoái cảm
trong quá trình giao hợp. Các thủ thuật làm tình ở đây chủ yếu là ve vuốt các bộ
phận sinh dục của nhau. Đồng tính luyến ái. Đây là hiện tượng tồn tại trong hầu
hết các phong tục tình dục thế giới. Có tới 2/3 nền văn hóa sơ khai tán thành
các quan hệ đồng tính luyến ái. Tại các nền văn hoá khác, tồn tại nhiều những
quan niệm về nó, từ thái độ bài xích hết sức gay gắt cho đến những cách nhìn tỏ
ra mềm mỏng và ủng hộ hoàn toàn. So với phụ nữ, hiện tượng này xuất hiện ở nam
giới nhiều hơn. Các hiện tượng lệch lạc tình dục. Nhiều nền văn hoá từng tồn tại
các câu chuyện thần thoại kể về những hiện tượng lệch lạc tình dục. Có thể nói
mức độ đô thị hóa và sự phát triển xã hội càng cao bao nhiêu thì các hiện tượng
đồng tính luyến ái càng nảy sinh nhiều bấy nhiêu. Ở Tây Âu các hiện tượng thờ vật
(Fetishism) và chứng phô bày (Exhibitionism) hầu như không phổ biến. Tóm lại,
qua việc tìm hiểu hành vi tình dục trong các nền văn hoá thế giới, chúng ta có
thể đi đến một kết luận chung rằng, hình thức tình dục khác giới
(Heterosexuality) thông qua quan hệ vợ chồng vẫn là hành vi tình dục chiếm ưu
thế hơn cả. Nói chung hoạt động chăn gối trong hôn nhân (mức độ sinh hoạt, cách
thức làm tình, tư thế, cảm xúc ân ái) của các dân tộc không đến nỗi khác nhau
nhiều lắm. Hành vi tình dục trong các tập quán bị chi phối bởi các qui định xã
hội (tiêu chuẩn đạo đức, tục lệ, tôn giáo v.v…).
|