|
NGHĨ VỀ TỰ DO
TRONG THỜI KHỐN QUẪN
Julia Kristeva
Từ Huy dịch
Vanhoahoc.edu.vn: Julia Kristeva là một nhà nhà lý luận phê bình văn học, nhà phân
tâm học, nhà văn, nhà nữ quyền luận và Giáo sư Đại học Paris 7 Denis Diderot. Tham
luận dưới đây được bà J. Kristeva đọc trong cuộc hội thảo do Đại học Bergen tổ
chức ngày 3.12. 2004 nhân dịp bà là người đầu tiên nhận giải Holberg (trị giá
540.000 Euro). Giải Holberg là một Giải thưởng Quốc tế của chính phủ Na Uy
thành lập ngày 1-7-2003 mang tên Giáo sư đại học, nhà soạn kịch nổi tiếng
Ludvig Holberg (1684-1754). Ông được xem là Molière của các nước Bắc Âu, và đã
giảng dạy siêu hình học, logic học, tu từ học Latinh, và lịch sử tại trường Đại
học Copenhague. Mục đích của giải thưởng này là nhằm khôi phục giá trị của các
ngành khoa học xã hội và nhân văn, luật học và thần học; bổ sung cho thiếu sót
của giải Nobel đối với các ngành này. Tham luận này bổ túc cho ta một cách nhìn
về vấn đề phổ quát văn hoá và loại hình văn hoá.
Thưa quý ông quý bà,
Tôi xin cảm ơn các thành viên của Hội đồng Giải thưởng
Holberg đã hào hiệp chọn tôi là người đầu tiên để trao tặng giải thưởng này, một
giải thưởng nhằm tôn vinh các ngành khoa học xã hội và nhân văn, luật học và thần
học. Tôi xin cảm ơn sự tham gia của quý vị trong hội thảo này, cảm ơn đã quan
tâm đến các công trình của tôi, cảm ơn quý vị tham gia báo cáo và sẽ tham gia
thảo luận với tinh thần khoa học và bằng hữu.
Tôi nói từ vị thế nào?
Đứng trước quý vị là một nữ công dân Châu Âu, gốc Bulgarie,
quốc tịch Pháp, và là người tự xem mình là một trí thức theo chủ nghĩa thế giới:
chỉ riêng từ này cũng đủ khiến cho người ta bị lên án ở nước Bulgarie thời tôi
còn thơ ấu. Thế giới đã thay đổi, và mặc dầu đất nước cội nguồn của tôi vẫn tiếp
tục vật lộn với những khó khăn kinh tế và chính trị, con đường từ nay đã mở rộng
phía trước, không chỉ vì nó tham gia vào khối NATO mà còn vì nó sắp là một
thành viên đặc biệt của Cộng đồng Châu Âu. Đấy là điều mà chúng ta không thể
hình dung ba mươi chín năm trước, khi tôi rời khỏi Bulgarie, năm 1965, để đến học
ở Paris, do được nhận một học bổng nhờ sự sáng suốt của tướng De Gaulle, người
đã dự kiến một Châu Âu trải dài từ Atlantique đến Oural.
Trong năm 2004 này, vào lúc tôi nhận được sự công nhận quý
giá của quý vị, tôi nghĩ đến thời kỳ đó, hoàn toàn chưa quá xa xôi, tôi nghĩ đến
những nỗ lực không ngừng, có lúc thận trọng có lúc mạo hiểm, của những người
đàn ông và đàn bà, và không chỉ riêng giới trí thức, dưới chế độ cộng sản, để
cho ngày hôm nay chúng ta đạt tới sự kỳ diệu, nếu ta muốn nói vậy, là việc
Bulgarie gia nhập vào câu lạc bộ những nước dân chủ. Nhưng cũng sẽ là kỳ diệu nếu
ta nghĩ đến nỗi đau, niềm hy vọng và công việc âm thầm của sự suy tư đã không
ngừng làm tiêu tan chế độ cực quyền.
Trong những dịp trọng thể như thế này, kỷ niệm về các bậc
thân sinh thường hay được gợi nhắc đến. Thực sự tôi nghĩ đến cha tôi, Stoyan
Kristev, con người học thức thuộc dòng chính thống ấy đã phát triển tính chất
Byzance đến mức cho tôi học tiếng Pháp ngay từ lúc còn rất nhỏ, bằng cách ghi
danh cho tôi vào trường mẫu giáo nữ tu Pháp để truyền cho tôi tinh thần hoài
nghi và tự do mà nền văn hoá Pháp hằng biểu dương cùng với tinh thần duy lý. Và
tôi nghĩ đến mẹ tôi, Christine Kristeva, tinh thần khoa học kết hợp với sự dịu
dàng, ý thức sâu sắc về nghĩa vụ của bà đã truyền lại cho tôi sự nghiêm khắc rất
cần thiết cho tất cả mọi người trong suốt quá trình xây dựng nhân cách cá nhân,
và hơn nữa đặc biệt cần thiết cho một người phụ nữ, trong những thử thách của
cuộc sống lưu đày. Chính trên cơ sở gia đình này, được củng cố bởi sự giáo dục
và nền văn hoá được bảo tồn và phát triển ở Bulgarie qua những thăng trầm của lịch
sử, mà tôi đã xây dựng nên những gì mà nền văn minh Pháp đến lượt nó mang lại
cho tôi. Trong thế giới toàn cầu hoá của chúng ta hôm nay, chính là với một cảm
giác mắc nợ và tự hào mà tôi mang những sắc màu của Cộng hoà Pháp đến nhiều đất
nước và lục địa khác nhau.
Tôi đã viết điều đó trong cuốn Là người ngoại quốc ngay cả
đối với chính mình (Etrangers à nous mêmes) và tôi xin phép được nhắc
lại ở đây: “Không ở đâu ta thấy rõ thân phận người ngoại quốc của mình như là ở
nước Pháp, không ở đâu ta thấy rõ thân phận người ngoại quốc của mình mà lại dễ
chịu bằng ở nước Pháp”. Bởi vì, vượt lên trên sự nhập nhằng của thuyết phổ biến,
truyền thống tra vấn của nước Pháp, địa vị của giới trí thức và tầm quan trọng
của diễn đàn chính trị - mà thời kỳ Khai sáng là một ví dụ điển hình tiêu biểu
cho văn hoá Pháp - cho phép phục hồi cuộc tranh luận giữa trí thức và chính
khách, mỗi lúc một căng thẳng hơn, sáng suốt hơn là ở những nơi khác. Đó chính
là phương thuốc thực sự cho chứng trầm cảm của quốc gia, cũng là phương thuốc
cho chứng hưng cảm, tức là chủ nghĩa quốc gia. Tôi tỏ lòng kính trọng đối với nền
văn hoá Pháp, nền văn hoá đã tiếp nhận tôi, và nó chưa bao giờ mang tính chất
Pháp hơn là khi nó tự đặt lại vấn đề, tới mức cười nhạo cả bản thân nó (biết
bao sức sống trong cái cười này!), và tới mức kết giao với những nền văn hoá
khác. Tôi đã thay đổi biết bao trong nền văn hoá này, trong ngôn ngữ Pháp này,
mà tôi nói và viết đã từ năm mươi năm nay, đến mức mà tôi gần như tin theo người
Mỹ, những người đã coi tôi là một trí thức và là một nhà văn Pháp.
Giải Holberg tặng thưởng cho những công trình của tôi, những
công trình được đánh giá là “cách tân và tập trung vào những vấn đề nằm ở giao
điểm giữa ngôn ngữ, văn hoá và văn học”, và quý vị cho rằng chúng có “tác động
chủ yếu” trong “nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn”, cũng như đối với “lý
luận của chủ nghĩa nữ quyền”. Quả thực, sau khi tôi đến nước Pháp, vào Noel năm
1965, lúc mà phong trào nữ quyền phát triển lên một bước mới, tôi đã không ngừng
suy nghĩ về đóng góp của phụ nữ vào dòng tư tưởng đương đại, và công việc này
đã kết tinh trong bộ ba công trình mới đây của tôi về Thiên tài nữ:
Hannah Arendt, Melanie Klein và Colette. Có thể quý vị sẽ tự hỏi mối quan hệ giữa
bộ ba tác phẩm này và nguồn gốc của tôi là như thế nào?
Có lẽ tôi sẽ nói rất dài về khả năng chịu đựng và trí thông
minh của những người phụ nữ ở đất nước nơi tôi sinh ra, nhiều người trong số họ
đã được minh hoạ trong văn học, cũng như trong những cuộc chiến đấu giành tự
do. Nhưng Thiên tài nữ của tôi không dành cho họ, bởi vì tôi muốn dùng
những ví dụ mà cả thế giới không thể phủ nhận được để lôi cuốn sự chú ý vào những
gì, nếu không phải là chưa được biết đến, thì ít nhất cũng đang còn là một câu
hỏi: “có một thiên tài nữ hay không?”
Việc nghiên cứu dẫn tôi tới chỗ phát hiện ra rằng người phụ
nữ trí thức đầu tiên - của Châu Âu - không phải là một vị thánh như Hildegarde
de Bingen (1098-1179) hay Angèle de Foligno (1248-1309), không phải là một nhà
văn (nhà văn xuất hiện muộn hơn) chẳng hạn như Bà de Sévigné (1626-1696) hay Bà
de Staël (1766-1817) (bà là một nhà thần học, một nhà văn và có tinh thần chính
khách, ngày nay bà đã có thể được xem như là nữ trí thức đầu tiên, theo nghĩa chặt
chẽ của từ này); mà nữ trí thức đầu tiên là một phụ nữ của quê hương tôi, một
phụ nữ Byzance. Đó là Anne Comnène, con gái của Hoàng đế Alexis đệ nhất, tác giả
của một cuốn lịch sử tuyệt vời về những cuộc thập tự chinh (chủ đề thời sự đặc
biệt nóng bỏng), và về triều đại của cha mình. Sinh năm 1083, Anne Comnème bắt
đầu viết vào năm 1138, ở tuổi 55, và hoàn thành tác phẩm của mình năm 1148: là
sử gia nữ đầu tiên, bà đề xuất với chúng ta một cách diễn giải về thời kỳ này
hoàn toàn khác với cách diễn giải của các nhà chép sử biên niên Phương Tây như
Guillaume de Tyr hay Foucher de Chartres. Được nuôi dạy theo tinh thần Hy Lạp,
là một độc giả hâm mộ Homère và Platon, tín đồ của đạo Thiên chúa mà về sau người
ta gọi là Chính giáo, bà là một phụ nữ nhạy cảm, u sầu, thậm chí lãng mạn; người
con gái đáng tự hào của cha mình, một triết gia, một chính trị gia, và bà đã viết
như một nhà chiến lược quân sự lo lắng cho sự thống nhất của Châu Âu, vấn đề đã
được đặt ra ngay từ thời đó.
Niềm tin của tôi vào một Châu Âu mở rộng chỉ có thể được thực
hiện với điều kiện là phải thiết lập được sự đối thoại thực sự giữa Tây Giáo hội
và Đông Giáo hội, và xây được những cây cầu bắc qua cái vực thẳm ngày nay đang
ngăn cách Chính giáo và Công giáo, vực thẳm rất đau xót ở phía Đông. Tôi cũng
tin rằng những tác phẩm đặc biệt như là những tác phẩm của Anne Comnène là cần
thiết cho những suy tư của chúng ta trong thời kỳ đương đại. Chính vì vậy tôi
đã lấy bà làm nhân vật chính trong trong cuốn tiểu thuyết mới nhất của tôi, Vụ
giết người ở Byzance. Và nhân vật này không theo chủ nghĩa sô vanh, vì Anne
Comnène không phải là một phụ nữ Bulgarie mà là một công chúa xứ Byzance, kể cả
khi bà có một người bà thuộc dòng dõi quý tộc Bulgarie, và kể cả khi hôn nhân
không phải là hiếm giữa vương quốc Byzance và gia đình hoàng gia của các Nhà nước
mới, những nhà nước này từng quấy nhiễu biên giới của Đế chế; ngoài ra những cuộc
đụng độ và bình định luân phiên nhau trong vùng Balkan, biến vùng này thành một
ví dụ điển hình của sự bất hoà (mà từ nay được gọi là “kiểu ban-căng”), nhưng đồng
thời cũng là ví dụ cho khả năng chung sống giữa các dân tộc và tôn giáo (cũng
được gọi một cách đặc thù là “kiểu ban-căng”), tất cả những điều đó đã được
nhìn thấy, được tiên đoán trước trong tác phẩm của Anne Comnène, thiên tài nữ
mà Châu Âu tương lai có nhiệm vụ phải phát hiện ra. Bản thân tôi đến từ Balkan
và được đào tạo bởi nền văn hoá Pháp đặc biệt coi trọng phụ nữ, có lẽ tôi tự
hào đã góp phần vào sự phát hiện này. Và tôi xin mời quý vị đọc Anne Comnène,
cùng với Arendt, Klein, và Colette - tại sao không chứ? Châu Âu vẫn chưa thôi
dành cho chúng ta những điều bất ngờ.
Vì thế mà không tách kinh nghiệm của phụ nữ như một “đối tượng”
riêng biệt, tôi đã cố gắng đặt nó vào trong tính hiện đại mới và trong những cuộc
tranh luận chính trị, triết học và văn học, những cuộc tranh luận đã thúc đẩy
việc giải phóng những người đàn ông và đàn bà. Như vậy để nói rằng tôi chỉ thừa
nhận mình là một nhà nữ quyền luận với điều kiện đưa những suy nghĩ của tôi về
tác phẩm và giới tính nữ trong chủ đề làm nên tiêu đề buổi hội thảo của tôi hôm
nay: “Suy nghĩ về tự do trong thời khốn quẫn”. Với khoảng lùi này, tôi tin có
thể nói rằng tiêu đề này có lẽ thích hợp với cái mà ở nước ngoài mọi người đồng
tình gọi là: “lý luận Pháp” hay “french theory”: một ảnh hưởng mà tên tôi luôn
được gắn liền với nó, một thuật ngữ được hình thành trong các trường đại học Mỹ
và về sau được sử dụng rộng rãi ở nhiều nơi khác. Nếu như hôm nay, tại Na Uy
này tôi nhấn mạnh sự đón tiếp nồng nhiệt mà giới đại học Mỹ và công chúng nói
tiếng Anh dành cho các công trình của tôi, thì chính là vì tôi bị thuyết phục rằng,
nếu không có những bản dịch sách của tôi ra tiếng Anh và chúng không được tiếp
nhận ở Mỹ thì thử nghiệm của tôi sẽ không bao giờ đến được với độc giả của đất
nước quý vị cũng như độc giả trên thế giới, và do vậy chính trong bối cảnh của
sự tiếp nhận này mà tác phẩm của tôi được lưu ý và có vinh dự được trao giải
Holberg. Trong khi cố gắng nói với quý vị rằng làm thế nào tôi nhận được chỗ của
mình ở đây, vượt lên trên câu chuyện cá nhân, tôi hy vọng làm sáng tỏ một vài mục
tiêu đạo đức, chúng là kết quả của công việc này, và chúng làm sáng tỏ cuộc đối
thoại thường là khó khăn, đôi khi dẫn đến xung đột, giữa hai quan niệm về tự
do.
Khi tôi tới Paris, cuộc chiến tranh Việt Nam đang giữa lúc
căng thẳng, chúng tôi đã biểu tình chống lại những trận ném bom của Mỹ. Chính
lúc đó René Girard mời tôi về giảng dạy tại Đại học Baltimore, ông là người đã
muốn giới thiệu Bakhtin với tôi trong cuộc hội thảo của Rolland Barthes. Tôi hầu
như không thấy mình có thể hợp tác được với lực lượng “sen đầm quốc tế”. Và mặc
dù có được lời khuyên rất biện chứng của thầy tôi là Lucien Goldmann, ông đã
nói với tôi: “bạn thân mến, cần phải nắm lấy đế quốc Mỹ từ bên trong”, thực sự,
tôi cảm thấy mình không có sức mạnh đó: tôi đã ở lại nước Pháp. Đó là năm 1966.
Vài năm sau, 1972, trong hội thảo Cerisy về Artaud và Bataille, tôi đã gặp Léon
Roudiez, Giáo sư của trường Đại học Columbia. Tôi thực hiện chuyến đi đầu tiên
tới New York năm 1973, và từ năm 1976, tôi trở thành giáo sư thỉnh giảng thường
xuyên cho khoa tiếng Pháp của trường đại học này - việc này có thể không cải
thiện khả năng tiếng Anh của tôi, nhưng đã cho phép tôi gặp gỡ với nhiều bạn bè
và đồng nghiệp trong thế giới rất đặc biệt của đại học Mỹ. Ngày nay, tôi có
vinh dự được giảng dạy ở Khoa Sau đại học của Trường đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn mới - trường đại học đã tiếp nhận Lévi-Strauss, Roman Jakobson và
Hannah Arendt, trong và sau Đại thế chiến hai.
Từ kinh nghiệm mà tôi có thể tóm lược ngày hôm nay và tôi đã
viết những phần chủ yếu trong cuốn tiểu thuyết Samouraïs, tôi chỉ muốn
giữ lại ở đây hai hình ảnh-biểu tượng gắn chặt với đời sống tâm lý của tôi, và
tôi hy vọng chúng sẽ mang lại cho quý vị ý niệm về sự gắn bó của tôi với nước Mỹ.
Hình ảnh thứ nhất là một tấm ảnh đen trắng nhỏ, do Léon
Roudiez chụp, trong tấm ảnh đó tôi đứng cạnh mạn xe lửa sắp đỗ lại ở chỗ những
ngôi nhà chọc trời của Mahattan; tôi còn là một nữ sinh để tóc dài. Vì tôi
không có ảnh chụp lúc đến Paris, nên bức ảnh này đối với tôi là dấu tích duy nhất
và tuyệt vời nhất của sự tái sinh trong “thế giới tự do”. Nó được in lại trong
cuốn Phỏng vấn Kristeva do Columbia University Press xuất bản. Một lần nữa
tôi xin bày tỏ sự trân trọng đối với những người làm việc ở nhà xuất bản này vì
sự cộng tác trung thành của họ, nhờ sự cộng tác đó mà công trình của tôi mới có
thể được phát hành bằng tiếng Anh và đến được với công chúng trên toàn thế giới.
Hình ảnh thứ hai là căn hộ của Morningside Drive trên Công
viên Harlem, nơi tôi ở trong thời gian dạy học tại Columbia. Nó ngập trong thứ
ánh sáng Mỹ lạ lùng này, vừa làm loá mắt vừa ấm áp niềm nở, ở đó tôi đã viết,
chủ yếu là theo ý mình, những trang của Câu chuyện tình yêu (1983) và Mặt
trời đen (1987). Trong huyền thoại của cá nhân tôi, căn phòng này là nơi đỉnh
cao của nỗi cô đơn hạnh phúc.
Cùng với Philippe Sollers, chúng tôi đã dành tạp chí Tel
Quel số 71/73, mùa thu 1977 cho New York, khi đó rất nhiều độc giả đã ngạc
nhiên. Rõ ràng là nó dành một sự biện hộ cho thứ dân chủ kiểu Mỹ, đối lập với sự
tập trung kiểu Pháp, mang tính chất nhà nước và tính cộng hoà cố chấp. Thực sự,
với tôi, luôn luôn đó là sự biết ơn đối với đặc tính dường như là phẩm chất đầu
tiên của nền văn minh Mỹ, và điều đó giải thích sự gắn bó của tôi với công việc
mà trường đại học Mỹ đã đề nghị với tôi (từ nay phải kể thêm các nước láng giềng
của Mỹ ở phía bắc: Canada và các trường đại học ở Canada): phẩm chất này chính
là lòng hiếu khách.
Lòng hiếu khách là khả năng mà một vài người có được khi họ
đem một căn hộ cho những người không có nhà ở, hoặc tạm thời không có nhà ở.
Tôi bị trục xuất khỏi đất nước của chủ nghĩa cộng sản và được đón nhận ở nước
Pháp, tuy nhiên không phải ở Pháp tôi cảm nhận được sự hiếu khách này - mặc dù nước
Pháp đã cho tôi quốc tịch - sự hiếu khách mà không bao giờ tôi có thể cảm ơn
cho đủ được. Được củng cố bởi truyền thống hành chính và văn hoá, đất nước đón
nhận tôi đã đẻ ra những cách tân cực đoan (như các phong trào tiền phong khác
nhau trong nghệ thuật, triết học, lý luận) để rồi sau đó không màng đến chúng nữa,
những cách tân này đã cuốn hút tôi và chúng đã thành công ở nước ngoài, nhưng đất
nước này cũng đẻ ra những bài xích dữ dội, nếu không muốn nói là nỗi căm ghét kịch
liệt chống lại những cách tân ấy.
Nhưng sâu xa, chính là quý vị đón nhận một phụ nữ Pháp ở
trong tôi, đó chính là một phụ nữ Châu Âu đã Pháp hoá, biểu hiện cho tinh hoa của
tính cách Pháp: một điều ngạc nhiên lớn cho bản thân những người Pháp, những
người không tự nhiên xem tôi là một trong số họ. Đến mức mà, đôi khi, trở về từ
nước Mỹ sau những cuộc tranh luận nảy lửa về công trình giới thiệu french
theory của tôi, tôi tự xem mình là một nữ trí thức… Pháp. Điều tương tự cũng xảy
đến với tôi khi mà sự bài ngoại ở cái đất nước già nua này làm tổn thương tôi,
và ve vuốt ý nghĩ là tôi đang thật sự ở nước ngoài.
Trong cái thế giới hiện đại được đặt dưới “trật tự mới của
thế giới”, chúng ta không thực sự có một định nghĩa tích cực để định giá nhân
tính (không phải theo nghĩa “nhân loại” mà theo nghĩa “phẩm chất của loài người”).
Đúng hơn là chúng ta bị đưa tới chỗ tự hỏi: “nhân tính là gì?” khi chúng ta
đương đầu với những… “tội ác chống lại nhân tính”. Kinh nghiệm cá nhân khiến
tôi nghĩ rằng định nghĩa tối thiểu về nhân tính, cái “độ không” (như Roland
Barthes đã nói) của “nhân tính” chính là khả năng hiếu khách. Vả chăng người Hy
Lạp đã không nhầm khi chọn từ “ethos” để chỉ thiên tư cơ bản nhất của nhân loại,
đó là thiên tư mà từ nay ta gọi là đạo đức, nó góp phần tạo ra một sự lựa chọn
- sự lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu, nhưng cũng là tất cả những lựa chọn
khác. Thế mà, từ ethos này có nghĩa là nơi ở quen thuộc, chỗ ở của động vật; và
qua sự phái sinh của ý nghĩa chỉ điều kiện cư trú này, nó đã dần dần chuyển
sang chỉ thói quen, tính cách, tính chất đặc thù ở mỗi cá nhân, ở mỗi nhóm xã hội.
Ý nghĩa hiếu khách này, tôi đã tìm thấy ở nước Mỹ, và bất chấp
vô số nhược điểm của lối sống Mỹ, đất nước này về nhiều phương diện là hiện
thân cho tương lai của xã hội toàn cầu hoá được thực hiện bởi những người ngoại
quốc đang chia sẻ cuộc sống với những người ngoại quốc khác.
Lòng hiếu khách, mà tôi được ban tặng, mà tôi sung sướng tìm
thấy lại ở đây, tại Na Uy, trước hết dành cho những ý tưởng, cho công việc của
tôi. Khắp những nơi tôi đến hoặc sách của tôi đến - chừng nào còn có thể - tôi
đều mang tới một ký ức văn hoá, mang tính chất Pháp và Châu Âu, trong đó trộn lẫn
truyền thống Giéc-manh, Nga và Pháp: Hegel và Freud, chủ nghĩa hình thức Nga,
chủ nghĩa cấu trúc Pháp, các nhà tiền phong Tiểu thuyết mới và Tel Quel. Có thể
người Mỹ, và có thể quý vị ở đây, ở Bergen, có cảm giác rằng nhân cách di trú của
tôi ít tính chất Pháp, với nghĩa khép kín, đôi khi kiêu kỳ hoặc khinh khỉnh, mà
người ta thường hiểu khi nghe nói đến từ này. Và rằng, qua trung gian một người
nước ngoài là tôi, quý vị, những người ngoại quốc khác, quý vị có thể tiếp cận
với nền văn hoá Pháp này, cũng là nền văn hoá Châu Âu, nó thường tỏ ra là không
thể tiếp cận được và tha thiết với sự thuần khiết của mình. Điều chắc chắn là một
số nghiên cứu của tôi đã được tiếp nhận niềm nở trong các trường đại học Mỹ -
tôi muốn nói đến sự cộng hưởng và sự phát triển - sự tiếp nhận niềm nở đó luôn
mang lại cho tôi niềm vui và động viên tôi rất nhiều. Đôi khi hình ảnh được
chuyển lại cho tôi khiến tôi ngạc nhiên, tôi không nhận ra mình trong đó. Nhưng
tôi chưa bao giờ và có lẽ không bao giờ có ý định tranh cãi. Vì đây là hai chuyện
hoàn toàn khác nhau: hoặc những diễn giải này là những điều hiểu sai vô ích, tự
chúng sẽ cạn kiệt - như là một vài cách thức sử dụng mang tính tranh luận và
phù hợp với quy phạm chính trị - hoặc chúng ở trong phạm vi của một nghiên cứu
cá nhân của những người đàn ông hoặc phụ nữ Mỹ, độc đáo và đầy tinh thần sáng tạo,
những người đã đồng hoá công việc của tôi với công việc của họ, và ngay lập tức
đụng phải những nguy cơ trong chính những tác phẩm của họ; bất chấp những hiểu
nhầm, chắc chắn đó là cách tuyệt vời nhất để biểu hiện tinh thần hiếu khách. Sự
“lai ghép” liệu có phải là việc chấp nhận những hậu quả không thể dự kiến? Thậm
chí đối lập với “sao chép”? (“clonage”: thuật ngữ dùng trong công nghệ sinh học
- ND). Tuy nhiên tôi không có cảm giác rằng sự áp dụng phù hợp với quy phạm
chính trị đã được thực thi một cách rộng rãi trong các trường đại học Châu Âu,
nơi sử dụng nhóm ngôn ngữ rô-man, nhóm ngôn ngữ Giéc-ma-ni, tiếng Anh hoặc nhóm
tiếng Bắc Âu, chắc hẳn chúng thích hợp hơn với tính chất nhạy cảm của Châu Âu,
tính chất này chính là nền tảng cho tác phẩm của tôi, tôi sẽ còn trở lại với
nó.
Một vài chủ đề của “mặt phân giới”
Tôi xin phép được nhắc lại ở đây bốn chủ đề trong các công
trình của tôi, những chủ đề dường như được bàn luận nhiều nhất, và đáng có một
vài hiệu chỉnh: liên văn bản, ký hiệu và biểu tượng (sémiotique và symbolique),
những quan niệm về sự ti tiện và đê hèn, và tôi nhấn mạnh vấn đề người ngoại quốc
và tính chất xa lạ.
1. Liên văn bản đã có rất nhiều thành công: siêu sao quốc tế
hay là bánh mứt kem, điều đó cũng tuỳ. Là sản phẩm của việc đọc Bakhtin, khái
niệm này kêu gọi cách đọc một tác phẩm văn học như là sự gặp gỡ của những văn bản
khác. Người ta thường hiểu nó trong một viễn cảnh của chủ nghĩa hình thức hoặc
chủ nghĩa cấu trúc, giống như việc điểm các trích dẫn, hoặc biến thái của phê
bình các tài liệu gốc. Đối với tôi, trước hết đó là đưa lịch sử vào chủ nghĩa cấu
trúc: các tác phẩm mà Mallarmé hoặc Proust đã đọc, và những gì thấm đẫm trong Việc
tuỳ cho may rủi hoặc Đi tìm thời gian đã mất cho phép chúng ta đưa
vào, trong chính những thử nghiệm của việc viết, sự hứng thú của Mallarmé đối với
chủ nghĩa vô chính phủ, hoặc là hứng thú của Proust đối với thuật thần bí Do
Thái của Zohar hay vụ Dreyfus. Đồng thời, bằng cách cho thấy cái bên trong tác
phẩm mắc nợ cái bên ngoài của nó nhiều đến mức độ nào, sự diễn giải phát hiện
ra tính không xác thực của chủ thể viết: nhà văn là một “chủ thể đang vận động”,
một hình nộm các-na-van, một đa âm, không có khả năng hoà giải, một sự phản
kháng thường trực. Chủ đề liên văn bản có vẻ như là hậu chủ nghĩa cấu trúc, nó
đã đưa vào cái mà tôi tạo ra trong những cuốn sách của mình những năm 1966,
1967 dựa trên mối liên hệ nội tại, bền chặt, theo tôi, giữa văn hoá và cách mạng.
2. Sự phân biệt mà tôi thiết lập giữa ký hiệu và biểu tượng
không hề có ý nghĩa chính trị lẫn nữ quyền luận. Đó chỉ là một mưu toan suy
nghĩ về ý nghĩa không như một cấu trúc mà như một thủ tục hoặc một tiến trình,
bằng cách phân tách, một mặt là những gì thuộc về các ký hiệu và sự móc xích cú
pháp và lô gích, mặt khác là những gì thuộc về xuyên ngôn (transverbal) tôi nói
rõ là xuyên ngôn bởi vì nếu nói tiền ngôn (préverbal) dễ gây nên sự lẫn lộn: ký
hiệu học không độc lập với ngôn ngữ, nó giao thoa với ngôn ngữ và, dưới sự kiềm
chế của ngôn ngữ, nó kết nối với các thành tố khác của ý nghĩa, những thành tố
này không phải là ý nghĩa: ví dụ như những kết hợp về nhịp điệu, giai điệu và
những dạng kết hợp khác.
Do ảnh hưởng bởi sự phân biệt của Freud giữa Sự tái hiện sự
vật và Sự tái hiện từ ngữ, tôi cố gắng chú ý đến tính chất nhị nguyên vốn đặc
trưng cho tinh thần của loài người, và đặc biệt hơn nữa là sự kìm nén xung năng
và cuối cùng là kìm nén sinh học ẩn ngầm sau ý nghĩa. “Khởi thuỷ (đúng) là Lời”,
nhưng đó là một sự kìm nén của khởi thuỷ. Tôi tin rằng tương lai của ngành phân
tâm học sẽ diễn ra theo chiều hướng này: logic vô thức xuyên ngôn ngữ
(translangage) sẽ tiến triển tới những câu thúc sinh học và thần kinh sinh học.
Chúng tôi đã cố gắng làm việc, tại Viện Tư tưởng Đương đại thuộc trường Đại học
Paris 7 Denis-Diderot, cố gắng đưa những mối quan tâm của các nhà sinh học và
các nhà phân tâm học xích lại gần nhau. Chính trong viễn cảnh này mà tôi tham
gia “dự án” của Tổng thống Jacques Chirac nhằm đảm bảo sự đồng hành cá nhân cho
những công dân tàn tật, và đảm bảo một sự tương tác thực sự giữa một xã hội
Pháp mạnh khoẻ và những người bị tổn thương nhất. Chắc chắn là sự tham gia của
phân tâm học trong thực tế xã hội và chính trị, không tách rời việc đọc lại và
diễn giải lại những tác phẩm của Freud, có lẽ về lâu dài sẽ tiếp thêm sức sống
mới cho chính bản thân môn phân tâm học.
Ngoài ra, ký hiệu xuyên ngôn này được quy chiếu về mối liên
hệ mẹ/con, và cho phép tôi đưa vào, trong một vài dạng thức của ngôn ngữ, khái
niệm tính nữ-thuộc tính mẹ (féminin-maternel) mà Freud gọi là “lục địa đen” hoặc
“nền văn minh Cret-Mixen cổ đại” (từ tên của nền văn minh Hy Lạp cổ đại đến Hy
Lạp cổ điển). Logic khác của tính nữ-thuộc tính mẹ này bất chấp biểu tượng mang
tính chuẩn tắc và trái ngược với biểu tượng dương vật, cũng như vậy nó đối lập
với nữ tính uy quyền (féminité phallique), đó là đóng góp của tôi nhằm cố gắng
suy nghĩ về nữ giới, đương nhiên là trong quan hệ với chính trị, nhưng qua
trung gian của… sự thánh linh.
Vào giai đoạn cuối của thế kỷ, nhìn bề ngoài, nếu như có sự
khát khao tôn giáo, thì thực chất đó là nỗi khao khát sự thánh linh. Qua đó tôi
hiểu mong muốn của những con người biết suy nghĩ - không phải với nghĩa tính
toán, mà theo nghĩa tra vấn - chính điều này phân biệt họ với những loài khác,
nhưng do vậy, thật mâu thuẫn, lại khiến họ gần gũi với những loài khác. Sự khác
biệt này của loài người, mà người ta có thể gọi là ý nghĩa thần thánh hoặc linh
thiêng, đối với tôi - một nhà văn, nhà phân tâm học, nhà ký hiệu học - nó nằm ở
chính sự xuất hiện của ngôn ngữ. Ký hiệu, với sự lệ thuộc vào người mẹ của nó,
đối với tôi dường như là chân trời xa xôi nhất mà tư tưởng đạt tới khi nó cố gắng
suy tư về những giới hạn của tự nhiên và chìm sâu trong chính bản thân nó. Được
hiểu như vậy, giống như sự xuất hiện của ý nghĩa, ký hiệu có lẽ góp phần nêu
lên những khái niệm cặp đôi của siêu hình học (cơ thể/tâm hồn, thể chất/tâm
lý). Chính quý vị nói rằng mối quan tâm của tôi có liên quan đến sự thánh linh,
và rốt cục, nó là mối quan tâm phản siêu hình học, duy nhất chỉ vì một sự phái
sinh, đó là chủ nghĩa nữ quyền. Quả thực, tôi gắn bó đến mức say mê với việc
làm thế nào để phụ nữ được công nhận trong đời sống xã hội, chính trị, trong giới
trí thức, đó chỉ là trong chừng mực mà chính xác là họ có thể mang đến một thái
độ khác đối với quyền lực và ý nghĩa. Một thái độ coi trọng nhu cầu được kéo
dài sự sống của nòi giống chúng ta, đồng thời cũng coi trọng mong ước có sự
thánh linh - người phụ nữ đứng ở giao điểm của hai đòi hỏi này.
3. Ti tiện và đê hèn là những khái niệm mà tôi đã phát triển
trước hết xuất phát từ những kinh nghiệm lâm sàng của tôi: đối diện với những
triệu chứng mà sau này tôi gọi là những Căn bệnh mới của tâm hồn, trong những
triệu chứng đó, sự phân tách giữa chủ thể và đối tượng không còn rõ rệt, và ở
đó hai á thực thể (quasi-entité) kiệt sức trong sự quyến rũ và sự ghê tởm. Những
nhân cách ở trạng thái cực hạn (border-line), cũng như một vài dạng trầm cảm có
thể được miêu tả từ kết cấu tâm lý này, chính nó cũng quy chiếu về mối quan hệ
không chia tách được với vỏ bọc mẹ (contenant maternel): người mẹ là sự đê hèn
đầu tiên, những nghệ sĩ như Picasso hay Kooning biết một vài điều về chuyện
này.
Cùng với những khái niệm ti tiện-đê hèn, tôi đã cố gắng đề cập
đến thế giới phức tạp của một tác giả như Céline. Céline, bậc thầy của những hư
cấu mang tính đại chúng, của phong cách vừa pha trộn tiếng lóng, vừa giàu nhạc
tính, và mang chứa một cảm xúc phi thường. Nhưng Céline không đi theo con đường
thanh tẩy sự đê hèn như các tôn giáo (tôi khẳng định rằng tất cả mọi tôn giáo đều
thanh tẩy sự đê hèn), ông miệt mài theo đuổi những đê hèn tưởng tượng mà trong
thực tế ông đã chuyển biến nó thành chính trị. Chủ nghĩa bài Do Thái và việc
ông tự hạ thấp thanh danh mình với tư tưởng Quốc xã được bày tỏ trong những bài
văn đả kích được viết từ ký ức buồn bã, mà tôi là một trong những người đầu
tiên đã thử đọc mà không sợ hãi, đọc trong tư cách một người phân tích.
Cuộc phiêu lưu trên mảnh đất nguy hiểm của sự đê hèn này đã
rất được tán thành: nhiều nghệ sĩ Mỹ cũng như các nghệ sĩ trên toàn thế giới nhận
ra mình trong kinh nghiệm của sự đê hèn. Quả thực đó là tình trạng gần gũi với
trạng thái loạn tâm thần mà nghệ thuật có thể phải đương đầu. Cuộc phiêu lưu ấy
cũng khiến tôi phải chịu sự chỉ trích của một vài giáo sư đại học và các nhà
báo, họ đã tuyên bố rằng những phân tích về Céline của tôi chỉ là để tìm cách
giải tội cho ông: cứ như thể cố gắng để hiểu là cần thiết phải tha thứ. Chính với
họ những nghiên cứu của tôi đã không được thấu hiểu, tôi đã nhận được sự thiếu
thấu hiểu độc đoán vào bậc nhất, giống như một kiểu rút phép thông công của một
người tán thành chính nỗ lực tư duy. Sự tẩy chay này đã phát triển như một
phiên bản bi kịch của một sự kiện của giới truyền thông, đúng hơn là mang tính
hài kịch. Dưới ngòi bút của hai giáo sư đại học khao khát vinh quang, phiên bản
bi kịch ấy mới đây dám khẳng định rằng đã “lột mặt nạ” những “kẻ lừa đảo của nước
Pháp”, bằng cách tưởng tượng ra là đã bác bẻ “sự hình thức hoá” chính xác,
trong khi ở đó thực ra chỉ có những chuyển đổi mang tính ẩn dụ.
4. Cuối cùng là tính xa lạ, có lẽ quý vị đã hiểu rằng đó là một
chủ đề mà tôi hết sức quan tâm. Là người ngoại quốc ngay cả đối với chính
mình đã nhận được Giải thưởng Hertz của Viện Hàn lâm Paris, nó cho tôi có
điều kiện nhìn bao quát lịch sử của những người ngoại quốc - số phận thực sự của
họ và cái cách mà họ được nghĩ đến ở Phương Tây. Đồng thời cũng là để phát triển
một quan điểm mà hiện nay vẫn còn đang khó mà làm cho mọi người hiểu được. Chẳng
hạn như trước chứng trầm uất quốc gia mà nước Pháp đang chịu đựng - và nhiều nước
khác cũng vậy - do nguyên nhân là sự toàn cầu hoá và dòng thác nhập cư, và chống
lại những phản ứng hưng cảm của căn bệnh trầm uất này (ví dụ như Mặt trận Quốc
gia), điều quan trọng trước tiên là phải khôi phục niềm tin đối với quốc gia.
Giống như ta khôi phục cơ chế tự mê và cái tôi lý tưởng cho một bệnh nhân trầm
cảm, trước khi tiến hành phân tích thực sự, đúng hơn là giải quyết dứt điểm, cơ
chế kháng cự và tự vệ của nó.
Ít ra thì trong thế kỷ tới đây, chắc rằng xã hội toàn cầu mà
chúng ta đã mơ ước từ thời Stoïcien và đặc biệt là vào thế kỷ Ánh sáng, sẽ
không thể được thực hiện dưới hình thức không tưởng của sự phổ quát văn hoá
hoà trộn, bị đồng dạng hoá bởi thị trường, giới truyền thông và internet. Đúng
hơn nó sẽ xuất hiện dưới dạng cùng tồn tại, ít nhiều mang tính xung đột, của
các quốc gia hoặc nhóm quốc gia được đưa tới chỗ cùng chung sống hoặc chống lại
những nhóm khác. Một hỗn hợp giữa lòng tôn trọng đối với bản sắc quốc gia và sự
cổ vũ cho lợi ích chung cần phải thay thế, ngay từ bây giờ, cho việc lạm dụng sự
toàn cầu hoá hiện nay.
Hai mô hình văn minh
Qua bốn chủ đề của mặt phân giới mà tôi đã lựa chọn trong số
nhiều chủ đề khác, chắc hẳn quý vị đã nhận ra những điểm thống nhất cũng như những
điểm bất đồng giữa chúng ta. Tôi sẽ không đi vào những chi tiết trong công việc
nghiên cứu của mình nữa. Tôi muốn nhân cơ hội mà quý vị dành cho tôi để nhìn lại
và tự tra vấn về bối cảnh văn hoá và chính trị trong đó đang diễn ra công việc
chung của chúng ta.
Sự sụp đổ của bức tường Berlin năm 1989 đã khiến cho sự khác
biệt giữa hai mô hình văn minh trở nên rõ nét hơn: văn hoá Châu Âu và văn hoá Bắc
Mỹ. Tôi sẽ xác định ngay lập tức, để tránh mọi sự hiểu nhầm, rằng đó là hai
quan niệm về tự do mà các nền dân chủ Phương Tây đã có đặc quyền tạo ra và nỗ lực
áp dụng trong tính tổng thể của chúng và không có ngoại lệ; chúng ta chưa đủ tự
hào về điều đó. Hai quan niệm về tự do dựa trên các truyền thống Hy Lạp, Do
Thái và Cơ đốc giáo, và chúng vẫn còn là giá trị tối cao của chúng ta bất chấp
tình trạng không lối thoát và sự ghê rợn mà tất cả mọi người đều biết rõ (quý vị
còn nhớ câu nói của Bà Roland trên đoạn đầu đài: “Tự do, bao nhiêu tội lỗi mà
người ta đã phạm phải nhân danh mày!”). Hai quan niệm này về tự do có thể thường
xuyên được đặt đối lập nhau, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nếu không phải
là trong chiến tranh; nghiên cứu về chúng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn những gì
dường như khiến cho Châu Âu và Châu Mỹ ngày nay trở nên cách xa nhau, chắc chắn
là sâu xa hơn những lợi ích kinh tế và chính trị trước mắt. Tuy nhiên, về cơ bản,
hai quan niệm về tự do này bổ sung cho nhau, và theo tôi, chúng cùng tồn tại
trong chúng ta, cho dù chúng ta ở bờ bên nào của biển Atlantique. Mặc dù có
nguy cơ trở nên sơ lược nhưng tôi vẫn tiếp tục đối lập chúng trong phần tiếp
theo để làm sáng tỏ bản thuyết trình của mình.
Chính Kant, trong Phê phán lý tính thuần tuý (1781)
và Phê phán lý tính thực tiễn (1789), lần đầu tiên đã định nghĩa điều mà
người khác có thể nghiệm thấy nhưng không ý thức được một cách rõ ràng; đó là:
tự do không phải là “sự thiếu ràng buộc” theo nghĩa tiêu cực, mà nó là khả năng
tự bắt đầu một cách tích cực: self-beginning, Selbstanfang. Đồng nhất “tự do” với
“tự bắt đầu” như vậy, Kant mở ra con đường dẫn tới sự ca tụng cái chủ thể dám
nghĩ dám làm, ca tụng óc sáng kiến của chính mình - tôi có thể cho phép mình, từ
phương diện cá nhân, nhận ra tư tưởng của ông đã biến con đường đó thành “vũ trụ
luận”. Đồng thời, triết gia này cũng không quên bắt tự do phải phụ thuộc vào Lý
tính, dù đó là lý tính thuần tuý hay lý tính thực tiễn, vì một Nguyên nhân: thần
thánh hoặc đạo đức.
Tôi đã ngoại suy khi nói rằng trong một thế giới ngày càng bị
ngự trị bởi kỹ thuật, tự do dần dần trở thành khả năng thích ứng với một
“nguyên nhân” luôn luôn ở ngoài mình, nhưng ngày càng ít nguyên nhân đạo đức,
và nhiều nguyên nhân kinh tế: trong trường hợp tốt nhất, cả hai cùng đồng thời.
Trong trật tự tư tưởng này, mà đạo Tin lành làm cho trở nên dễ dàng - tôi ám chỉ
đến công việc của Max Weber về mối quan hệ giữa chủ nghĩa tư bản và đạo Tin
lành - tự do xuất hiện như một thứ tự do thích ứng với logic nhân quả: Hannah
Arendt nói đến “sự tính toán về các hậu quả”, đến logic của sản xuất, của khoa
học, của kinh tế. Được tự do có lẽ có nghĩa là được tự do đem về những kết quả
tối ưu nhất bằng cách thích nghi với chuỗi nhân quả: tự do thích nghi với thị
trường sản xuất và lợi nhuận.
Toàn cầu hoá và chủ nghĩa tự do là kết quả của thứ tự do
này, trong đó quý vị được tự do… để bắt đầu đặt mình vào chuỗi nhân - quả.
Nguyên nhân Tối cao (Thượng đế) và Nguyên nhân Kỹ thuật (Dollar) là hai biến thể,
liên đới và cùng hiện diện, chúng đảm bảo cho tự do của chúng ta vận hành trong
cái logic mà ta có thể gọi là logic công cụ hoá. Tôi không phủ nhận tầm quan trọng
và lợi ích của dạng thức tự do này, nó biết thích ứng với chuỗi nhân quả và đạt
tới đỉnh cao trong một kiểu tư duy đặc biệt, mà tuyệt đỉnh là tư duy khoa học,
tư duy giống như tính toán. Tôi nghĩ rằng nó là một thời điểm quan trọng trong
sự phát triển của cái nhân loại đang trở thành chủ nhân của kỹ thuật, của thị
trường tự do và tự động hoá. Văn minh Mỹ thích ứng tốt nhất với kiểu tự do này.
Tôi chỉ nói rằng thứ tự do này không phải là duy nhất.
Còn có một hình mẫu tự do khác. Nó xuất hiện trong thế giới
Hy Lạp, trong triết học, của các triết gia trước Socrate, nó phát triển qua đối
thoại Socrate. Không bị phụ thuộc vào một nguyên nhân, trước hết nó thuộc về
chuỗi mắt xích của những “phạm trù” Aristote, bản thân những phạm trù này đã là
tiền đề cho những nguyên nhân khoa học và kỹ thuật: thứ tự do cơ bản này là ở
trong Hữu thể, và trong Hữu thể của lời nói được thốt ra, được cung cấp, được
thể hiện cho chính mình và cho người khác, và trong ý nghĩa này, nó được giải
phóng. Sự giải phóng Hữu thể của Lời này, qua và trong sự gặp gỡ lẫn nhau giữa
chúng, đã được soi sáng trong những phân tích của Heidegger về triết học Kant
(Chuyên đề giảng dạy năm 1930, xuất bản dưới nhan đề Bản chất của tự do nhân
loại). Đó là đưa tự do vào bản chất của triết học trong tư cách là sự tra vấn
không có giới hạn, trước khi tự do tự cố định - nhưng việc đó chỉ diễn ra về
sau - trong chuỗi nhân quả, và trong sự kiềm chế của chuỗi nhân quả.
Tôi sẽ không đi quá xa trong việc thảo luận về vấn đề này nữa,
nó quá sơ lược, quý vị hãy yên tâm rằng tôi vừa mới gợi ý cho quý vị về tự do
theo quan niệm của Kant hay của Heidegger. Điều khiến tôi quan tâm, đó là ngày
nay, với triển vọng của thế giới hiện đại, cần nhấn mạnh đến quan niệm thứ hai
này về tự do, cái quan niệm khác biệt hoàn toàn với chủ nghĩa tự do, nó được
dâng hiến cho Hữu thể của Lời qua sự Hiện diện của Mình trước Kẻ khác.
Quý vị hiểu rằng những ý nghĩa tâm lý và xã hội của thứ tự
do này được tỏ bày như vậy. Chính nhà thơ là người giữ quyền ưu tiên về điều
này. Nhưng đó cũng là kẻ phóng túng, bất chấp sự tương hợp nhân quả thuộc về xã
hội để làm xuất hiện và bày tỏ mong muốn ly khai của mình. Nhưng đó cũng là sự
chuyển đổi và đối ứng của kinh nghiệm phân tích. Nhưng đó cũng là nhà cách mạng,
người đã đưa một cá thể cá biệt đặt trên mọi quy ước khác: vì đó là nền tảng của
Quyền con người, và khẩu hiệu của Cách mạng Pháp, Tự do - Bình đẳng - Bác ái,
góp phần củng cố một cách triệt để sự tiến bộ của thiết chế Habeas Corpus ở
Anh. Nếu chúng ta có khả năng hiểu và diễn giải những phương diện, những kinh
nghiệm, những diễn từ này, chúng ta đã có thể làm thất bại một quan điểm có từ
thế kỷ XIII và đang thống ngự kể từ nay, đặc biệt là ở nước ngoài, quan điểm trộn
lẫn di sản của thời kỳ Khai sáng với một thuyết phổ biến trừu tượng.
Cho phép tôi được trở lại với thời sự hiện nay. Chúng ta
đang xây dựng Cộng đồng Châu Âu, với những khó khăn và những ngõ cụt mà ai cũng
biết. Trong bản hoà tấu thường xuyên hỗn độn này, giọng ca Pháp cố gắng để được
nghe thấy, không phải dễ dàng gì, để xây dựng một “Châu Âu quần thể”, giọng ca ấy
không phải là không tìm thấy tiếng vọng từ những chính phủ khác, và một quan điểm
chung thiết tha với truyền thống văn hoá. Chúng ta có cảm giác là đã đề nghị một
“mô hình xã hội” có lẽ không thể có được, hoặc là không phải duy nhất, mô hình
của “chủ nghĩa tự do”, thường bị đồng nhất với “mô hình Mỹ”. Nhấn mạnh sự khác
biệt văn hoá của chúng ta không chỉ là phải có bổn phận bén rễ trong một ký ức
và một truyền thống có lẽ là cổ xưa nhất, “tinh tế”, “tế nhị” v.v… bởi vì nó bắt
nguồn từ “lục địa cũ”. Nó thuộc về niềm tin mà chúng ta có đối với một quan niệm
khác về tự do: quan niệm ưu tiên bản thể, nhất là bản thể cá biệt, trái ngược với
sự cần thiết về kinh tế và khoa học. Khi chính phủ Pháp - dù là cánh hữu hay
cánh tả của chủ nghĩa De Gaulle - chú trọng đến “tình đoàn kết” trước “chủ
nghĩa tự do”, thì đó là để bảo vệ biến thể này của tự do, không hơn không kém.
Chúng ta nhìn thấy những nguy cơ của thái độ này: không biết
đến thực trạng kinh tế, cố chấp trong những yêu sách của nghiệp đoàn, từ bỏ cuộc
đua với thế giới, và co lại trong sự lười biếng và hoài cổ. Chính vì thế cần phải
cảnh giác và không được quên sự câu thúc của thế giới kỹ trị, những “nhân và quả”.
Nhưng ta cũng dễ dàng nhìn thấy những lợi ích của cái mô hình tự do khác này,
mà các quốc gia Châu Âu đang nắm giữ. Mô hình khác này - một khát vọng thì đúng
hơn là một dự phóng cố định - được khích lệ bởi mối quan tâm đối với đời sống của
nhân loại trong tính chất đặc biệt bấp bênh nhất của nó: tính chất đặc biệt của
những người nghèo, của những người tàn tật hoặc những người cao tuổi, và cũng bởi
sự tôn trọng sự khác biệt giới tính và dân tộc trong sự sâu kín đặc thù, chứ
không chỉ trong vai trò tiêu dùng của họ.
Cơ sở của sự thống nhất này là niềm tin rằng có một “phiên bản
khác của tự do” cần được bảo vệ. Rằng trong kỷ nguyên hậu hiện đại, không phải
hiệu năng kỹ thuật và kinh tế tối ưu sẽ mang lại tự do nhiều nhất cho nhân loại
- như nó đã từng làm trong giai đoạn trước đó, giai đoạn hình thành chủ nghĩa
tư bản. Và rằng điều cốt yếu chính là sự tăng cường giá trị của cái cá biệt, của
nội tâm, của nghệ thuật sống, của thị hiếu, giải trí, của những niềm vui không
vụ lợi, của sự tha thứ, của thú vui chơi, của sự lãng phí, của “phần tồi tệ”,
tóm lại của tự do như là bản chất của “Bản thể ở trên đời” trước mọi “Nguyên
nhân”: đây là điều chủ yếu xác định văn hoá Châu Âu, và ta hy vọng rằng nó đề
xuất một tình thế phải lựa chọn cho thế giới toàn cầu hoá này.
Vừa rồi tôi nhấn mạnh vào thứ tự do đặc biệt ấy, bằng cách đối
lập “thiên tài nữ”, đúng như nó hiện ra rực rỡ trong các tác phẩm của Hannah
Arendt, Melanie Klein và Colette, với “chủ nghĩa nữ quyền đại chúng” trong đó
tính cá biệt của giới nữ thường xuyên bị quên lãng, thậm chí bị áp chế, đương
nhiên tôi đồng ý rằng khái niệm “thiên tài” áp dụng cho cả hai giới.
Chúng ta có thể tránh cho khái niệm này khỏi thứ tự do đặc
biệt đối với toàn nhân loại hay không? Không có gì thiếu chắc chắn hơn, vì tất
cả nêu rõ rằng trên trái đất này, chúng ta bị kích thích bởi cơn lốc tư
duy-tính toán và hiệp hội tiêu dùng, cùng với việc công nhận những khu vực mà ở
đó sự linh thánh không phải là một “cách đặt lại vấn đề thường trực”, như là
yêu cầu của nhân phẩm, điều đó tôi đã định nghĩa trên đây, mà là một sự lệ thuộc
vào cùng một thứ logic nhân quả được đẩy lên đến mức tuyệt đối, trong trường hợp
này, quyền lực khiến cho khu vực hay nhóm theo trào lưu chính thống phải lệ thuộc
chính là logic này. Nói cách khác, cho dù đã suy thoái do va chạm giữa các trào
lưu chính thống, thế đôi ngả của tôn giáo không phải là một đối âm với sự thống
trị của kỹ thuật, nó có hiệu lực như một trục đối xứng của logic cạnh tranh và
sự xung đột mà nó thúc đẩy.
Vì thế không chắc rằng cái mô hình thứ hai, mà tôi đang cố
khơi lại cho quý vị, có thể được thực hiện bằng một cách khác hơn là một khát vọng.
Nhưng cuộc chơi vẫn còn tiếp tục mở ra, và đó là một cuộc cá cược.
Trong bối cảnh này, Châu Âu không hề thuần nhất và hoà hợp.
Cuộc khủng hoảng ở Iraq và sự đe doạ của chủ nghĩa khủng bố khiến một vài người
cho rằng có lẽ có một vực thẳm ngăn cách các nước “Châu Âu cũ” và các nước
“Châu Âu mới”, theo thuật ngữ của họ. Không đi quá xa trong sự phức tạp của vấn
đề, tôi chỉ muốn trình bày hai ý kiến, tất nhiên là rất cá nhân, về chủ đề này.
Trước hết một đòi hỏi cấp bách là Châu Âu già và đặc biệt là nước Pháp cần phải
thực sự xem những khó khăn kinh tế của “Châu Âu trẻ” là quan trọng, hậu quả của
những khó khăn đó sẽ khiến cho các nước này đặc biệt lệ thuộc vào nước Mỹ.
Nhưng cũng cần phải thấy được rằng những khác biệt về văn hóa, và đặc biệt là
tôn giáo, đã tách chúng ta ra khỏi những nước này, và cần phải học cách tôn trọng
hơn nữa những khác biệt này. “Tính ngạo nghễ kiểu Pháp” nổi tiếng không thực sự
chuẩn bị tinh thần cho chúng ta trong nhiệm vụ này, và các dân tộc Chính giáo ở
Đông Âu cảm nhận sự không được biết đến này một cách cay đắng. Ngoài ra, việc
Châu Âu biết đến thế giới Ả-rập, sau nhiều năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đặc
biệt khiến chúng ta chú ý đến văn hoá Hồi giáo và có khả năng áp dụng một cách
mềm dẻo, nếu không thì cũng hoàn toàn tránh được “sự đụng độ các nền văn minh”
mà tôi đã ám chỉ. Nhưng đồng thời, chủ nghĩa bài Do Thái xảo trá của các nước
Châu Âu có lẽ khiến chúng ta cần cảnh giác trước sự phát triển của những hình
thức bài Do Thái mới.
Bây giờ tôi muốn quay lại với đời sống hàn lâm, đặc biệt là
với “lý luận Pháp”, mà công việc của tôi thường xuyên gắn chặt. Tôi đã nói dài
dòng với quý vị, mặc dù vẫn chưa đủ, về những quan hệ liên quan đến chính trị của
phiên bản tự do được chuyển tải qua văn hoá Châu Âu, vì cách thức để đạt tới tự
do này đã ghi dấu một cách sâu sắc trong kinh nghiệm xã hội của chúng ta - cũng
như trong cách thức tư duy của chúng ta. Có phải vì điều đó mà một số trường đại
học ở Mỹ, cũng như chính quý vị, một số trường đại học ở Na Uy và những nơi
khác trên thế giới, tỏ ra nhiệt thành với các công trình của tôi? Quý vị đã nhận
thấy trong các nghiên cứu “Pháp” này thái độ tự do, đương nhiên là thường mang
dáng dấp của một sự tranh luận chính trị, nhưng cơ bản là một thái độ sống,
thái độ tự do đó biểu hiện bằng cách nổi loạn, có nghĩa là bằng cách làm quay
trở lại với chính bản thân nó, trước thiết chế kinh tế, chính trị, và giới hàn
lâm của xã hội Mỹ, bằng cách tạo ra ký ức hồi tưởng, và bằng cách tự đổi mới
liên tục nhờ tự thảo luận về những vấn đề riêng của chính mình. Những người
quên mất phương cách sống và tư duy này, tự khép mình trong chính trị theo
nghĩa hẹp của từ, sẽ phản bội lại tự do tư tưởng. Tương tự như vậy, trong hai
cuốn sách về “văn hoá-nổi loạn” của mình tôi đã phát triển ý tưởng cho rằng
“cách mạng chính trị” (cuộc khủng bố ở nước Pháp năm 1793, và thảm kịch hơn,
Cách mạng Nga năm 1917) đã bóp nghẹt sự nổi loạn, theo nghĩa là sự tự do đặt vấn
đề hay một sự lo lắng thường trực. Chế độ cực quyền ghê tởm đã không bỏ lỡ dịp
nắm lấy sự nổi loạn để làm mất uy tín của nó, biến nó thành như một giáo điều
chết người. Dù sao, từ nay sự cảnh giác của chúng ta sẽ dành cho những yêu sách
chính trị khác nhau, mang tính chất hư vô và bị gạt ra ngoài lề của cái xã hội
sân khấu này; sự cảnh giác ấy không bao giờ làm mất khả năng tự do phản kháng của
giới chính trị, với điều kiện là phải rộng mở trong đời sống tư tưởng. Đó là giả
thiết mà tôi muốn bảo vệ trước quý vị hôm nay.
Để bày tỏ thái độ phản kháng chống lại sự hạn chế hiệp hội tiêu
dùng và lập luận của chủ nghĩa thực chứng, quý vị dựa trên những nghiên cứu của
chúng tôi, mà quý vị đã hiểu được chúng mang những đặc trưng vừa có tính đạo đức
vừa mang tính lý thuyết: “triết học lục địa”, “lý luận Pháp” đã trở thành những
diễn từ có tính phản kháng ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên những biến dạng
bị áp đặt bởi những hệ tư tưởng phù hợp với quy phạm chính trị đã làm chai cứng
các quan hệ chính trị, những quan hệ chính trị này được nhắc đến trong công
trình của các lý thuyết gia Pháp, và trong các công trình của tôi, nhưng trước
hết chúng tạo nên một chiều kích ẩn ngầm tuỳ thuộc vào chính cách thức tư duy.
Rút cuộc, chúng ta đã xem nhẹ một đặc trưng cơ bản của công việc mà tôi đã định
giá như sau, với những gì liên quan đến kinh nghiệm cá nhân: cao hơn và khác
hơn rất nhiều một “lý thuyết”, đó là một “suy nghĩ về công việc” - giống như
Freud nói đến “công việc của giấc mơ”. Đó là suy nghĩ về “sự khám phá” như
Heidegger đã chứng minh rõ, và bằng một cách khác, Hannah Arendt đã đối lập nó
với tư duy-tính toán. Đó là một sự trỗi dậy từ suy nghĩ đến tưởng tượng, và thậm
chí đến chất nhạy cảm: điều này khiến ta nghĩ đến “kiểu nhận thức thứ ba” của
Spinoza, nhưng đồng thời cũng nghĩ đến tính hợp lý phù hợp với “liên tưởng tự
do” và với “sự chuyển dịch” mà những kinh nghiệm phân tâm học đã có dịp biết đến.
Tôi nhận thấy rằng kiểu tư duy ấy, kiểu tự do ấy tiếp tục
phát triển ở nước Pháp, rằng không có cả sự tàn lụi lẫn đình đốn của đời sống
tinh thần ở Pháp, như đôi khi người ta vẫn nói. Tôi nhìn thấy chứng cứ của điều
đó trong một vài khuynh hướng mà tôi sẽ chỉ ra sau đây.
Một mặt, quan hệ của chủ thể nói trong nghiên cứu khoa học
nhân văn - lịch sử, nhân loại học, xã hội học, v.v…, càng ngày càng được nhấn mạnh:
điều này không có nghĩa là những “dữ liệu” khách quan bị giảm bớt hoặc không được
biết đến, mà là trong khi tôn trọng tất cả những dữ liệu ấy, nhà nghiên cứu
càng ngày càng bị liên luỵ về phương diện chủ quan. Chúng ta đã bắt đầu chuẩn bị
một cuộc thảo luận lớn về khoa học nhân văn, có lẽ sẽ mang tầm quốc tế, chính
xác là xung quanh quan hệ “Sự kiện và Diễn giải”. Dĩ nhiên vai trò lắng nghe của
phân tâm học là mấu chốt trong viễn cảnh này.
Mặt khác - và chắc hẳn là tiếp theo cách nhìn phân tâm học về
con người - tưởng tượng xuất hiện càng ngày càng giống như một phần chủ yếu thuộc
về tâm lý của chúng ta, đồng thời và đặc biệt nó cũng là không gian của cách giải
thích về tự do mà tôi đang bảo vệ trước quý vị. Chúng ta đang sống bởi vì chúng
ta có một đời sống tâm lý. Đời sống tâm lý chính là cái không gian nội tâm này,
cái toà án lương tâm này, cái cho phép đón nhận sự tấn công của cái bên trong
và cái bên ngoài - có nghĩa là những tổn thương cục bộ về sinh lý và sinh học,
nhưng đó cũng là sự tấn công của xã hội và chính trị. Tưởng tượng chuyển hoá
chúng, biến đổi chúng, làm chúng thăng hoa, trau chuốt cho chúng: nó giữ cho
chúng ta sống. Đó là loại tưởng tượng nào vậy? Là những huyễn tưởng mà phân tâm
học phân tích. Văn học dâng tặng lòng hiếu khách của nó cho tình yêu của chúng
ta, cho chứng mất ngủ của chúng ta, cho trạng thái khủng hoảng hay trạng thái
được ân sủng của chúng ta. Tôn giáo cũng đến đối trọng với chủ nghĩa tự do, với
thứ tự do như là sự thích nghi với luật “nhân quả”, bằng cách mang lại cho nó một
“phần bổ sung cho tâm hồn”. Công việc của suy tư từ nay sẵn sàng gặp gỡ với tưởng
tượng tôn giáo: sẵn sàng không lên án nó, biết đến nó, nhưng cũng sẵn sàng khám
phá ra những logic, những quyền lợi và tình thế không lối thoát của nó. Có thể
phân tích được tôn giáo. Chính ở đó chúng ta có một công việc chung để làm, với
công việc này, french theory, theo tôi, được đặt rất đúng chỗ, nó phụ thuộc vào
cách giải thích này về tự do, trong tư cách là sự thần khải và sự nổi loạn của
con người trong lời nói, đối với kẻ khác. Tôi vừa mới thành lập Viện Tư tưởng
Đương đại, trong đó Trung tâm Roland Barthes là một trong những trụ cột, nó
nghiên cứu những chủ đề thuộc về mặt phân giới của văn học, triết học, phân tâm
học, của đạo đức và tôn giáo. Trên một quy mô rộng hơn, và trong viễn cảnh của
sự đổi mới kiểu phân tách các ngành theo truyền thống, chúng tôi cố gắng phát
triển thứ tự do này, mà tôi tin là nó vừa thuộc về công việc của chính tôi, vừa
thuộc về bản chất của “lý luận Pháp”, bất chấp những khác biệt đáng kể giữa tác
phẩm của các tác giả liên quan.
Lòng biết ơn mà tôi bày tỏ có thể đã khiến cho những suy
nghĩ trên đây trở nên quá cá nhân, bây giờ tôi muốn kết luận chúng trong những
âm vang rộng lớn hơn.
Tôi đã cố ý nhấn mạnh nguồn gốc Hy Lạp và Pháp của mô hình
thứ hai này về tự do mà tôi lướt qua quá nhanh trên đây. Tôi cần phải xác định
rằng không hề có sự độc quyền về chuyện đó, và rằng thế giới đạo Tin lành cũng
như thế giới Cơ đốc đều rất giàu tiềm năng cho kiểu tự do này. Tôi xin nói thêm
rằng khái niệm lựa chọn trong đạo Do Thái, dù rằng khác với sự lựa chọn của tự
do, cũng khiến cho một người sinh ra từ truyền thống đặc biệt này có đủ khả
năng thực hiện chính xác những gì mà chúng ta thiếu: như là sự gặp gỡ giữa hai
quan niệm về tự do, giữa “tự do” và “đoàn kết”, “kỹ thuật” và “chính trị”,
“nhân quả” và “thần khải”.
Ngay từ đầu cuộc hội thảo này, tôi đã báo trước sự phê phán
của mình đối với chủ nghĩa quốc gia ở Pháp và tôi sẽ không nhấn mạnh việc tôi
tin rằng sự lựa chọn một mô hình tự do khác, vừa riêng tư vừa mang tính liên đới,
là một sự lựa chọn khó khăn, và có thể là không thực hiện được. Tuy nhiên, đó
là sự cá cược của nước Pháp, và về lâu dài cũng sẽ là sự cá cược của Châu Âu.
Đó là sự cá cược mà tôi tin tưởng, tôi buộc phải tham gia và tôi cố gắng đóng
góp phần mình vào đó.
Trước vấn đề này, Châu Mỹ đang trở thành thành Rome thứ tư,
sau Byzance và Moscou; Châu Mỹ mà tôi yêu quý hiện không còn đối thủ và muốn bắt
những kẻ chống đối im tiếng. Trong “trật tự thế giới mới”, Châu Mỹ áp đặt một
nhóm đầu sỏ vừa mang tính chất tiền tệ, kinh tế và văn hoá, trong đó chủ nghĩa
tự do là nhãn hiệu, nhưng lại có nguy cơ loại bỏ một vài quyền tự do cá nhân.
Các nền văn minh khác mang đến những quan niệm khác về con người. Cần phải để
chúng vào vị trí của chúng, ở phía bên kia của sự toàn cầu hoá đang được tiến
hành và để điều chỉnh sự toàn cầu hoá này bằng tính đa dạng. Bởi vì tính đa dạng
của các mô hình văn hoá là điều duy nhất đảm bảo sự tôn trọng đối với cái “nhân
tính” mà chúng ta không có một định nghĩa nào khác ngoài sự hiếu khách, như tôi
đã nói với quý vị ngay từ đầu, trong khi đó sự tương đồng hoá về kỹ thuật và
người máy, chắc chắn là dễ dàng nhất và là sự phản bội nhanh chóng nhất. Lòng
hiếu khách có lẽ không phải là việc đặt những khác biệt bên cạnh nhau một cách
đơn giản, với sự thống trị của Một mô hình trên Tất cả những mô hình khác; mà
ngược lại, đó là việc coi trọng những logic khác, những tự do khác, để làm cho
mỗi cách tồn tại trở nên phong phú hơn, phức tạp hơn. Nhân tính, mà tôi đang
tìm cách định nghĩa, có lẽ là một quá trình phức tạp hoá.
Trong con đường này, sự tôn trọng tính khác biệt của Châu Âu
có lẽ là một bước quyết định. Chúng ta biết câu ngạn ngữ của các nhà đạo đức học
Pháp: nếu không có Chúa thì cần phải sáng tạo ra Chúa. Tôi nói rằng nếu không có
Châu Âu, cần phải sáng tạo ra Châu Âu. Đó chính là vì lợi ích của cái tự do số
nhiều của chúng ta, và đó cũng chính là vì lợi ích của Châu Mỹ. Cho dù có sự cạnh
tranh về kinh tế và ngoại giao giữa Lục địa Cũ và Lục địa Mới, Châu Âu “già” cần
phải làm cho Châu Âu “trẻ” hiểu mình: một sự cần thiết mà lẽ ra trí thức phải
là những người đầu tiên hợp tác. Cuộc phiêu lưu tinh thần của riêng tôi hoàn
toàn không có khuynh hướng cao quý hơn hay khẩn cấp hơn việc thu hút sự chú ý
vào tính đa dạng của nhân loại trong trải nghiệm tự do. Tôi dám nghĩ rằng tham
vọng này không xa lạ với tham vọng của Ludvig Holberg, người đã tập hợp chúng
ta lại ngày hôm nay. Ở vạch phân giới của Châu Âu Cũ và Thế giới Mới, Na Uy đã
có lợi thế chính trị và văn hoá để hoạt động cho sự phát triển của tự do trong
thời kỳ đen tối này. Không phải là bị chinh phục trước, mà đó là một trận đấu
diễn ra hàng ngày.
Holberg ngày nay
Và tôi sẽ hạnh phúc nếu công việc chung của chúng ta, và đặc
biệt là những trao đổi, mà vì chúng trường Đại học Bergen tổ chức hội thảo này,
nhân dịp lễ trao Giải thưởng Holberg, có thể góp phần tạo nên thế quân bình tốt
nhất cho hai mô hình tự do nói trên. Ludvig Holberg không xa lạ với điều đó, có
thể cuối cùng tôi sẽ thuyết phục được quý vị.
Là tác giả hài kịch, sử gia, tiểu thuyết gia, Ludvig Holberg
biết sử dụng một ngòi bút gai góc, tính hài hước của ngòi bút ấy thậm chí cũng
không chừa cả con người cá nhân ông: “… khi sự khó ở tấn công khu vực trái tim,
ông viết trong cuốn Thư tự thuật thứ nhì, tôi thường bị ám ảnh bởi sự cải
cách, và tôi tấn công mãnh liệt chống lại nhân tính bị suy đồi. Nhưng chỉ cần
cơn đau chuyển sang một phần khác của cơ thể thì không còn ai độ lượng hơn tôi
đối với sự yếu đuối của con người. Chính vì thế ngay khi tôi cảm thấy dâng lên
trong tôi mong muốn phải đổi mới con người, kinh nghiệm cho tôi thấy rằng tôi cần
phải tấn công chính bộ lòng của mình, hơn là chống lại nhân loại, bởi vì nhiệt
tình của tôi nhường bước trước một vài viên thuốc nhuận tràng: ngay lúc mà
chúng bắt đầu có tác dụng, thế giới trước mắt tôi hoàn toàn có thể chịu đựng được.
(…) Tôi thường bị buộc phải chán ngán rời khỏi những người thân cận xung quanh
và phải tìm cách chữa trị trong nỗi cô độc. Tôi không còn lấy làm lạ bất cứ điều
gì ngoài sự ngắn gọn, vì thế hơn tất cả mọi thứ, tôi ghê tởm những kẻ làm điệu
đã thành cố tật, họ giết nạn nhân bằng những câu chuyện dài lê thê”.
Đến lượt mình, để tránh giết quý vị bằng câu chuyện dài lê
thê, tôi đành nhắc lại với quý vị rằng, ông “Molière Na Uy” này, người đọc
Voltaire và Montesquieu, con người ôn hoà nhưng cấp tiến đã đả kích sự cuồng
tín, và thích cười do có cảm hứng tôn giáo, ông đã viết nhiều vở hài kịch và một
cuốn lịch sử về Vương quốc Đan Mạch và Na Uy, một cuốn lịch sử tôn giáo, một cuốn
lịch sử của những người Do Thái, một cuốn lịch sử của những người phụ nữ (người
ta xem ông là nhà nữ quyền đầu tiên của Bắc Âu). Tuy nhiên chuyến du hành của
ông giữa các “thể loại” và “phân môn”, chỉ duy nhất trong văn hư cấu đã tìm được
sự thống nhất đa âm, liên văn bản, một sự thống nhất của “người nhạc trưởng”.
Làm sao mà tôi lại không nhận ra chính mình trong ông ấy! Cuốn tiểu thuyết triết
học của ông, Hành trình của Niels Klim vào trung tâm trái đất, trộn lẫn
sự châm biếm chính trị và tính chất không tưởng, đến mức mà sự châm biếm biến mất
trong cái huyễn tưởng, những câu pha trò lấn át thông điệp đạo đức, và ngày nay
chúng ta đọc cuốn tiểu thuyết này giống như một sự ca tụng trí tưởng tượng thuần
tuý.
Mặc dù nam tước Holberg tự miêu tả mình như một thầy tu khổ
hạnh, hơi buồn bã nhưng cũng buồn cười, người đầu tiên đánh giá cao ông sau khi
ông chết là triết gia không tín ngưỡng Giovanni Giacomo Casanova, trong Lời tựa
cho thế giới không tưởng âm thầm của riêng ông, L’Icosameron (1788):
“Platon, Erasme, quan chưởng ấn Bacon, Thomas More, Campanella và Niels Klim là
những người đã làm cho tôi muốn công bố câu chuyện, hay cuốn tiểu thuyết này.”
Hơn hai thế kỷ sau, cảm ơn Ludvig Holberg đã khiến cho Hội đồng
mang tên ông muốn tập hợp chúng ta lại tối nay. Cảm ơn sự kiên nhẫn và tình bằng
hữu của quý vị.
Nguồn: talawas 2005
|