|
ĐỐI THOẠI CÙNG
BẠN ĐỌC VỀ ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH
GS.VS.TSKH.Trần Ngọc Thêm
Bộ môn Văn
hóa học
Trường
Đại học KHXH & NV
Đại học
Quốc gia Tp.HCM
Trích
từ PHỤ LỤC cuốn Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam (Trần Ngọc Thêm, NXB Tp. HCM, bản in lần 5, 2006)
Cuốn “Tìm về
bản sắc văn hóa Việt Nam” (in lần đầu năm 1996) là sự mở rộng của công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Tính hệ thống của văn hóa Việt Nam” (nghiệm thu năm 1994, Bằng khen của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về công trình NCKH xuất sắc 5 năm 1991-1995) và cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” dày 500 trang do Trường Đại học Tổng hợp Tp.
Hồ Chí Minh xuất bản chính thức lần đầu năm 1995. Mặc dù khi đó sách mới chỉ lưu hành nội bộ với
số lượng xuất bản không nhiều, song sau khi ra mắt, “Cơ sở văn hóa Việt Nam” đã thu hút được sự
quan tâm đặc biệt của dư luận bạn
đọc. Một Hội thảo đã được tổ
chức tại Trung tâm Quốc học. Nhiều báo và tạp chí trong nước và của Việt kiều ở
nước ngoài đã đăng tải các bài giới thiệu, nhận xét, thảo luận.
Bên cạnh nhiều ý kiến, bài viết đánh giá cao công trình này
và những góp ý đúng đắn, chân thành mà chúng tôi rất trân trọng tiếp thu, cũng có một số bài viết chứa những nhận xét không thỏa đáng do không hiểu rõ, không cùng điểm xuất phát, hoặc đơn giản là do chưa đọc kỹ.
Nhận thấy một số băn khoăn thắc mắc trong những bài này có thể cũng là băn khoăn thắc mắc
chung của bạn đọc “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” nên chúng tôi đã đưa vào phần “Đối thoại cùng bạn đọc” này mà nội dung chủ
yếu được soạn theo bài trả lời phỏng vấn của chúng tôi với phóng viên Công Bình
nhan đề “Trò chuyện với tác giả Cơ sở văn hóa Việt Nam”
đã đăng trên Báo “Văn nghệ”, số 32-1996
và một bài khác đã gửi cho
báo “Văn nghệ” sau đó, nhưng chưa được tòa
soạn công bố.
“Đối thoại cùng bạn đọc” hy vọng góp phần làm
sáng tỏ thêm về phương pháp tiếp cận và
nội dung những vấn đề đã trình bày trong sách “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”.
VỀ VẤN ĐỀ ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH
- Những vấn đề tranh luận xung quanh các khái niệm “âm
dương”, “ngũ
hành”, “bát quái” mà các cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam và Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam đã khơi lên là gì?
- Có thể thấy
lộ ra ba vấn đề: Nguồn gốc chúng từ đâu? Chúng thuộc sở hữu của ai? Và chúng
có phải là mê tín dị đoan không?
Nguồn gốc
chúng từ đâu? Khác với các giá trị của văn hóa phương Nam là vấn đề đã có đủ cơ sở để kết luận, đây là vấn
đề còn đang ở dạng giả thuyết. Phần đông xưa nay thường theo Khổng An Quốc
và Lưu Hâm đời Hán mà quy công sáng tạo cho Phục Hy. Một số khác thì
cho rằng tác giả của âm dương ngũ hành
là Châu Diễn và
phái âm dương gia. Quy công cho Phục Hy là phi khoa học, đơn giản là vì đó là một
ông vua truyền thuyết hoang đường không có thực. Quy công cho phái âm dương gia cũng vô lý không kém, đơn giản là vì phái âm dương gia mãi đến thế kỷ III trước công nguyên mới xuất hiện, tức là sau Khổng Tử đến hai
thế kỷ, mà vào thời Khổng Tử đã có Kinh Dịch, có âm dương
bát quái rồi;
phái âm dương gia chẳng qua chỉ vận dụng âm dương để giải
thích địa lý - lịch sử và vận dụng ngũ hành để tạo ra “Ngũ đế đức” mà thôi.
Về phần mình,
trước hết chúng tôi nhận thấy rằng ngũ hành và bát quái là sản phẩm của hai dân tộc khác nhau. Bằng chứng thứ nhất là
trong quan niệm về quá trình hình thành vũ trụ của người Trung Hoa “Thái
cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bái quái, Bái quái
biến hóa vô cùng” không có chỗ đứng cho ngũ
hành. Thứ hai
là ta gặp trong Ngũ hành và Bát quái cùng một số hiện tượng xuất phát
(đất, nước, lửa), nhưng với tên gọi hoàn toàn khác nhau và ứng với những phương vị khác
nhau. Thứ ba là việc phân tích đặc điểm của ngũ hành và bát quái cho thấy chúng là sản phẩm của hai kiểu tư duy
khác nhau (xem §7.4 sách này). Chính nhà triết học Trung Quốc Phùng Hữu Lan
trong “Đại cương triết học sử Trung Quốc” (SG, 1968, tr.
140-151) cũng lưu ý đến sự kiện là trong khi Kinh Thư chỉ đề cập đến Ngũ hành thì ở Kinh Dịch lại chỉ nói đến Bát quái, và ông nhận xét: “Hình như hai luồng
tư tưởng ấy đã tiến triển độc lập, không liên quan gì với nhau”.
Chúng là sản
phẩm của hai dân tộc. Vậy cái nào là sản phẩm của ai? Việc phân tích cho thấy:
a) Ngũ hành là sản phẩm của cách tư duy tổng hợp và trọng quan hệ (đặc thù
cho phương Nam hơn), còn bát quái là sản phẩm của tư duy
phân tích hơn và trọng
yếu tố hơn (đặc thù cho phương Bắc hơn); b) Ngũ hành sử dụng phổ biến ở phương Nam hơn, bát quái sử dụng phổ biến ở phương Bắc hơn
(xem §7.4 sách này). Từ đó có thể kết luận: ngũ hành là sản phẩm của phương Nam, còn bát quái là sản phẩm của phương Bắc. Cả hai tiến triển độc lập nhưng cùng xuất
phát từ một gốc chung là triết lý âm dương.
Về triết lý âm
dương thì hàng loạt bằng chứng liên ngành có thể quy về 7 điểm cho
thấy rằng triết lý âm dương được hình thành trong khu vực văn hóa
phương Nam (xem
các trang 86-91 sách Cơ sở văn hóa Việt Nam bản in năm 1995 hoặc §5.5
sách này). Nếu âm dương không phải sản phẩm của phương Nam (mà là của vùng sông Hoàng Hà) thì tại sao trong khi người Việt có vật tổ cặp đôi (Rồng-Tiên)
mà người Hán lại không có? Tại sao người Hán chỉ có một ông Tơ Hồng mà
vào đến Việt Nam thì phát triển thành cặp đôi
“Ông Tơ - Bà Nguyệt”?
Tại sao mộ cổ Đông Sơn chôn theo nguyên lý âm dương? Tại sao
trên trống đồng Đông Sơn có các hình vuông tròn lồng vào nhau? Tại sao
tư duy dân gian Việt Nam phát triển theo lối âm dương một cách rõ rệt (Trong rủi có may, trong dở có hay, trong họa
có phúc; Sướng lắm khổ nhiều; Trèo cao ngã đau; Không ai giàu ba họ, không ai khó
ba đời…)?
Dễ thấy rằng từ yang (dương) trong tiếng Hoa được phiên âm từ yang (= trời, giàng) của các tiếng Đông Nam Á, còn yin (âm) thì có thể thấy là được phiên âm từ yana, ina (= mẹ) của các ngôn ngữ phương
Nam; sở dĩ “mẹ-trời”
không thuộc cùng một cặp đối lập như có người thắc mắc là bởi vì truyền thống
tư duy tổng hợp ghép “mẹ” với “trời” để tổng hợp được cả hai
cặp “mẹ-cha” và “đất-trời” là hai quá trình sinh sản quan trọng nhất: sản sinh
ra con người và sản sinh ra mùa màng. Tại sao người Việt vẫn xưng hô “ông-con”, “cô-con”, vẫn nói “xem hát”, v.v.?
Chẳng qua là để tổng hợp được cả hai quan hệ ông-cháu và cha-con, cô-cháu và mẹ-con, xem-diễn và nghe-hát vậy!
Tìm hiểu nguồn
gốc không phải là để “tranh chấp” quyền sở hữu. Một hiện tượng văn hóa, dù
xuất phát từ đâu, qua con đường giao lưu đã
thâm nhập vào
các dân tộc khác, được họ tiếp nhận và phát triển thì chúng sẽ thuộc quyền sở
hữu của tất cả các nền văn hóa này. Nho giáo bắt nguồn từ Trung Hoa đến nay đã trở thành
sở hữu chung của các dân tộc Đông Á và Việt Nam. Cũng vậy, dù triết lý âm dương có bắt
nguồn từ cư dân Nam-Á hay Hán tộc thì đến nay nó cũng đã trở thành
sở hữu của nhiều dân tộc phương Đông.
Việc xác định
nguồn gốc của một hiện tượng chẳng qua là nhằm giúp làm sáng tỏ và giải thích
thỏa đáng nhiều vấn đề có tính quy luật của hiện tại.
Âm dương ngũ hành có phải là mê tín dị đoan không? Có người cho rằng việc chúng tôi nói đến
“sự quan trọng của số lẻ”, đến âm dương ngũ
hành, đến cách
đổi ngày tháng năm dương lịch ra ngày tháng năm
theo hệ can chi
vô tình có thể làm cho người đọc bị chi phối bởi tư tưởng siêu hình, bởi óc mê
tín dị đoan…” (tạp chí Văn Tp. Hồ Chí Minh tháng 5-1996). Cần
lưu ý rằng chúng tôi không hề “nhấn mạnh đến sự quan trọng của
số lẻ” mà chỉ nhận xét khách quan rằng “người Việt rất coi trọng các số lẻ (3,
5, 7, 9) và những bội số của chúng (18, 27, 36)” và giải thích do đâu mà có hiện tượng ấy. Âm dương ngũ hành và lịch can chi là những tri thức văn hóa cổ có
ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống con người (ăn uống,
chữa bệnh, nông nghiệp,…); việc các tri thức này bị một số người lợi dụng vào
lĩnh vực mê tín dị đoan chỉ là một khía cạnh của vấn đề. Không
nên vì chê rượu dở mà đập vỡ bình. Không cần đến lịch can chi và cách đổi ngày
tháng năm theo hệ can chi ra dương lịch, chẳng lẽ lại có người Việt
Nam nào có thể ăn tết Nguyên Đán và cúng giỗ gia tiên theo dương lịch hay
sao?
- Phải chăng tác giả Cơ sở văn hóa Việt Nam và Tìm về bản sắc
văn
hóa Việt Nam đã dùng thuyết âm dương ngũ hành làm cơ sở
triết học cho việc lý giải sự hình thành những quy luật của văn hóa Việt Nam?
- Cơ sở lý luận cho
việc lý giải sự hình thành những quy luật của văn hóa Việt Nam được chúng tôi trình bày rất
rõ trong chương I của hai cuốn sách, đặc biệt là sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam đó là phương
pháp hệ thống -
loại hình với việc phân biệt hai loại hình văn
hóa, việc định
vị văn hóa Việt Nam trên một hệ tọa độ 3 chiều căn cứ vào các điều kiện tự
nhiên và xã hội của nó. Lối tư duy âm
dương cũng như mọi thứ khác được nói đến trong năm chương
sau chỉ là
những đặc điểm của văn hóa
Việt Nam hệ quả của các cơ sở đã
nêu.
- Về vấn
đề ÂM DƯƠNG, có ý kiến cho rằng một vật “phải được đặt
vào ít nhất là một quan hệ với một sự vật, hiện tượng khác cùng hệ thống thì
một sự vật, hiện tượng mới có thể được coi là âm hay dương, chứ tự thân nó chẳng âm cũng chẳng dương gì cả”? (báo Văn nghệ số 37-1996).
- Đây là một
cách nhìn sai cả trên thực tế lẫn trên phương diện phương
pháp luận khoa
học.
Trên thực tế,
mọi học sinh phổ thông đều biết rằng một thanh nam châm dù có bẻ ra làm bao
nhiêu mảnh thì trong mỗi mảnh vụn ấy vẫn luôn luôn có một đầu dương, một đầu
âm bất kể nó có “được đặt vào quan hệ với một sự vật” nào khác hay không. Mọi
khái niệm thời gian tự nó đều có trước có sau; mọi vật thể không gian tự nó đều
có trên dưới, trái phải, trong ngoài…; mà đã có
trên dưới, trái
phải, trong ngoài… thì rõ ràng là đã có âm dương rồi đó.
Trong vũ trụ không
có sự vật (hiện tượng) nào là không chứa cả bản chất âm lẫn dương, âm với
dương tuy hai mà một, người xưa gọi đó là
tình trạng
“lưỡng nhất”. Chính bởi vì vật nào cũng chứa cả âm lẫn dương cho nên
nếu muốn xác định xem một vật thiên về
âm hay dương thì mới phải đặt nó trong quan hệ so
sánh!
Trên phương diện
phương pháp luận khoa học, cách hiểu như vậy đã rơi vào
cái gọi là “cấu
trúc luận thuần tuý”, chỉ biết có các quan hệ mà phủ nhận vai trò của bản thân
sự vật đó là một thứ chủ nghĩa cực đoan đã bị giới khoa học bác bỏ từ
lâu.
- Tác giả
bài viết trong báo Văn nghệ vừa nhắc còn nhận xét rằng “với những dương biến thành âm, âm biến thành dương [= quy luật âm dương chuyển hóa] kia thì văn hóa sử [= việc vận dụng nó] chỉ
còn là một vòng tròn không lối thoát chứ đừng nói tới việc bước qua kỷ nguyên
tin học”!
- Điều này một
lần nữa cho thấy tác giả hiểu rất sai về triết lý âm dương. Đúng
là khi nhìn vào
biểu tượng âm dương (xem hình 5.1 trong sách), nhiều người có cảm tưởng như đó là một
“vòng tròn luẩn quẩn không lối thoát”. Nhưng cần nhớ rằng đó là biểu
tượng, là sơ đồ không đầy đủ của triết lý âm dương,
chứ không phải
là bản thân triết lý âm dương. Thực tế, triết lý âm dương là sự
khái quát hóa vận động có quy luật
của vạn vật, một sự vận động liên tục,
không ngừng nghỉ, không bao giờ lặp lại
hoàn toàn: Nóng chuyển thành lạnh, lạnh chuyển thành nóng, nhưng cái nóng năm nay khác hẳn cái nóng năm qua. Từ nền dân chủ bộ lạc đến dân chủ
hiện đại là một sự trở lại, nhưng ở một trình độ phát triển cao hơn (vòng tròn xoáy trôn ốc) chứ đâu phải là vòng tròn khép kín không lối
thoát? Người Việt xưa đã nhận xét rất đúng rằng Có dại mới nên khôn để rồi lại Hết
khôn dồn đến dại; quanh đi quẩn lại chỉ có “dại” với ‘khôn” thôi
nhưng đó đâu phải là một vòng tròn khép kín không lối thoát? Bởi lẽ ông
cha ta biết rõ rằng Không cái dại nào
giống cái dại nào! Những người làm tin học ai mà không biết rằng kỷ nguyên
tin học làm sao có được nếu không có cặp khái niệm khởi đầu 0-1 (âm-dương) và các phép biến hóa từ chúng? Biểu tượng âm dương chỉ nói lên được tính quy luật của sự
vận động âm dương chuyển hóa (cái tương đồng) mà không phản ánh được
sự dị biệt của nó. Nếu triết lý âm dương chỉ là sơ đồ diễn tả một vòng tròn
không lối thoát thì nó làm gì có sức sống để tồn tại và được vận dụng đến ngày
nay?
- Nói các
từ ghép tiếng
Việt chỉ
các cặp âm dương cơ bản, thiết yếu tuân theo trật
tự “âm trước dương sau”, vậy tại sao tổ tiên ta lại nói đực cái, trống mái, cha mẹ…?
- Âm dương là cặp
khái niệm mang tính triết lý phản ánh nhận thức khách quan của người xưa về thế giới, còn truyền thống trọng nữ, thiên về âm tính (mà một trong
những biểu hiện của nó là trật tự “âm trước dương
sau” kiểu âm dương, vợ chồng, chẵn lẻ, vuông
tròn…) là
một thói quen mang tính chủ quan của
một vùng dân tộc, một nền văn hóa, do hoàn cảnh sống, loại hình kinh tế…
quy định. Mà đã là thói quen mang tính chủ quan thì ta chỉ có thể tìm
thấy quy luật qua những sự kiện mang tính xác
suất - thống kê. Hơn nữa, các sự kiện thực tế luôn là sản phẩm chồng chéo của
nhiều quy luật, nhiều sự tác động khác nhau. Do vậy, sẽ là vô lý nếu cứ khăng khăng đòi hỏi trật
tự “âm trước dương sau” phải đúng một cách tuyệt đối với MỌI sự
kiện để rồi mà “thật không sao hiểu nổi” tại sao tổ tiên ta lại nói đực cái, trống mái, cha mẹ…!
Thực ra,
thành tựu của ngôn ngữ học lịch sử Việt
Nam ở giai đoạn hiện nay chưa cho phép xác định được rằng những từ ghép
đó xuất hiện từ bao giờ. Cho nên, sẽ là sai lầm khi khẳng định rằng đó là những
cách nói của “tổ tiên ta” từ xa xưa. Chỉ cần nhìn vào những ngôn ngữ cùng họ hàng của các dân tộc ít
người anh em mà trong lịch sử hầu
như chưa bị ảnh hưởng của văn hóa trọng dương
thì ta sẽ thấy
một bức tranh khác hẳn. Tiếng K’ho (Lâm Đồng) có các từ: me bap (= mẹ cha), mộ pàng
(= bà ông), oh mih (= chị anh), ur klau (= gái trai), mê kuăng (= cái đực, mái trống); tiếng H’rê (Quảng Ngãi) có các
từ: mi fa (= mẹ cha), za vok (= bà ông), mai ong (= vợ chồng), rụ klo (=
gái trai); tiếng Tày nói mẻ tập (=
cái đực), phú pỏ (= mái trống) tất
cả đều là trật tự “âm trước dương sau” cả. Rõ ràng là cách tiếp cận hệ thống
với hàng loạt chứng cứ từ ngôn ngữ học và các lĩnh vực khoa học khác cho ta một
bức tranh toàn cảnh với kết luận không thể chối cãi về truyền thống trọng nữ,
thiên về âm tính của Việt Nam nói riêng và toàn vùng Đông Nam
Á cổ đại nói
chung.
- Ở
§26.2.3 sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam có viết: “Người Việt Nam, phụ nữ thiên về Phật, đàn ông
thiên về Nho. Phật âm tính hơn và Nho dương tính hơn”. Đây là một nhầm lẫn đáng tiếc! Theo giáo sư
Michio Kushi trong cuốn Your Face Never
Lies: “hoạt động viết của con người là âm, hoạt động nói là dương. Khổng Tử viết rất nhiều nên âm, còn Chúa Jesus và Phật Thích Ca không viết
một chữ nào nên rất dương” (Xưa &
nay, số
75B, tr. 37).
- Giáo sư Michio Kushi nói đúng. Tôi cũng không sai. Chỉ có người dùng câu của Michio Kushi
để soi vào câu của tôi rồi từ đó cho rằng tôi “nhầm lẫn” mới sai thôi! Sai
đơn giản là vì chưa hiểu hết triết lý âm dương.
Điều quan
trọng nhất của triết lý âm dương mà nhiều người thường quên là vạn vật đều
vừa âm vừa dương. Âm về mặt này mà dương về mặt khác. Âm trong sự so
sánh với đối tượng này mà dương trong sự so sánh với đối tượng khác. Nước so
sánh với đất vừa âm hơn (vì mềm hơn, thấp hơn...), lại
vừa dương hơn (vì động hơn)!
Đúng là viết
âm hơn nói vì viết tĩnh (bút sa gà chết), còn nói động (lời nói gió
bay), về mặt này thì Khổng Tử âm hơn Thích Ca. Nhưng đây chỉ là sự so sánh hai giáo chủ
trên phương diện hoạt động truyền bá, còn nếu so sánh hai giáo lý, giáo luật, v.v. thì
bức tranh thu được sẽ hoàn toàn khác: Phật giáo thiên về xuất thế, chủ trương sống từ bi
nên âm tính hơn; Nho giáo thiên về nhập thế, chủ trương tham gia chính sự nên dương tính hơn.
- Có ý
kiến phê bình tác giả Cơ sở văn hóa Việt Nam và Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam “giảng giải ngũ hành sinh khắc theo kiểu trực quan giống hệt các sách tử vi nhập môn, mà chưa hiểu được sự tinh tế của cổ nhân”?
- Trước hết
cần nhắc rằng mục đích cuốn sách của chúng tôi không phải là
bàn về ngũ hành - bát quái, càng không phải là bàn về kinh Dịch;
chúng tôi chỉ đặt ra nhiệm vụ giới thiệu rất sơ lược về những điều cơ bản trong
chừng mực chúng có liên quan tới văn hóa Việt Nam mà thôi. Tuy nhiên, về sự
tinh tế của các khái niệm này, ở trang 96 sách Cơ sở văn hóa Việt Nam bản in năm
1995 (và §6.2
sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam), chúng tôi đã nói rõ: “ngũ hành
không phải là 5
yếu tố mà là 5 loại vận động, quan hệ với tính khái quát rất cao: Thủy, hỏa…
không chỉ và không nhất thiết là “nước”, “lửa” mà còn là rất nhiều thứ khác”.
Do tính trừu tượng và khái quát cao ấy, muốn giải thích các quan hệ ngũ hành sinh khắc cho dễ hiểu thì xưa nay, từ các sách tử vi nhập môn cho đến các từ điển
triết học đều vẫn phải dùng các ví dụ trực quan kiểu “nước dập tắt lửa” cả; tuy
nhiên chúng tôi đã luôn nói rõ rằng đó chỉ là ví dụ mà thôi, bởi lẽ
thủy, hỏa… không chỉ và không nhất thiết là “nước”, “lửa” mà còn là rất nhiều
thứ khác.
- Phải chăng “sơ đồ ngũ hành tương
sinh không ghi nhận được một cách đồng thời các quan hệ tương
khắc,
tình hình này không ăn khớp với quy luật trong khắc có sinh,
trong sinh có khắc” và “các sơ đồ ấy không phản ảnh được đầy đủ thực
tế”?
- Nói vậy là thiếu am hiểu về phương pháp luận
khoa học: Mọi sơ đồ, mô hình bao giờ cũng phản ánh
thực tế một cách sơ lược, không đầy đủ; có như thế thì mới phải gọi là sơ
đồ, mô hình, chứ nếu đầy đủ, chính xác thì chúng đã là bản thân thực tế rồi! Từ sơ đồ đến
thực tế còn phải bổ sung thêm các sơ đồ khác, thêm chất liệu, thêm sự vận
dụng… Giữa sơ đồ mang tính nguyên lý “thủy khắc hỏa” với thực tế “nước
gáo lửa xe” (trường hợp nước ít, lửa nhiều, nước không dập tắt được lửa) là vấn
đề vận dụng, là hậu quả sự tác động của quy luật chuyển hóa giữa lượng và chất.
- Có ý
kiến khẳng định một cách tin tưởng rằng do hạn chế của ngũ hành mà người xưa đã tạo ra bát quái?
- Đây là cách
hiểu khá phổ biến đã trở thành định kiến lâu nay. Trong các sách của mình, chúng
tôi đã nêu ra các bằng cứ chứng minh rằng
ngũ hành
và bát quái là sản phẩm của hai dân tộc khác nhau (xem các trang 91, 114-117
sách Cơ sở văn hóa Việt Nam bản in năm 1995 hoặc §§5.6, 7.4 sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam) và đã nhắc lại ở trên, khi trả lời
câu hỏi đầu tiên.
- Có người
cho rằng ngũ hành và bát quái là những thứ không thể so sánh
được vì lẽ, thứ nhất, ngũ hành là “các yếu tố tự nhiên, được khái quát
hóa thành hệ thống khái niệm”, trong khi bát quái là “các khái niệm nhân tạo, được vận dụng để nhận thức về
các quá trình của thế giới”...
- Nhưng đó chỉ là
một sự ngộ nhận. Trên thực tế, không có một khái niệm nhân tạo nào lại không có
nguồn gốc từ những quan sát tự nhiên. Các lý luận gia về khoa học đã biết từ
lâu rằng dù đi bằng con đường phân tích hay tổng hợp, quy nạp hay diễn
dịch, nhà khoa học suy cho cùng bao giờ cũng phải xuất phát từ thực tế trực
quan. Ai đã từng nghiên cứu triết học Mác-xít mà lại không biết đến
luận điểm nổi tiếng của V.I. Lênin về con đường biện chứng của nhận thức “từ trực
quan sinh động đến tư duy trừu tượng”?
- ... Thứ
hai, ngũ hành “mô tả thế giới năm thành phần”, còn Bát quái thì “coi thế giới là nhất nguyên nhất thể (thái cực)”...
- Thực ra,
việc coi vũ trụ là một thể thống nhất, một thái cực, không phải là đặc
điểm riêng của bát quái, mà là đặc điểm chung của nhận thức Đông phương. Nếu xét
về nguồn gốc thì ngũ hành (với những cặp đối lập thủy-hỏa,
mộc-kim) cũng xuất phát từ âm dương,
mà âm dương là khái niệm giải thích bản thể của vũ trụ và vạn vật. Như thế, xét
về nguồn gốc thì thực chất cả ngũ hành lẫn bát quái đều “coi thế giới là
nhất nguyên nhất thể”, còn xét về hiện trạng thì cả hai đều “mô tả một thế
giới” đã biến hóa, đã phức tạp hóa bên năm, bên tám thành tố.
- ... Thứ ba, ngũ
hành phản
ánh thế giới trong không gian, còn
bát quái thì “đã giản lược yếu tố không gian, nên chỉ còn phải phản ánh thế
giới trong sự vận động của nó trên trục thời
gian”.
- Nghiên cứu
bát quái, ai mà không biết rằng trong tri thức về bát quái có vấn đề phương vị? Thiệu Tử nói về bát quái tiên
thiên: “Đây là phương vị bát quái của vua Phục Hy: kiền ở Nam, khôn ở Bắc, ly ở
Đông, khảm ở Tây, đoài ở Đông-Nam,
chấn ở Đông-Bắc,
tốn ở Tây-Nam, cấn ở Tây-Bắc”. Hồ Cư Nhân nói về bát quái hậu thiên: “ly ở Nam,
khảm ở Bắc: đó là nơi giao tiếp trung chính của
trời đất. Chấn ở Đông, đoài ở Tây: đó là
nơi tuần tự
ra vào của thời lệnh. Cấn ở Đông-Bắc, tốn ở Đông-Nam:
phụ chấn để
sinh xuất. Khôn ở Tây-Nam, kiền ở Tây-Bắc: phụ đoài để thu nhập. Đấng thánh nhân
bố trí phương vị bát quái tinh vi như vậy đó, thế mà nhiều kẻ còn không
hiểu, thực chỉ là tại họ chưa khảo cứu sâu xa đó
thôi” [Nguyễn
Hữu Lương 1971: 212-542]. Đó là cái gì nếu không phải là không
gian? Chính tác giả bài viết trong báo Văn nghệ số 37-1996 cũng tự mâu thuẫn với mình: khi muốn chứng
minh rằng bát quái không thể so sánh được với ngũ hành thì tư biện rằng “bát quái chỉ còn
phải phản ảnh thế giới <…> trên trục thời gian”, trong lúc trước đó mới chỉ
12 dòng thôi đã viết: “phương vị (!) của bát quái trong không gian (!) cũng tương tự như ngũ hành (!), đều là các quy ước mang tính biểu trưng”.
- Phản bác nhận xét của Cơ sở văn hóa Việt Nam và Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam về việc “giữa các quẻ trong bát quái không có quan hệ gì
với nhau” (trang 115 sách Cơ sở văn hóa Việt Nam bản in năm 1995 hoặc §7.4.2
sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam), tác giả bài viết trong báo Văn nghệ số 37-1996 nói
rằng “các quẻ trong bát quái liên hệ với nhau rất chặt chẽ <…>, mỗi quẻ
đều có thể biến thành bảy quẻ
kia nếu thay đổi các hào dương thành hào âm và ngược lại”?
- Trước hết, nên nhớ rằng “quan hệ” và “liên hệ” là hai khái niệm rất khác nhau; thứ hai, cái liên hệ được
nói đến ở đây
(“mỗi quẻ đều có thể biến thành bảy quẻ
kia”) là liên hệ biến hóa, nó mang tính giả định và tư biện (do vậy mà không thể
diễn đạt nếu thiếu các từ “có thể… nếu…”), khác hẳn với quan hệ tương tác mang tính tự nhiên
của ngũ hành. Thử so sánh, chẳng hạn, giữa một bên là quan hệ giữa hũ vàng (kim) chôn dưới gốc khiến cho cái cây (mộc) ngày càng héo úa, với bên kia là việc tưởng tượng
rằng con thú có thể biến thành
con chim nếu thay hai chi
trước bằng hai cánh! So sánh ngũ hành với bát quái theo kiểu
như thế chẳng khác gì việc so sánh giữa “bị thương ở chân” với “bị thương ở Trường Sơn”!
- Phản bác
nhận xét của Cơ sở văn hóa Việt Nam và Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam về việc ngũ hành có trung tâm, còn bát quái bỏ trống trung tâm, tác giả bài viết
trong báo Văn nghệ vừa nhắc ở trên cho rằng “trung ương của Bát quái chính là cái không gian biểu
kiến tức phần thể là đồ hình Thái cực
Lưỡng nghi Tứ tượng, chứ Bát quái chỉ là phần dụng của cái thể Thái cực ấy mà thôi”.
- Chỉ trong
một câu nói này thôi đã chứa đựng bốn điều phi lôgic: Thứ nhất, nếu tác giả đã cho rằng bát quái “chỉ <…> phản ảnh thế giới <…>
trên trục thời gian” thì trung tâm của bát quái (= THỜI GIAN) không thể đồng
thời là KHÔNG GIAN được! Thứ hai, trung tâm của bát quái (= một KHÁI NIỆM)
không thể là một đồ hình (= cách BIỂU DIỄN trực quan)! Thứ ba, trung tâm của
bát quái (= một bộ phận của nó, ở TRONG NÓ) không thể là cái sinh ra nó (= thái
cực) vốn nằm NGOÀI NÓ! Thứ tư, cái “ngoài nó” được nhét
vào trung tâm ấy lại không phải ít ỏi gì cho cam, mà là một đống tất cả những
“Thái cực Lưỡng nghi Tứ tượng”: ngay cả tư duy dân gian khi làm bùa trừ tà ma cũng chỉ dám vẽ thêm một đồ
hình âm dương
vào chỗ trống giữa hình bát quái mà thôi!
|