Học thuyết Ngũ hành là học thuyết Âm Dương liên hệ cụ thể
trong việc quan sát, quy nạp và sự liên quan của các sự vật trong thiên nhiên.
Ngũ hành là tên gọi của 5 sự vật: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Các tác giả nước ngoài đã dùng 5 yếu tố vật chất: Kim loại (Kim), Gỗ (Mộc), Nước
(Thủy), Lửa (Hỏa) và Đất (Thổ) để giải thích ý nghĩa của Ngũ hành. Cách giải
thích này không đủ nói lên toàn bộ ý nghĩa mà người xưa muốn nói về Ngũ hành.
Như vậy, có thể hiểu Ngũ hành là 5 tên gọi, 5 khái niệm về triết học thì đúng
hơn.
Không rõ tác giả và nguồn gốc của học thuyết Ngũ hành, chỉ
biết là Ngũ hành đã có từ thế kỷ XX trước Công nguyên (?).
Trong sách "Xuân Thu Phồn Lộ" có ghi: "Âm
dương sinh Ngũ Hành", như thế Ngũ Hành được xây dựng trên cơ sở học thuyết
Âm dương.
Nhìn vào đồ hình Ngũ Hành sinh khắc ta thấy, Ngũ Hành
liên hệ với nhau 1 cách chặt chẽ, biện chứng.
C1. Sự xáo trộn, thay đổi của 1 hành thường đưa đến sự thay
đổi, xáo trộn của 4 hành kia, nghĩa là, gây ra 4 hậu quả.
Thí dụ 1: Mộc vượng đưa tới Hỏa vượng, Thủy vượng Thổ suy
và Kim suy.
Thí dụ 2: Người đang giận dữ (Mộc vượng) thấy mặt bừng
nóng, mắt đỏ (Hỏa vượng), người run rẩy (Thủy vượng), nhói đau vùng thượng vị
(Thổ suy), thở khó (Kim suy)...
C2. Ngược lại, có thể có 4 nguyên nhân làm cho 1 hành
thay đổi:
Thí dụ 1: Hỏa vượng, có thể do:
- Mộc vượng làm Hỏa vượng (tương sinh).
- Thổ vượng kéo theo Hỏa vượng (Phản sinh).
- Kim suy làm hỏa vượng (Tương thừa).
- Thủy suy làm Hỏa vượng (Tương khắc).
Tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng cho thấy, nhiều khi các
mối quan hệ sinh khắc của Ngũ Hành không thuần túy như Mộc sinh Hỏa hoặc Thổ khắc
thủy... Mà nhiều khi có những hội chứng trái ngược lại như Hỏa vượng mà Mộc suy
(thay vì Mộc vượng làm Hỏa vượng hoặc Hỏa vượng phản sinh Mộc vượng) hoặc Thủy
vượng mà hỏa cũng vượng (thay vì Thủy vượng thì Hỏa phải suy vì Thủy khắc Hỏa)...
Trong trường hợp trên, phải phân tích thật kỹ để tìm ra sự
khác thường.
Thí dụ 2: Một hội chứng Hỏa vượng, Thổ vượng, Kim suy, Thủy
suy, Mộc suy. Trong trường hợp này, có sự bất thường: Chính ra Mộc và Hỏa phải
cùng chiều với nhau (vì Mộc sinh Hỏa), trái lại ở đây, Mộc suy (â ) nhưng Hỏa lại
vượng (á ). Thổ và Kim cũng phải cùng thay đổi như nhau (vì Thổ sinh Kim) thì
Thổ lại vượng (á ) mà kim Lại suy (â ), Kim và Mộc khắc nhau. Kim suy (â ) thì
Mộc phải vượng (á ), ở đây 2 hành này lại cùng suy.
Phân tích hội chứng trên ta thấy: Nguyên nhân gây bệnh ở
đây là Thủy suy làm Kim suy và Mộc suy, (Theo nguyên tắc Tương sinh và phản
sinh). Thủy suy làm Hỏa vượng (Tương khắc) và Thổ vượng (Tương thừa).
Các hành sinh khắc, chính ra phải biến chuyển theo cùng
chiều: cùng vượng hoặc cùng suy nhưng nếu có biến chuyển khác thường hoặc khác
chiều thì đó chỉ là hậu quả của 1 nguyên nhân sinh khắc với nó. Nói khác đi, sự
xáo trộn đó phải được tìm nơi hành khác.
Để dễ nhớ, có thể theo cách thức sau: 3 hành liên
tiếp biến chuyển cùng chiều, hành ở giữa chính là nguyên nhân.
Thí dụ: Kim suy, Thủy suy, Mộc suy thì Thủy suy là nguyên
nhân.
Mộc vượng, Hỏa vượng, Thổ vượng thì nguyên nhân do Hỏa vượng.
Tương sinh là quan hệ hỗ trợ để sinh trưởng, thúc đẩy
nhau cùng phát triển: Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổs, Thổ sinh Kim,
Kim sinh Thủy, cứ như vậy mà tái diễn. Mỗi hành đều có
2 mặt tương quan về hành sinh ra nó và hành nó sinh ra. Thí dụ: Đối với hành Mộc,
thì Hỏa là hành nó sinh ra và thủy là hành sinh ra nó
Thủy --- Mộc --- Hỏa
(Sinh nó) (Nó sinh)
Suy rộng ra thì: Đối với Mộc, Thủy sinh Mộc, vậy Thủy là
Mẹ (Mẫu) còn Mộc là con (tử). Mộc sinh Hỏa thì Mộc là mẹ và Hỏa là con. Cần nhớ
quy luật này để áp dụng các nguyên tắc chữa trị: "Hư bổ mẫu và thực tả tử",
là 2 nguyên tắc thường được dùng.
2. Tương khắc
Quan hệ hạn chế sự thái quá: Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim,
Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy.
Mỗi hành cũng có 2 mặt tương quan về hành khắc được nó và
hành nó khắc được.
Cụ thể là, gọi Mộc là Ta thì, Kim khắc Mộc, Kim là cái khắc
Ta, Mộc khắc Thổ, Thổ là cái Ta khắc.
3. Phản sinh, Phản khắc
Từ trước, khi nói đến Sinh Khắc, hầu như người ta chỉ nói
đến sinh khắc 1 chiều: Mộc sinh Hỏa, Kim khắc Mộc. Tuy nhiên đào sâu vào từng
hoạt động của Ngũ hành ta thấy: Mộc vượng (á ) làm không Thổ suy (â ) không
sinh được Kim và không khắc được thủy. Vậy Mộc vượng (á ) làm Kim suy (â ) và
Thủy vượng (á ). Nói cách khác, Mộc phản khắc Kim (thay vì Kim khắc Mộc) và Mộc
phản sinh Thủy (thay vì Thủy sinh Mộc).
4. Tương thừa
Là quan hệ tương khắc không bình thường: Mạnh quá lấn yếu.
- Một hành nào đó, nếu quá mạnh sẽ khắc hành bị nó khắc mạnh
hơn. Thí dụ: Bình thường, Can Mộc khắc Tỳ Thổ, vì giận dữ, làm Mộc gia tăng nhiều
hơn sẽ khắc thổ nhiều hơn bình thường gây bụng đau, bao tử loét... Khi điều chỉnh,
phải điều chỉnh ở Can Mộc.
- Ngược lại, nếu nó quá yếu sẽ bị khắc chế mạnh hơn bởi
hành khắc được nó.
Thí dụ: Trong chứng Lao Phổi, người bệnh hay sốt về chiều,
phổi bệnh do Phế Kim suy yếu, theo Ngũ hành, Hỏa khắc Kim, nay Kim suy yếu, Hỏa
nhân cơ hội Kim suy, khắc mạnh hơn gây sốt kéo dài, nhất là từ trưa đến chiều tối
(là giờ của Hỏa vượng, Kim suy). Khi điều trị, chủ yếu phải điều trị ở Phế Kim
chứ không phải ở Tâm Hỏa, cho dù có dấu hiệu của Tâm hỏa.
5. Tương vũ
Đây cũng là 1 quan hệ tương khắc không bình thường, yếu
chống lại mạnh.
- Một hành nào đó, nếu mạnh quá, sẽ ức chế ngược lại hành
khắc được nó.
Thí dụ: Bình thường thì Thủy khắc Hỏa, trong trường hợp bị
trúng nắng, sức nóng (nhiệt) bên ngoài làm cho Hỏa khí bị kéo theo, mạnh hơn,
bùng lên, khắc ngược lại Thủy làm cho Thủy suy, gây đổ mồ hôi, sợ lạnh... Khi
điều trị, phải điều chỉnh ở Hỏa chứ không phải ở Thủy.
- Ngược lại, nếu nó quá yếu, sẽ bị hành mà nó khắc trở
nên khắc ngược lại nó.
Thí dụ: Trong trường hợp Trụy Mạch, Hỏa suy kém gây lạnh
người, huyết áp thấp, Kim nhân cơ hội Hỏa suy, bùng lên khắc ngược trở lại Hỏa,
làm cho thở nhanh hơn, tim đập chậm hơn, có khi gây ngưng đập.
Như vậy, Ngũ Hành Sinh Khắc qua lại 2 chiều chứ không phải
chỉ có 1 chiều.
- Nếu đem đồ hình Thái cực, áp dụng vào khuôn mặt, nhìn từ
sau ra trước, ta thấy:
- Trán thuộc Tâm.
- Cằm thuộc Thận.
- Má bên
trái thuộc Can.
- Má bên
phải thuộc Phế.
- Mũi thuộc
Tỳ (trung ương).
Việc phân
chia này giúp ích rất nhiều trong việc chẩn bệnh.
Thí dụ:
Nhìn thấy dấu hiệu báo bệnh ở vùng cằm có thể nghĩ đến bệnh lý ở thận, hoặc
vùng trán có dấu hiệu báo bệnh có thể nghĩ đến rối loạn ở tâm...
- Nếu xếp
đồ hình dọc theo cơ thể con người ta thấy:
- Từ ngực
trở lên thuộc Tâm.
- Từ thắt
lưng xuống thuộc Thận.
- Nửa bên
trái thuộc Can.
- Nửa bên
phải thuộc Phế.
- Bụng thuộc
Tỳ.
Sự phân
chia này giúp rất nhiều, trong việc chẩn bệnh: Thí dụ:
- Có nhiều
người chỉ cảm thấy lạnh nửa bên người hoặc nửa phần cơ thể như: bên phải lạnh,
bên trái nóng hoặc trên nóng dưới lạnh...
- Những
người liệt nửa bên trái, thường kèm theo đau nửa đầu, chảy nước mắt sống... (những
biểu hiện của Can)... Liệt nửa phải thường kèm theo nói khó khăn, khó đi cầu
(những biểu hiện của Phế, Đại trường)...
2. Về sinh lý:
a) Quan
niệm cổ truyền:
Ứng dụng
Ngũ hành vào mặt sinh lý con người là đem ngũ tạng sánh với Ngũ hành, dựa vào đặc
tính sinh lý của Ngũ tạng để tìm ra sự liên hệ với Ngũ hành.
+ Can và
Hành mộc: Tính của cây gỗ thì cứng cỏi giống như chức năng của Can là 1 vị tướng,
vì thế, dùng hành Mộc ví với can.
+ Tâm và
Hành hỏa: Lửa cháy thì bốc lên, giống như Tâm bốc lên mặt và lưỡi, vì thế, dùng
hành Hỏa ví với Tâm.
+ Tỳ và
Hành thổ: Đất là mẹ đẻ của muôn vật giống là con người sinh tồn được là nhờ vào
các chất dinh dưỡng do Tỳ vị cung cấp, vì thế, dùng Hành thổ ví với Tỳ.
+ Phế và
Hành kim: Kim loại thường phát ra âm thanh giống như con người phát ra tiếng
nói nhờ Phế, vì thế, dùng hành Kim ví với Phế.
+ Thận và
Hành thủy: Nước có tác dụng đi xuống, thấm nhuần mọi chỗ giống như nước uống
vào, một phần thấm vào cơ thể, phần còn lại theo đường tiểu bài tiết ra ngoài,
vì vậy đem hành Thủy ví với Thận.
b) Quan
điểm hiện đại:
Dựa theo
công năng cơ thể, tìm sự tương ứng với hành nào đó trong Ngũ hành để giải thích
sự biến chuyển của Ngũ hành.
- Hành Mộc
và sự vận động: Đó là sự vận động của các cơ bắp, các sợi cơ ở khắp cơ thể. (Cơ
năng phát động).
- Hành Hỏa
và sự phát nhiệt: Đó là sự sản sinh nhiệt năng do sự chuyển hóa của các tế bào.
(Cơ phát nhiệt).
- Hành Thổ
và sự bài tiết (Cơ năng bài tiết): Đó là vận động đưa chất ra ngoài cơ thể.
- Hành Kim
và sự hấp thụ (Cơ năng hấp thụ): Đó là vận động thu hút các chất vào.
- Hành Thủy
và sự tàng trữ (Cơ năng tàng trữ): Đó là vận động tàng trữ các chất trong cơ thể
để dùng khi cần thiết.
Giữa 2
quan niệm cổ điển và hiện đại, có 1 số điều khác biệt:
- Nếu đứng
về quan niệm cổ điển , chỉ có 5 chức năng tương ứng: Can Mộc, Tâm Hỏa, Tỳ Thổ,
Phế Kim và Thận Thủy. Khi nói đến Can là phải nói đến Mộc, Tâm phải đi với Hỏa...
Nếu nói Tâm Thủy hoặc Can Thủy... sẽ bị cho là sai hoặc không biết gì về Ngũ
hành ! Nếu chỉ hiểu Can là Mộc, Tâm là Hỏa... sẽ khó có thể giải thích được các
cơ chế sinh bệnh 1 cách toàn diện được.
Thí dụ:
Cũng bệnh về Tỳ.
- Hỏa của
Tỳ vượng gây nôn ra máu.
- Mộc của
Tỳ vượng gây co thắt bao tử.
- Thủy của
Tỳ suy gây tiêu chảy.
Nếu chỉ
quy Tỳ vào hành Thổ thì khó có thể giải thích được các dấu hiệu gây bệnh do Mộc
và Thủy... của Tỳ đã gây ra.
Như vậy, nếu
xét một cách rộng hơn thì: Mỗi tạng phủ đều có Ngũ hành chi phối.
Người xưa,
khi quy Mộc cho Can, Hỏa cho Tâm... là muốn nhấn mạnh rằng Mộc có liên hệ và
chi phối Can nhiều hơn các tạng khác. Nhưng không phải vì thế mà cho rằng Mộc
không có liên hệ và chi phối các tạng phủ khác.
Hiểu được
như vậy, sẽ rất có lợi trong việc điều trị, nhất là trong việc chọn huyệt châm
cứu, kể cả dùng thuốc.
Thí dụ:
Cũng 1 đường kinh Can, xét riêng về Ngũ du huyệt ta có: huyệt Đại Đôn (Can Mộc
Huyệt), Hành gian (Can Hỏa), Thái xung (Can Thổ), Trung Phong (Can kim), Khúc
Tuyền (Can thủy).
Các đường
kinh khác cũng đều có 5 huyệt tương ứng với Ngũ hành, nhờ đó, giúp cho việc chọn
huyệt thêm chính xác và hiệu quả hơn.
Thí dụ:
Cũng bệnh về mắt:
- Mắt đau,
nóng đỏ, biểu hiện Hỏa của Can vượng, phải tả Hỏa huyệt của Can là huyệt Hành gian.
- Mắt hay
bị chảy nước sống là dấu hiệu Thủy của Can suy, cần bổ Thủy huyệt của Can là
huyệt Khúc Tuyền.
- Mắt cận
thị yếu kém là dấu hiệu Mộc của Can suy, cần bổ Mộc huyệt của Can là huyệt Đại
Đôn.
Cũng bệnh
về mắt mà ở 3 trường hợp chúng ta đã dùng 3 huyệt khác nhau dù cũng chỉ ở can
Kinh. Nếu không hiểu rõ cụ thể sự rối loạn ở hành nào, bệnh gì cũng chỉ dùng có
1 huyệt duy nhất của kinh Can thì sẽ khó điều trị thành công.
Ngoài ra,
đào sâu hơn ta thấy, mỗi hành đều có 2 mặt mâu thuẫn và thống nhất là âm dương,
do đó, ta có: Âm Mộc, Dương Mộc, Âm Hỏa, Dương Hỏa, Âm Thổ, Dương Thổ, Âm kim,
Dương Kim, Âm Thủy, Dương Thủy.
Việc phân
biệt này sẽ giúp ích rất nhiều trong việc chọn huyệt để điều trị cho thích hợp.
3. Ngũ hành và chẩn bệnh
Căn cứ vào
các triệu chứng xuất hiện qua Ngũ hành như: Ngũ sắc, Ngũ vị, Ngũ quan, Ngũ
chí... để tìm ra tạng phủ tương ứng bệnh (Xin xem ở biểu đồ tổng quát của Ngũ
hành, trang cuối của Ngũ hành).
Thí dụ: Bệnh
ở mắt có liên quan đến Can vì Nội Kinh ghi: "Can khai khiếu ở mắt" hoặc
bệnh ở Tai có liên hệ đến Thận vì Nội Kinh ghi:" Thận khai khiếu ở
Tai"...
4. Ngũ hành và bệnh lý
Ứng dụng
Ngũ hành vào bệnh lý, chủ yếu vận dụng quy luật Sinh Khắc, Tương Thừa, Tương
Vũ, Phản sinh khắc, để giải thích các quan hệ bệnh lý khi 1 cơ quan, tạng phủ
nào đó có sự xáo trộn gây ra mất thăng bằng: thái quá (hưng phấn) hoặc bất cập
(ức chế).
Thí dụ: Giận
dữ ảnh hưởng đến Can (Nội Kinh: Can chủ sự giận dữ), Can khí bùng lên, ảnh hưởng
đến chức năng tiêu hóa của Tỳ vị (Can Mộc khắc Tỳ Thổ) sinh ra chứng bao tử
đau, bao tử loét, gọi là chứng Can Khí Phạm Vị. Nguyên nhân chủ yếu tại Can vượng
lên làm hại Tỳ chứ không phải do Tỳ tự suy yếu.
Ngoài ra,
có thể dùng các biểu hiện của Ngũ hành để tìm ra sự xáo trộn ở các Hành, Tạng
phủ, cơ quan.
Thí dụ:
Đau trong xương, tiểu nhiều, lưng đau... có thể nghĩ đến Thận vì: Thận chủ
xương, nước tiểu là dịch của Thận, vùng lưng thuộc Thận...
Tuy nhiên,
cần lưu ý là sự thay đổi của 1 Hành, luôn luôn đưa tới sự thay đổi của cả 5
hành, nhất là trong các Hội chứng bệnh. Do đó, mối quan hệ giữa các hành không
phải chỉ là giữa 2 - 3 hành mà luôn là mối quan hệ giữa 5 hành...
Mỗi hành
khi có sự xáo trộn (Hưng phấn hoặc ức chế), có thể do 5 nguyên nhân:
Thí dụ: Hỏa
vượng.
- Có thể
do tự nó vượng lên, gọi là Chính Tà.
- Có thể
do Mộc vượng làm Hỏa vượng (Mộc sinh Hỏa) tức là do tạng phủ sinh ra nó gây ra
(bệnh từ Mẹ truyền sang con), gọi là Hư Tà.
- Có thể
do Thổ vượng, phản sinh Hỏa, tức là do tạng phủ nó sinh ra, (bệnh từ con truyền
sang mẹ) gọi là Thực tà.
- Có thể
do Thủy suy, không khắc được Hỏa, tức là có tạng phủ khắc nó (quy luật Tương
Vũ), gọi là Vi Tà.
- Có thể
do Kim suy, không phản khắc được Hỏa, nhân cơ hội đó Hỏa bùng lên theo quy luật
Tương Thừa, gọi là Tặc tà.
Như vậy,
có thể nhận thấy rằng:
Đối với 1
Hội chứng, gọi là Hỏa vượng, khi thấy có Mộc vượng, Thổ vượng, Kim suy và Thủy
suy. Gọi là Thủy suy khi thấy có Mộc suy, Kim suy, Thổ vượng và Hỏa vượng...
Các hành khác cũng lý luận tương tự như vậy.
5. Ngũ hành và châm cứu
Các kinh
thư cổ đã áp dụng Ngũ hành vào 1 số huyệt vị nhất định là Tỉnh, Vinh (Huỳnh),
Du, Kinh, Hợp, gọi là Ngũ du huyệt.
Sự sắp xếp
thứ tự của Ngũ du không thay đổi nhưng thứ tự của Ngũ hành lại thay đổi tùy thuộc
vào âm dương của đường kinh. Kinh âm khởi đầu bằng Mộc, kinh dương bắt đầu bằng
Kim, sau đó cứ theo thứ tự Tương sinh mà sắp xếp huyệt.
Ngũ Du
Tỉnh
Vinh (Huỳnh)
Du
Kinh
Hợp
Kinh Âm
Mộc
Hỏa
Thổ
Kim
Thủy
Kinh Dương
Kim
Thủy
Mộc
Hỏa
Thổ
Nhận xét về cách phân chia của cổ điển ta thấy:
Nếu chỉ phân chia như trên, sẽ không đủ để giải quyết vấn
đề mâu thuẫn thống nhất là Âm Dương ngay trong mỗi hành. Ngay trong mỗi hành đều
có Âm dương, do đó, mỗi huyệt của Ngũ du cũng đều có Âm dương. Vì vậy, cùng 1
huyệt, cùng 1 tên, 1 chức năng nhưng lại có 2 công dụng khác nhau: Dương Hỏa
(hưng phấn Hỏa) và Âm hỏa (ức chế Hỏa)...
Thí dụ: Huyệt Ngư tế, tuy là Hỏa huyệt của phế kinh,
nhưng cũng có thể là Phế âm Hỏa hoặc Phế dương Hỏa, tùy theo vị trí bên phải hoặc
bên trái của huyệt.
Việc phân chia cụ thể theo Âm dương sẽ giúp rất nhiều
trong việc xác định và chọn huyệt thích hợp trong điều trị.
Thí dụ: Người bệnh ho ra máu, chứng này do Hỏa của Phế vượng
lên. Tuy nhiên:
- Trong trường hợp cấp tính, thực chứng, do Dương Hỏa vượng,
cách chữa là Tả Dương Hỏa huyệt của Phế tức Tả huyệt Ngư tế bên trái.
- Trong trường hợp mãn tính, hư chứng, do Âm Hỏa suy,
không ức chế được Dương Hỏa làm cho dương Hỏa bùng lên, cách chữa là phải bổ Âm
hỏa huyệt của Phế là huyệt Ngư tế bên phải.
6. Ngũ hành và Dược liệu
Y học cổ truyền dùng Ngũ hành áp dụng vào việc sử dụng
thuốc đối với bệnh tật của tạng phủ trên cơ sở liên quan giữa Vị, Sắc... đối với
tạng phủ. Đây là nền tảng của việc Quy Kinh.
Thí dụ: Vị chua, màu xanh vào Can
Vị cay, màu trắng vào phế...
Ngoài ra, trong việc bào chế, có thể vận dụng đặc tính của
Ngũ hành để thay đổi hoặc tăng cường hiệu quả của thuốc.
Thí dụ: Tẩm thuốc với dấm (vị chua) để dẫn thuốc vào Can,
Tẩm thuốc với Muối (vị mặn) để dẫn thuốc vào Thận...
Việc áp dụng màu sắc của Ngũ hành vào Dược liệu cũng đang
được các nước ngoài quan tâm đến.
Theo Canadian Consumer Bộ y tế và phúc lợi xã hội Canada,
đề ra chương trình dán nhãn vào các loại thực phẩm bán ở thị trường, căn cứ
theo giá trị dinh dưỡng của các loại:
- Nhãn xanh đậm trên các sản phẩm sữa, chỉ rõ rằng các loại
thực phẩm đó tốt cho xương và răng. (Xương và răng là biểu hiện của Thận, màu
xanh đen là màu của Thận).
- Màu vàng dán vào bánh mì và các loại ngũ cốc chỉ rõ rằng
những loại này là thức ăn cung cấp năng lượng (màu vàng là màu của Tỳ, Tỳ chủ tiêu
hóa, sinh cơ nhục...).
- Màu xanh lục dán vào rau quả là bổ mắt (Can khai khiếu ở
mắt, màu xanh là màu của Can).
- Màu đỏ dán vào cá và thịt chỉ rõ những loại này bổ máu
và cơ (màu đỏ là màu của Tâm hỏa, Tâm chủ huyết - Cân cơ thuộc về Can, ở đây là
Hỏa phản sinh Mộc).
7. Ngũ hành và điều trị
Trong việc điều trị, cần nắm vững quy luật Sinh Khắc của
Ngũ hành thì việc trị liệu mới đạt được hiệu quả cao.
A. Tương
sinh
Cần nhớ nguyên tắc: "Hư bổ mẫu, Thực tả tử".
a) Hư bổ mẫu: Trong trường hợp Thổ sinh Kim thì Thổ
là mẹ (mẫu) và Kim là con (Tử). Trong trường hợp bệnh mạn tính, hư chứng, Tạng
phủ bị bệnh lâu ngày, không đủ sức tự phục hồi được, cần nhờ 1 nguồn cung cấp
khác giúp nó phục hồi. Muốn thế, cách hay nhất là nhớ ngay chính cái sinh ra
nó, tức bổ cho mẹ nó để mẹ nó giúp cho nó.
Thí dụ: Người bệnh Lao Phổi lâu ngày (Phế hư lao).
Trên nguyên tắc, bệnh ở Phế, Phế suy, sẽ được điều trị ở
Phế, tức là bổ Phế, tuy nhiên vì bệnh lâu ngày, Phế kém chức năng, không đủ sức
tự phục hồi, do đó, cần áp dụng nguyên tắc: "Hư bổ mẫu". Tỳ Thổ sinh
Phế Kim, do đó phải bổ Tỳ Thổ. Thực tế lâm sàng cho thấy, trong việc điều trị
lao phổi, ngoài việc dùng thuốc diệt trùng, ăn uống bồi dưỡng tốt sẽ giúp việc
điều trị lao phổi phục hồi nhanh hơn. Đây là ý nghĩa mà người xưa thường đề cập
đến: "Dĩ thổ sinh Kim".
Trong châm cứu có 2 cách áp dụng nguyên tắc Hư bổ mẫu:
- Có thể dùng ngay 1 đường kinh để bổ. Thí dụ, Phế Kim
suy, có thể bổ huyệt Thái uyên vì Thái uyên là Thổ huyệt của Phế Kinh.
- Nếu dùng huyệt khác kinh thì Phế kinh suy, bổ ở kinh Tỳ
vì Tỳ Thổ sinh Phế Kim.
Theo báo cáo nước ngoài, Dược sĩ Carlos Miyares Cao đại học
tổng hợp La Habana (Cuba) từ năm 1971 đã chiết xuất từ Nhau thai nhi 1 chất có
khả năng kích thích sự phát triển các tế bào sinh sắc tố của da tên là
Melagenia để trị bệnh Bạch biến (vitiligo) còn gọi là Lang ben rất có hiệu quả.
(Nhau thai nhi, thuộc thổ, bệnh ở da liên hệ đến Phế Kim, ở đây áp dụng nguyên
tắc Thổ sinh Kim).
b) Thực Tả Tử
Theo nguyên tắc này, thay vì tả trực tiếp Tạng phủ hoặc
kinh bệnh, thì lại điều trị ở Tạng phủ hoặc Kinh được nó sinh. Mộc sinh hỏa thì
thay vì tả Mộc lại tả Hỏa.
Thí dụ: Chứng
Cao Huyết Áp do Can Dương vượng.
Theo ngũ
hành, Can Mộc sinh Tâm hỏa, khi điều trị, điều chỉnh ở Tâm (an thần).
Trong châm
cứu, thay vì Tả Huyệt Đại Đôn (Mộc huyệt của can) lại Tả huyệt Hành gian (Hỏa
huyệt của Can).
B. Tương
khắc
Dùng quy
luật tương khắc để điều chỉnh rối loạn giữa các hành.
Thí dụ:
Người bệnh xuất huyết.
Huyết màu
đỏ thuộc Hỏa, có thể dùng những vị thuốc màu đen (hoặc sao cháy thành than) như
Cỏ mực, Trắc bá... để chữa, vì màu đen thuộc Thủy, Thủy khắc Hỏa.
BẢNG TÓM TẮT
ĐIỀU TRỊ BẰNG NGŨ HÀNH
Tạng Phủ
Bổ, Hư Bổ Mẫu
Lý Do
Tả, Thực Tả Tử
Lý Do
Can Mộc
Thận Thủy
Thủy sinh Mộc
Tâm Hỏa
Mộc sinh Hỏa
Tâm Hỏa
Can Mộc
Mộc sinh Hỏa
Tỳ Thổ
Hỏa sinh Thổ
Tỳ Thổ
Tâm Hỏa
Hỏa sinh Thổ
Phế Kim
Thổ sinh Kim
Phế Kim
Tỳ Thổ
Thổ sinh Kim
Thận Thủy
Kim sinh Thủy
Thận Thủy
Phế Kim
Kim sinh Thủy
Can Mộc
Thủy sinh Mộc
8. Ngũ Hành và Phòng Bệnh
- Dựa vào Ngũ hành vận khí để biết được đặc điểm của bệnh
tật từng năm để dự phòng. Thí dụ: Năm Hỏa thái quá, bệnh sốt nhiệt nhiều, bệnh
viêm nhiễm nhiều... cần tăng cường cách phòng chống nhiệt: ăn nhiều thức ăn
mát, ở chỗ thoáng... Bổ các Thủy huyệt...
- Dựa vào màu sắc, khí, vị của thức ăn, mà biết bệnh gì
nên ăn hoặc kiêng những gì.
Thí dụ: Thận suy kém, không nên ăn thức ăn quá mặn, vì vị
của Thận là vì mặn, mặn quá làm hại Thận. Không uống nước đá vì Nội Kinh ghi:
"Thận ố Hàn - Thận ghét lạnh"...
9. Ngũ Hành và Biện Chứng
Dùng Ngũ hành, áp dụng vào từng trường hợp, từng sự việc
để tìm ra mối quan hệ gây rối loạn dẫn đến xáo trộn bệnh lý. Công việc này đòi
hỏi phải đào sâu vào từng hành, tìm ra những mối quan hệ giữa các rối loạn với
các hành như thế nào về phương diện Y học cổ truyền lẫn Y học hiện đại. Nếu nắm
được phương pháp lý luận biện chứng, sẽ giúp rất nhiều trong việc chẩn đoán và
điều trị bệnh.
- Phương nam, mùa hè, buổi trưa là biểu hiện của Thái
dương (theo đồ Thái cực). Tính chất rõ rệt nhất của Thái dương là Nhiệt khí. Ở
người được gọi là Hỏa khí.
- Theo A. Reinberg, trong "La Nouvelle Presse
Médicale" tập 2, số 5, ngày 3-2-1973 thì các cực số liên hệ đến những trường
hợp tử vong vì Tim và huyết mạch đều ở trong khoảng tháng tư, năm, sáu (thời điểm
của mùa hè) tương ứng của Thái dương, hỏa khí, do đó, mùa hè và Hỏa khí có liên
hệ với nhau.
- Tạp chí Y học Liên Xô "Kochmicheskaia Biologia I
Meditsima" số 1, năm 1972 ghi: " Trong ngày đêm, trên máy ghi biểu đồ
tiếng Tim, tính động lực của mạch và phương diện chu kỳ biên độ đạt mức tối đa
giữa khoảng 11-13g (giờ Ngọ, giữa trưa, cao điểm của Thái dương, đồng thời là
giờ vượng của Tâm kinh), do đó, buổi trưa và Hỏa khí có liên hệ với nhau.
B. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA HỎA KHÍ
a) Về cơ thể
1. Lưỡi và vị giác
- Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi:
"Tâm khai khiếu ở lưỡi".
- Lưỡi thường thường có sắc đỏ, biểu hiện Hỏa khí 1 cách
rõ rệt.
- Lưỡi lở, dộp, nứt nẻ, viêm (sưng)... là dấu hiệu Hỏa của
Tâm vượng.
- Tùy theo màu sắc của lưỡi, có thể suy ra tình trạng vượng
suy ngũ hành của Tâm.
- Lưỡi hồng nhạt là dấu hiệu Hỏa của Tâm suy.
- Lưỡi xanh tối là dấu hiệu Mộc của Tâm suy.
- Lưỡi vàng tối là dấu hiệu Thổ của Tâm suy.
- Lưỡi đen bẩn là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.
- Miệng có vị đắng (lưỡi đắng) là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
- Miệng có vị chua là dấu hiệu Mộc của Tâm vượng.
2. Mồ hôi
- Thiên “Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi: "Mồ hôi
là dịch của Tâm".
- Khi trời nóng, lúc bị sốt, thường thấy có hiện tượng xuất
mồ hôi, do đó, Hỏa khí và mồ hôi có liên hệ với nhau. Mồ hôi là Thủy dịch dùng
để chế ngự Hỏa khí.
- Sốt mà có mồ hôi là dùng hiệu tốt: Thủy khí còn vững mạnh
để chống lại với nhiệt tà.
- Sốt mà không có mồ hôi là dấu hiệu nhiệt tà mạnh hơn
chính khí.
- Khi bị cảm, sốt nóng, không ra được mồ hôi, người ta
dùng nồi xông cho đổ mồ hôi để ức chế nhiệt tà, người ta sẽ bớt sốt.
- Không nóng sốt mà xuất mồ hôi (Mồ hôi lạnh hay gặp ở những
người thần kinh suy nhược) là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.
- Tự ra mồ hôi (tự hãn) hoặc ra mồ hôi ban đêm (mồ hôi trộm,
đạo hãn) là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.
- Thiên “ Thiên Niên” (LKhu 54) ghi: "Còn Thần thì sống,
mất thần thì chết", tuần hoàn còn thì sống, tuần hoàn ngưng thì chết, do
đó Tâm và thần có liên hệ với nhau.
- Với người bệnh: người có thần, biểu hiện bằng nét mặt
tươi sáng, ánh mắt nhanh nhẹn, nói cười đứng đắn, ý tưởng phân minh thì bệnh có
chiều hướng tốt, dễ điều trị. Ngược lại, gọi là hiện tượng mất (thất) thần, dấu
hiệu của bệnh trầm trọng, nguy hiểm.
- Tinh thần căng thẳng, thần trí bị xúc động sinh ra hoạt
náo, nóng nẩy, hằn học, lăn lộn, mất ngủ, nằm ngồi không yên, kích động, phá
phách mọi người chung quanh (điên cuồng).
- Tâm trí suy nhược, Thần không có chỗ dựa, người bệnh
sinh ra ngớ ngẩn, hay quên, lo lắng, hồi hộp, sợ hãi thất thường.
- Vẫn bác sĩ tại Massachusetts, sau khi nghiên cứu 1.000
người cho thấy; sự căng thẳng tinh thần có thể gây đau tim. Khi thí nghiệm, những
người này được gặp những tình trạng nhân tạo tương tự các trường hợp gây sự
căng thẳng tinh thần trong đời sống hằng ngày của họ. Điều đáng chú ý là những
người này trông có vẻ khỏe mạnh và điềm Tỉnh trong suốt thời gian trắc nghiệm.
Nhưng sau đó sự căng thẳng tinh thần đã gây ra 1 số tai nạn trong tim và huyết
quản của họ. Một số người tim bắt đầu bơm mạnh hơn và với một số người khác thì
tim lại bơm máu ít hơn. Ở một số người, huyết quản nở ra, số khác lại co vào
làm tăng huyết áp. Trường hợp nặng hơn, áp huyết lên cao và Tim bơm thêm máu
vào nhưng huyết quản lại co lại và trở thành nhỏ hẹp hơn giới hạn sự lưu thông
của máu làm tim phải làm việc rất mệt để đẩy máu vào động mạch.
4. Phát nhiệt
-Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi:
"Phương Nam sinh nhiệt".
- Viêm nhiệt là dấu hiệu Hỏa vượng.
- Tùy theo vùng và vị trí phát nhiệt, có thể suy ra dấu
hiệu Hỏa vượng.
+ Phát nhiệt ở vùng Tâm là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
- Sờ đầu mặt, trán, ngực thấy nóng là dấu hiệu Hỏa ở Biểu
của Tâm vượng.
- Nóng trong đầu, cảm thấy nóng trong ngực... như dấu hiệu
Hỏa ở lý của Tâm vượng.
+ Phát nhiệt ở vùng Thận (lưng nóng, lòng bàn chân
nóng...) là dấu hiệu Hỏa của Thận vượng.
+ Phát nhiệt ở vùng Can (Mắt sưng đỏ, đau...) là dấu hiệu
Hỏa của Can vượng.
+ Phát nhiệt ở vùng Tỳ (Miệng lở, môi nứt...) là dấu hiệu
Hỏa của Tỳ vượng.
5. Tâm chủ huyết
-Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Ở
thể của Tâm là mạch".
- Xung huyết liên hệ mật thiết với sự phát nhiệt, do đó,
huyết mạch và hỏa khí có liên hệ với nhau.
- Xung huyết, xuất huyết là dấu hiệu Hỏa khí vượng.
- Tùy vùng xung huyết hoặc xuất huyết, có thể biết được
tình trạng Hỏa khí ở vùng nào gia tăng.
+ Xuất huyết não, đau bưng cả đầu là dấu hiệu Hỏa của Tâm
vượng.
+ Xuất huyết đáy mắt là dấu hiệu Hỏa của Can vượng.
+ Xuất huyết bao tử là dấu hiệu Hỏa của Tỳ vượng.
+ Xuất huyết Phổi là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng.
+ Xuất huyết đường tiểu là dấu hiệu Hỏa của Thận vượng.
6. Sự vui mừng
-Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Ở
chí của Tâm là vui mừng (Hỷ)".
- Khi người ta gặp điều gì vui mừng, Hỏa khí bùng lên, da
mặt đỏ, hồng, mạch nhảy nhanh hơn, Tim đập mạnh hơn... do đó, sự vui mừng và Hỏa
khí có liên hệ với nhau.
- Sự vui mừng do ngoại giới đưa đến, làm Hỏa khí bùng
lên, Tâm khí biến đổi theo 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn đầu: Tâm Hỏa vụt mạnh lên, vì bị huy động (cười
hả hê, mặt hồng hào hoặc đỏ bừng, tim đập nhanh).
+ Giai đoạn hai: Tâm Hỏa suy yếu, vì bị kích thích, (mặt
nhợt nhạt, vã mồ hôi, lạnh người trụy mạch, tim đập chậm, yếu...
+ Nhiều người bất ngờ trúng số độc đắc, quá vui mừng (Tâm
Hỏa bùng lên) có thể ngất hoặc chết (Tâm Hỏa suy).
- Như vậy có 2 hình thức vui mừng:
+ Vui mừng do ngoại giới đưa đến, làm cho Tâm Hỏa chỉ
bùng lên một thời gian rồi bị suy yếu, đó là nguyên nhân lớn lao của sự đau khổ.
+ Vui mừng của những người hiền triết, của các nhà cách mạng
là sự vui mừng biết làm chủ được mình, không bị ngoại cảnh chi phối, sự vui mừng
làm cho tâm hồn thoải mái, đem lại vui tươi, hạnh phúc.
7. Tiếng cười
-Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi:
"Tiếng của Tâm là tiếng cười".
- Trong các buổi tiệc, hoàn cảnh náo nhiệt, vui mừng, hội
hè, say sưa, tiếng cười luôn nổi bật.
- Rượu uống vào, kích thích Hỏa khí làm người ta cười.
- Nơi người điên dạng hưng phấn, Hỏa khí vượng lên, làm
người đó cười luôn miệng.
- "Tâm tàng thần", nếu Tâm suy kém, không tàng
được thần ( Trong trường hợp bệnh về não, bệnh tâm thần) người ta không làm chủ
được tiếng cười, có khi mất hẳn nụ cười.
- Nếu ta thường xuyên có những nụ cười thoải mái, chân
thành, ta sẽ luôn vui mừng cường tráng.
- Theo giáo sư Uphrai, đại học Standford (Mỹ) và các nhà
nghiên cứu Tây Ban Nha, khi cười thoải mái nhất, các cơ ngực khỏe ra, và tim được
vận động tốt. Vì thế người ta vẫn thường ví: "Nụ cười là liều thuốc bổ".
b) Về Ngoại Giới
8. Sắc đỏ
-Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi:
"Sắc của Tâm là sắc đỏ".
- Sắc của các chứng viêm nhiệt, xung huyết là sắc đỏ.
- Tùy theo vị trí có sắc đỏ, có thể biết được trạng thái
viêm nhiệt, xung huyết của các cơ quan tạng phủ tương ứng.
+ Lưỡi đỏ là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
+ Mắt đỏ là dấu hiệu Hỏa của Can vượng.
- Giáo sư Halôtunônfat, đại học Abôđôn (Canada) cho biết,
trong môi trường có nền là ánh sáng đỏ, nhịp tim và huyết áp người tăng thêm
17%.
- Bệnh viện Berlin (CHDC Đức) nghiên cứu qua 3.000 người
và nhận thầy là những người bệnh về chức năng Tim đều khó chịu với màu đỏ.
- Mac Luyxiê, nhà tâm lý học Thụy Sĩ cho rằng: người bệnh
Tim theo bản năng đã cự tuyệt trước màu đỏ, một màu có tính kích thích, gây
nguy hại cho Tim của họ.
- Da đỏ, biểu hiện Hỏa khí vượng, các dân tộc da đỏ thường
biểu hiện Hỏa khí của mình bằng sự vui mừng nhẩy múa, hò hét rất cuồng nhiệt.
9. Hỏa khí và Nhiệt khí
-Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi:
"Nhiệt sinh Hỏa".
- Sách Y Tông Kim Giám ghi: "Trên trời là Nhiệt, dưới
đất là Hỏa, ở người là Tâm, ở Thể là mạch".
- Hỏa khí và Nhiệt khí thông với Tâm, do đó, các bệnh về
Hỏa khí và nhiệt khí đều liên hệ với Tâm.
- Hỏa khí ở người là khả năng đề kháng lại với nhiệt khí
bên ngoài. Khi gặp Nhiệt khí, Hỏa khí bị kích thích, xung vượng để rồi sau đó bị
suy yếu. Nếu Hỏa khí bị xung động thái quá, sẽ suy kiệt 1 cách đột ngột, dễ rơi
vào trạng thái mất đề kháng gây ra trúng nắng, say nóng...
- Hỏa khí ứng với Thái dương, Phương Nam, Mùa hè buổi
trưa, nên cũng vượng lên trong không gian và thời gian trên.
- Ở người Hỏa vượng, bệnh trở nên trầm trọng vào buổi
trưa, mùa hè (là thời điểm Hỏa vượng).
- Với chứng Hỏa suy, bệnh thuyên giảm vào buổi sáng và
trưa (thời điểm của Thiếu dương và Thái dương).
- Nhìn vào đồ Thái cực, Phương Bắc, Mùa Đông, buổi tối
khuya là dấu hiệu của Thái âm, âm khí ngự trị hoàn toàn, trời đất u tối, lạnh lẽo,
cảnh vật điêu tàn, thê lương, tất cả đang đi vào cõi chết, trong khi đó, mọi
sinh vật đều lo ẩn núp, trốn tránh cái lạnh lẽo giá buốt của âm khí để cố duy
trì và bảo tồn dương khí còn lại, tránh khỏi bị tiêu diệt, để chờ đợi mùa xuân
(khởi đầu Thiếu Dương) để phát triển Dương khí đem lại sức sống. Dương khí ở
nơi người chính là Thủy khí.
- Thủy khí là nguồn năng lực tàng trữ trong con người, nhằm
duy trì sự sống trong tình trạng Thái âm hủy diệt.
- Thủy khí tương ứng với Thái âm, là do nguồn năng lực
phát xuất từ Thận, do đó Thận có liên hệ nhiều đối với Thủy khí.
- Về già, Thủy khí suy, tóc người trở nên bạc, rụng, mất
vẻ bóng láng, do đó, giữa tóc và Thủy khí có liên hệ với nhau.
- Huyết do tinh sinh ra, tinh tràng trữ ở Thận, tóc là sản
phẩm "thừa ra" của huyết, được huyết nuôi dưỡng, Thận suy không sinh
được huyết, tóc sẽ rụng... do đó Thận là căn nguyên của tóc.
- Tóc xanh, óng, dầy, đen huyền, tóc mây... là dấu hiệu
Thủy khí sung mãn.
- Tóc khô, rụng, bạc là dấu hiệu Thủy khí suy kém.
- Theo H.Roenigk (Mỹ), hiện nay, số người bệnh rụng tóc
trên thế giới rất đông, chỉ riêng ở Mỹ đã tới 20 triệu người, nguyên nhân chủ yếu
là do họ hay sợ hãi (sợ mất công ăn việc làm, sợ bị hủy diệt bởi vũ khí hạt
nhân...). Theo Nội Kinh, sự sợ hãi làm hại Thận (Khủng thương Thận), Thận suy
làm tóc bạc, rụng. Tục ngữ cũng có câu: "Lo bạc râu, Sầu bạc tóc".
- Có nhiều trường hợp đặc biệt, 1 số người trải qua những
biến động kinh hãi, thủy khí suy sụp nhanh chóng, tóc và lông mày của họ trở
nên bạc trắng trong 1 thời gian ngắn. Trong cuốn "Chúng tôi sẽ chết như sống"
do NXB Cầu Vồng, Maxcơva, xuất bản năm 1985, tác giả Anatoli Gôlubếp có kể rằng:
bạn ông, ông Tơsurin bị bạc trắng tóc trong 1 đêm, khi vượt qua trận tuyến
Satarưigugiơ. A. Caren, trong cuốn: "L’homme cet inconnu" (Con người,
1 đối tượng chưa hiểu được) kể: Trong trận thế chiến 1914 - 1918, 1 người đàn
bà người Buổi, bị quân Đức kết án tử hình, đêm hôm trước ngày bị xử bắn, tội
nhân bỗng trắng xóa mái tóc. Trong "Đông châu liệt quốc" cũng kể: Ngũ
Tử Tư, 1 đêm lo nghĩ cách trốn thoát qua cửa ải nước Sở, đã bạc cả mái tóc đến
nỗi lính canh ải không nhận ra.
- Thủy khí sung mãn thì thính giác tinh, có thể nghe được
những âm thanh nhỏ và xa.
- Thủy khí suy yếu thì thính giác sút giảm: nghe không
rõ, ù tai, lãng tai, điếc, tai kêu như ve, lùng bùng trong tai...
- Uống thuốc lợi tiểu, đi tiểu nhiều thấy mệt, tai lùng
bùng. (Thủy suy).
- Những người già, người bệnh nặng, sốt rét... Thủy suy
thường thấy ù tai.
3. Xương và răng
- Thiên “Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi: "Thận chủ
cốt", và "Phần thừa của xương là răng".
- Về già, vào mùa lạnh, người ta thường thấy đau nhức
trong xương, ê ẩm trong răng, răng long, rụng... Do đó, giữa xương răng và Thận
có liên hệ với nhau.
- Thận ố hàn (Thận ghét lạnh), người đang đau nhức răng
và xương, uống nước đá vào thấy đau và nhức hơn.
- Nhức, lạnh trong xương, lạnh cột sống trong chứng sốt
rét, cảm giác như kiến bò, giòi bọ rúc trong xương... của những người ghiền xì
ke ma túy, là dấu hiệu của những người Thủy khí suy.
- Nóng trong xương, viêm xương là Hỏa của Thận vượng.
- Những người gẫy xương, trong thời gian chờ xương lành lại,
nếu giao hợp nhiều, mất tinh dịch làm Thận thủy suy sụp. Thận suy, không sinh
được xương rất lâu lành.
- Thận chủ sự phát dục, Thủy khí suy làm sự phát dục của
cơ thể giảm sút gây ra hiện tượng chậm mọc răng, chậm lớn, xương mềm yếu, tóc
thưa...
- Răng chắc, to, bóng láng là dấu hiệu Thủy khí sung mãn.
- Răng long, đen đục, ê nhức ... là dấu hiệu Thủy khí
suy.
- Những người tiếp xúc nhiều với hàn khí (nước đá, nước lạnh...)
làm cho Thủy khí suy (Thận ố hàn) dễ sinh ra hư, gẫy, rụng răng...
- Các nhà nghiên cứu trường đào tạo bác sĩ nha khoa ở
Philađenphia (Mỹ) cho rằng: "Stress" (khủng hoảng, sợ hãi, cảm
xúc...) mãn tính có khả năng gây hỏng răng. Khủng thương Thận, do đó, sợ hãi...
có thể làm hỏng răng được.
Bác sĩ Stanley Cobb chuyên gia về thần kinh, cho rằng, sự
lo âu, sợ hãi, liên quan mật thiết với các triệu chứng gây ra bệnh thấp khớp.
- Theo Tạp chí Prirôda (Ý), sau khi nghiên cứu 340 người
từ 40-80 tuổi thấy rằng, người hút thuốc lá loãng xương mạnh hơn (hút thuốc làm
kim suy, Kim suy không sinh được Thủy).
4. Nước tiểu
-Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi:
"Nước tiểu là dịch của Thận".
- Nơi người già Thủy khí suy yếu, vào mùa đông, buổi tối,
những ngày mưa các cụ thường đi tiểu nhiều, do đó, nước tiểu và thủy khí có
liên hệ với nhau.
- Đi tiểu nhiều lần, nhất là tiểu đêm, nước tiểu nhiều và
trong là dấu hiệu Thủy của Thận suy.
- Ít tiểu, nước tiểu đỏ, tiểu ít nước, tiểu ra máu là dấu
hiệu Hỏa của Thận vượng.
- Bí tiểu vì bọng đái không co thắt là dấu hiệu Mộc của
Thận suy.
- Đái gắt, (Tiểu nhiều lần, mỗi lần ra ít nước tiểu) do sự
quá co thắt của Bàng quang là dấu hiệu Mộc của Thận vượng.
- Người Thận Thủy bình thường, uống nước vừa đủ khi khát,
không đi tiểu quá 4 lần 1 ngày.
- Bác sĩ Bedrich Nejedly, khoa hóa sinh tỉnh Klando (Tiệp
Khắc) cho biết: có sự liên hệ giữa việc uống ít nước và bệnh thận. Uống quá ít
nước, độ đậm đặc của nước tiểu trong Thận tăng lên và nếu tình trạng này kéo
dài sẽ gây viêm nhiễm đường tiểu. Đây là dấu hiệu hỏa của Thận vượng do Thủy
khí của Thận không đầy đủ do thiếu nước cung cấp.
- Tại Thượng Hải, các nhà nghiên cứu đã chiết từ nước tiểu
ra 1 loại men có tên là Urokinaza (chống đông máu) để trị bệnh huyết khối, tắc
mạch máu Phổi. Nhồi máu cơ tim. Nó còn có tác dụng hòa tan những cục máu nghẽn
là vật cản trong hệ thống tuần hoàn. Dùng nước tiểu (biểu hiện của Thận Thủy để
điều trị bệnh ở Tâm hỏa là áp dụng luật tương khắc, Thủy khắc Hỏa).
- Tinh khí thật ra do tinh hoa 5 khí của Ngũ hành kết lại
chứ không phải chỉ do 1 mình Thận, dù Thận giữ vai trò chủ yếu, do đó, nếu tổng
trạng suy nhược, tinh dịch không thể sinh ra nhiều được.
- Ngược lại, đa dục (ham mê tửu sắc quá độ) làm mất tinh
dịch quá nhiều, sẽ có thể làm cho cơ thể suy nhược.
- Làm mất nhiều tinh dịch hoặc tinh dịch không đủ, có thể
gây nên các chứng bệnh bất lực, hiếm muộn con cái.
- Theo các nhà nghiên cứu: Tắm ngồi lâu trong bồn nước
nóng, âm nang nóng liên tiếp, lượng tinh trùng sẽ giảm xuống gây ra tình trạng
vô sinh (đây là hiện tượng của Hỏa (nước nóng) làm hại Thủy (tinh dịch). Muốn sản
sinh tinh trùng, dịch hoàn phải có nhiệt độ 3505 - 360
nghĩa là thấp hơn thân nhiệt bình thường 1 - 105. Y học phát hiện rằng,
khi âm nang nóng lên sẽ gây trở ngại cho việc tạo ra tinh trùng.
- Theo các nhà nghiên cứu, người nghiện thuốc lá nặng
cũng giảm số lượng tinh trùng. Mỗi ngày hút khoảng 30 điếu thuốc lá thì 51/100
lượng tinh trùng bị tiêu diệt. Đây là nguyên tắc tương sinh của Ngũ hành: Hút
thuốc nhiều làm Kim suy, Kim suy không sinh được Thủy.
- Mộng tinh: Xuất tinh trong lúc ngủ mộng. chứng
này tuy do Thận Thủy suy (tinh tiết ra) nhưng thường chủ yếu do Tâm hỏa vượng.
Cơn mộng trong giấc ngủ là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng (vì Tâm tàng thần) Tâm hỏa
vượng phản khắc Thận Thủy gây ra. Nếu mộng tinh quá nhiều lần, tinh dịch sẽ hao
mòn, đưa đến toàn thể các tạng suy yếu, nhất là Thận Thủy, sinh ra chứng Di
tinh hoặc Tiết tinh (Tảo tinh).
- Di tinh: Tinh dịch chảy ra tự nhiên, đây là dấu
hiệu Thủy của Thận suy trầm trọng. Ở những người bệnh nặng, nếu tinh tự xuất ra
là dấu hiệu người bệnh sắp chết vì Thủy của Thận suy kiệt hoàn toàn, không giữ
tinh được.
- Tảo tinh: Tinh tiết quá sớm khi giao hợp. Thường
do Thủy của Thận suy, nhưng cũng có khi do Hỏa của Tâm vượng phản khắc lại Thận
thủy khiến xuất tinh sớm.
- Liệt âm, liệt dương: Triệu chứng suy nhược hoặc
bất lực của bộ phận sinh dục nam nữ, đó là dấu hiệu Thủy của Thận suy, chủ yếu
là Mộc của Thận suy, đồng thời còn là dấu hiệu của sự suy nhược toàn bộ.
- Người Thận thủy vững vàng, không bị tình dục chi phối
và khi giao hợp thì lại hoàn tất 1 cách tốt đẹp. Trái lại người Thận thủy suy,
Tâm hỏa vượng thì luôn luôn bị tình dục ám ảnh và thường thất bại khi giao hợp
như liệt dương, liệt âm, tảo tinh, lạnh cảm... để rồi sinh ra nhiều tật xấu như
thủ dâm, thị dâm, loạn dâm, bạo dâm... làm mất cả phẩm cách.
b) Về chức năng
6. Trí nhớ
- Khi còn trẻ, trí nhớ mạnh mẽ, đầy đủ, ngược lại, đến tuổi
già, thủy khí suy yếu, trí nhớ cũng từ đó trở nên tồi tệ, vậy giữa thủy khí và
trí nhớ có sự liên hệ với nhau.
- Các nhà nghiên cứu cho là trí nhớ con người giảm từ từ
và đều đặn từ 50 - 60 tuổi, bác sĩ Albert, bệnh viện tâm thần Massachusetts nhận
thấy: người ở 60 tuổi trở đi, thường gặp 2 khó khăn:
+ Khó khăn về ngôn ngữ: khó gọi đúng tên người muốn gọi.
+ Khó khăn về trí nhớ: khó nhớ 1 lúc 2 việc cần làm trở
lên.
- Các nhà khoa học ở đại học thành phố Berkeley cho rằng ở
tư thế nằm dễ nhớ hơn, lý do là do máu dồn lên não.
- Theo tuần báo Liên Xô, tại Nhật, theo các số liệu thống
kê của cục đường sắt cho thấy: Trong những tháng oi bức, người ta hay bị quên
hơn cả. Từ đầu tháng 5 hành khách bắt đầu dễ quên, vào tháng 8, thời tiết nóng
bức đến độ mức đồ vật bỏ quên nhiều gấp 2 lần tháng giêng (nóng bức là biểu hiện
của Hỏa vượng, Hỏa phản khắc lại Thủy làm Thủy suy, ảnh hưởng đến trí nhớ).
- "Khủng thương thận (sự sợ hãi làm hại Thận), theo
New Scientist số 3-1983, các nhà nghiên cứu đại học Washington (Mỹ) phát hiện
thấy Shốc tâm lý (đặc biệt là sự sợ hãi) là nguyên nhân gây ra mất trí nhớ.
- Tại Liên Xô, 1 số trường học đã dùng bóng đèn màu tím,
vì ánh sáng màu tím được coi là có lợi cho sự phát triển trí tuệ của học sinh.
- Trong châm cứu huyệt vị, ngang với huyệt Thận du là huyệt
Chí thất (chí là ý chí, Thất là chỗ chứa nhỏ), vậy giữa Thận và ý chí có liên hệ
mật thiết.
- Người điềm Tỉnh, hành động vững vàng trước những biến động
hiểm nghèo là người có Thủy khí sung mãn.
- Người Thủy khí suy yếu, thiếu hẳn ý chí: không thể quyết
định dứt khoát, không có lập trường.
8. Sự sợ hãi:
- Nội Kinh: "Ở chí của Thận là sự sợ hãi".
- Người Thận thủy suy thường hay sợ hãi.
- Khủng thương thận (sự sợ hãi làm hại Thận), những biến
động hăm dọa tính mạng đời sống con người, làm thủy khí suy.
- Alexis Carel, trong "Con người, 1 đối tượng chưa
hiểu hết", có kể lại 1 trường hợp phụ nữ, vì quá hãi sợ và từ lúc đó, bà
không thấy lại kinh nguyệt hàng tháng của mình nữa. (Kinh nguyệt có liên hệ với
Thận, thận suy, ảnh hưởng đến kinh nguyệt).
- Về mùa đông, đêm khuya (thời điểm của Thái âm), người
ta cảm thấy lạnh. Vậy giữa lạnh và thủy khí có liên hệ với nhau.
- Sờ ngoài da thấy lạnh là Thủy của Thận ở phần Biểu suy
(Biểu là phần bên ngoài).
- Người bệnh cảm thấy lạnh nhất là 2 bàn chân, lạnh trong
cột sống, lạnh từ trong lạnh ra, dù sờ ngoài da không thấy lạnh là dấu hiệu Thủy
của Thận suy ở lý (phần bên trong thuộc Lý).
- Tùy theo cảm giác lạnh ở vùng nào có thể suy ra cơ
quan, cục bộ có rối loạn.
+ Thấy lạnh vùng lưng, chân... là dấu hiệu Thủy của Thận
suy.
+ Thấy lạnh vùng trán... là dấu hiệu thủy của Tâm suy...
Thận ố hàn do đó, để bảo vệ thận, thường xuyên tránh tiếp
xúc của Hàn khí (thời tiết lạnh, nước đá lạnh...). Mặc ấm chống lạnh để bảo vệ
Thủy khí của cơ thể.
10. Sự run rẩy
-Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Ở
sự biến động của Thận là run rẩy".
- Khi lạnh quá hoặc khi sợ hãi quá người ta thường run rẩy,
vậy run rẩy có liên hệ với thủy khí.
- Người hay run rẩy tung biến động là người có thủy khí
suy.
11. Tiếng rên rỉ, hắt hơi
- Thiên “Ngũ Duyệt Ngũ Sứ” (LKhu 32) ghi: "Rên rỉ, hắt
hơi là tiếng của Thận".
- Những người bị rét hoặc đang lên cơn kinh hãi thường
hay run rẩy và rên rỉ.
- Người ta thường hay hắt hơi vào những ngày mưa, thời tiết
lạnh, gió lạnh vào sáng sớm... là dấu hiệu Thủy của Phế suy (vì chứng này thường
gây ra kéo dài, mãn tính, do đó, thường là do kim suy kéo theo Thủy suy và Mộc
vượng).
12. Sắc đen
- Thiên 'Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận; ghi: "Sắc của
Thận là sắc đen".
- Sắc của Thái âm, buổi tối, mùa đông là sắc đen.
- Sắc đen sáng, bóng là dấu hiệu thủy khí sung mãn. Thực
tế cho thấy những người da đen, da bánh mật là những người thủy khí sung mãn,
khả năng tình dục của họ rất caop.
- Sắc đen u ám là dấu hiệu của thủy khí suy, thường gặp
nơi những người bệnh lâu ngày, sốt rét, ghiền xì khe, ma túy...
- Quan sát khuôn mặt nơi đồ hình Thái cực ta thấy:
+ Cằm có sắc đen tối là dấu hiệu Thủy của Thận suy.
+ Trán có sắc đen tối là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.
+ Mũi có sắc đen tối là dấu hiệu Thủy của Tỳ suy.
+ Má trái có sắc đen tối là dấu hiệu Thủy của Can suy.
+ Má phải có sắc đen tối là dấu hiệu Thủy của Phế suy.
- Bệnh viện Axiaphânphao (CHDC Đức) thấy rằng những người
hay bị đau đầu và co thắt mạch (dấu hiệu của Hỏa vượng) bao giờ cũng thích lựa
chọn màu xanh đen và 60% người bị bệnh Cường tuyến giáp (bệnh bướu cổ lồi mắt -
Badơđô (Basedow) đặc biệt ưa thích màu tím.
- Da đen bóng, phản ảnh Thủy khí sung mãn, người có sắc
da đen bóng là người thủy khí sung mãn. Thận thủy có liên hệ đến sinh dục, vì
thế dân tộc da đen thường mạnh về tình dục.
13. Hàn khí và thủy khí
- Sách Y Tông Kim Giám: Trên trời là Hàn dưới đất là Thủy,
ở người là Thận, ở thể là cốt, Hàn khí thông với thận, do đó, những bệnh do Hàn
khí gây ra đều liên hệ với Thận.
- Hàn khí là khí lạnh, hay gặp vào mùa đông, phương Bắc,
tối khuya và trong kỹ nghệ lạnh.
- Hàn khí là nguồn năng lực cần thiết để chống lại Hỏa và
Nhiệt khí làm cho mát dịu. Tuy nhiên, nếu hàn khí quá mạnh thì sự mát mẻ dễ chịu
sẽ nhường chỗ cho sự lạnh lẽo, khó chịu.
- Thủy khí là nguồn năng lực của cơ thể chống lại Hàn
khí, nếu thủy khí suy, không chống lại được Hàn khí sinh ra lạnh lẽo.
- Nước là biểu hiện của thủy khí, có tính Hàn, dùng để chống
lại Hỏa khí và Nhiệt khí, tuy nhiên, vì tính hàn của nó nên cũng có thể làm cho
Thủy khí suy (Thận ố hàn), nhất là nước đá lạnh. Uống nhiều nước, gây đi tiểu
nhiều vì Thận phải làm việc nhiều dẫn đến tình trạng Thủy khí suy. Do đó, chỉ
nên uống nước khi cần thiết và khát thôi.
- Phương Tây, mùa Thu, buổi chiều tối là biểu hiện của
Thiếu âm (theo đồ Thái cực).
- Kim khí là nguồn năng lực phát xuất từ Thiếu âm.
B. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA KIM KHÍ
a) Về cơ thể
1. Mũi và Khứu giác
Thiên “Ngũ Duyệt Ngũ Sứ” (LKhu 32) ghi: "Phế khai
khiếu ở mũi, Phế khí thông lên mũi".
- Mũi là cửa của bộ hô hấp, nên có liên hệ đến Kim khí.
- Lông mũi là Thủy của Phế. Lông mũi dầy, dậm là dấu hiệu
Thủy của phế vượng. Lông mũi ít, thưa là dấu hiệu Thủy của Phế suy.
- Mạch máu ở mũi là biểu hiện Hỏa của Phế, do đó, mũi
nóng đỏ, sưng, chảy máu mũi là Hỏa của Phế vượng.
- Gân cơ ở mũi là biểu hiện Mộc của Phế, nơi người viêm,
lao phổi... Kim suy khắc được Mộc khiến Phế Mộc vượng lên, làm cánh mũi phập phồng
(có thể dựa vào dấu hiệu này để chẩn đoán bệnh về Phế 1 cách chính xác).
- Cơ nhục là dấu hiệu của Thổ, trong mũi mọc thịt dư sau
khi viêm là dấu hiệu Thổ của Phế vượng. (Hỏa sinh Thổ).
- Khứu giác có liên hệ đến mũi:
Mũi hoàn hảo, có khả năng phân biệt được mùi vị 1 cách
chính xác và hoàn hảo. Một số dân tộc thiểu số có khả năng phân biệt được mùi vị
của từng loại vật vừa đi qua.
- Mũi bị rối loạn, (viêm nhiễm, có tật...) ảnh hưởng đến
khứu giác, làm khứu giác giảm, có khi không còn cảm giác, mùi vị gì.
- Các chuyên gia Đại Học Tổng Hợp Pensylvania (Mỹ) điều
tra 1955 người từ 5-99 tuổi cho thấy: lứa tuổi từ 20-40 (thời gian vượng của
Thiếu âm Kim khí) có khứu giác nhạy hơn cả. Tuổi 65-80 (thời gian Thiếu âm và
Thái âm suy) hầu như mất khả năng phân biệt mùi đến 1/4.
2. Nước mũi
- Thiên “Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi: "Nước
mũi là dịch của Phế".
- Mũi có liên hệ đến hô hấp, nước là biểu hiện của Thủy dịch,
do đó, nước mũi là dấu hiệu Thủy của Phế.
- Sổ mũi, nước mũi nhiều và trong là dấu hiệu Thủy của Phế
suy.
- Vào mùa đông, buổi sáng khí lạnh, đi mưa về lạnh làm thủy
khí suy người ta hay bị sổ mũi.
- Họng là
1 phần của bộ hô hấp, nơi đây có thanh quản, tuyến Amidal, Vòm họng... đều chịu
sự chi phối các khí của Phế.
- Họng,
Amidal sưng, lở loét... là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng.
- Thanh quản
bị viêm, các dây rung phát âm sưng, gây ra khan tiếng là dấu hiệu Hỏa của Phế
vượng (làm Mộc vượng gây co rút thanh quản làm khản tiếng).
- Khi phải
la hét, nói nhiều, Mộc khí bị huy động quá, sau đó suy sụp làm khản tiếng, tắc
tiếng là dấu hiệu Mộc của Phế suy.
- Người Mộc
khí vượng thường nói lớn tiếng, âm thanh mạnh, do đó, qua giọng nói, không những
biết được phần nào tình trạng của Phế khí mà còn biết được phần nào nội lực dựa
trên đặc tính của âm thanh.
- Tiếng la
hét thuộc Can, người có tiếng hét to, vang là người có Mộc khí của Can vượng.
- Tiếng la
yếu, khàn là dấu hiệu Mộc của Can suy.
- Tiếng cười
thuộc Tâm, cười vanga, to... là dấu hiệu Mộc của Tâm vượng.
- Tiếng
hát thuộc Tỳ, tiếng khóc thuộc Phế, tiếng rên thuộc Thận... có thể dựa vào cường
độ to nhỏ, mạnh yếu để chẩn đoán được tình trạng vượng suy của các tạng phủ
liên hệ.
4. Tuyến
giáp
- Quanh
vùng tuyến giáp có những cơ quan liên hệ mật thiết với chức năng hô hấp, gọi là
xoang cảnh, rất nhạy cảm với các biến thiên của áp lực không khí và tuyến cảnh
phản ứng rất mẫn cảm mỗi khi hóa tính không khí, do đó, giữa tuyến giáp và phế
khí có liên hệ với nhau vì "Phế chủ hô hấp".
- S.
Herbute và 2 cộng sự viên thuộc nhóm sinh học Montpeellier ngày 22-1-1972 đã
công bố kết quả: Hoạt động tuyến giáp đến độ tối đa giữa 2-3g sáng là giờ của
Phế khí vượng (giờ Dần từ 3-5g) do đó, tuyến giáp và Phế có liên hệ với nhau.
- Bướu cổ
đơn thuần (tuyến giáp suy) là dấu hiệu Thổ của Phế suy. Bướu cổ lồi mắt
(BASEDOW, tuyến giáp cường) là dấu hiệu Thổ của Phế vượng.
5. Da lông
- Thiên
“Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi: "Phế chủ da lông (Bì mao)".
- Da lông
là phần trực tiếp tiếp xúc với không khí (Kim khí) do đó, giữa da lông và kim
khí có sự liên hệ với nhau.
- Theo
Eaton: Da lông và tóc ở người mọc rất nhanh vào các tháng 7, 8 và nhanh nhất vào
tháng 9 (tức vào mùa thu, là mùa kim khí vượng), do đó, giữa lông tóc và Kim
khí có sự liên hệ với nhau.
- Da khô,
viêm, nóng, xuất huyết dưới da là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng.
- Cơ nhục
của da phì đại (bướu, mô mỡ...) là dấu hiệu Thổ của Phế vượng.
- Khi tức
giận Mộc khí gia tăng làm cho lông tóc dựng lên là dấu hiệu Mộc của Phế vượng.
- Lông tóc
là biểu hiện Thủy của Phế, vì thế lông măng xanh nhiều là dấu hiệu Thủy của Phế
vượng, ngược lại, ít lông, lông khô, rụng là dấu hiệu Thủy của Phế suy.
+ Da trắng
đục, trắng bạch là dấu hiệu kim khí suy. Người có nước da này hay buồn hay lo
(thường gặp nơi người lao phổi). Những vần thơ, khúc bi kịch não nề nhất, những
chuyện tình sử thảm thương nhất như: Roméo Juliette, chuyện tình Love Story...
đều xuất phát từ dân tộc da trắng.
b) Về chức năng
6. Hơi khí
- Nội Kinh:
"Bao nhiêu khí đều thuộc về Phế".
- Tính chất
của thiếu âm là bốc hơi, liên hệ đến thể hơi, khí.
- Tùy theo
biểu hiện suy vượng của hơi, khí ở vùng nào, có thể suy đoán bệnh ở vùng ấy.
+ Tức hơi
trong phổi là dấu hiệu kim của Phế suy.
+ Tức hơi
dội lên phía trên là dấu hiệu kim của Tâm suy.
+ Tức hơi
vùng bụng là dấu hiệu kim của Tỳ suy.
+ Tức hơi
vùng bụng dưới là dấu hiệu kim của Thận suy.
7. Hô hấp
- Thiên
“Ngũ Tạng Sinh Thành” (TVấn 10) ghi: "Phế chủ hô hấp".
- Cơ năng
hô hấp liên hệ đến không khí, do đó chịu sự chi phối đặc biệt của kim khí.
- Cơ năng
hô hấp có nhiệm vụ trao đổi khí: hít thanh khí vào và thải trọc khí (khí dơ, xấu
ra).
+ Thở vào:
Đưa không khí từ ngoài vào (tức từ Biểu vào Lý) là dấu hiệu Mộc của Phế ở Biểu
(tức là liên hệ đến Mộc của đại trường) chính nhờ Mộc của Phế ở Biểu làm cho bắp
thịt, lồng ngực nâng lên, gia tăng thể tích lồng ngực, làm không khí vào phổi.
Phổi thở vào khó khăn, hơi không đầy phổi là dấu hiệu Mộc của Đại trường suy.
+ Thở ra:
Đẩy không khí từ trong ra ngoài tức là từ Lý ra Biểu là biểu hiện Mộc đó Phế ở
Lý. Mộc khí này liên hệ với cơ năng của cơ hoành và các cơ bụng, làm thể tích lồng
ngực thu hẹp, đẩy không khí ra, làm thở ra. Người bệnh thở ra dồn dập (như
trong bệnh suyễn, Tâm phế mãn... là dấu hiệu Kim của Phế suy làm Mộc vượng lên,
gây ra suyễn, khó thở.
+ Thở dốc:
Người bị xuất huyết nhiều, khí huyết hao hụt, Phế kim suy kiệt làm Mộc của Phế
vượng lên gây nên thở nhanh và gấp trong giai đoạn đầu (biểu hiện qua cánh mũi
phập phồng) và khí Mộc của Phế bị huy động quá trở nên suy thì người bệnh lại
thở yếu, thở dốc trong giai đoạn sau.
- Theo
"FAMILY SAFETY" của Canada,
tại Hiệp hội về môn học bệnh phổi ở Mỹ các nhà nghiên cứu thông báo: uống 1 ly
rượu hoặc nước giải khát có pha rượu trước khi đi ngủ có thể có những hậu quả
đáng tiếc với việc hô hấp trong lúc ngủ. Số người uống rượu, 1 số bị 110 lần
ngưng thở, ít nhất mỗi lần trong 10 giây, còn không uống rượu khi đi ngủ thì chỉ
bị có 20 lần ngưng thở (uống rượu vào làm Hỏa vượng, ban đêm thuộc Thái âm, Thủy
suy, Thủy suy làm Hỏa bùng lên mạnh hơn, Hỏa khắc kim, gây ra ngưng hô hấp).
- Nữ tiến
sĩ tâm lý học S. Harx, Trường đại học Newyork cho rằng hô hấp và tính cách có
liên hệ với nhau.
+ Người hô
hấp sâu và chậm (kim khí sung mãn, đầy đủ) thì tính tình thường kiên định, kiên
quyết, thích mạo hiểm, suy nghĩ và hành động nhanh nhẹn biết cách sắp xếp cuộc
sống riêng mình (dấu hiệu Thủy khí sung mãn, do kim sinh Thủy).
+ Người hô
hấp nhanh và nông (dấu hiệu kim suy) thì tính tình thường hay ngượng nghịu, hiền
lành, nhút nhát, rụt rè, sống quen dựa vào người khác (dấu hiệu Thủy suy, kim
suy làm Thủy suy).
9. Ho
-Thiên “Âm
Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Ở sự biến động của Phế là
ho".
- Ho là 1
tác động ly tâm(từ trong ra ngoài tức từ lý ra biểu) nhằm mục đích đưa hơi thở,
đàm nhớt... từ trong ra ngoài, có liên hệ đến Mộc của Phế.
Trên lâm
sàng thường gặp 2 loại Ho:
+ Ho khan
(khái): Ho không có mục đích loại đờm nhớt là dấu hiệu Mộc của phế vượng.
+ Ho đàm
(khái thấu): Tiếng ho có kèm theo sự thải trừ đàm nhớt ra ngoài cũng là dấu hiệu
Mộc của phế.
- Theo
Colome vào lúc sáng sớm (cuối giấc ngủ) lúc đó máu tụ lại trong phổi làm gây
nên các cơn ho buổi sáng sớm nơi người bị viêm phổi (Hỏa vượng làm Mộc vượng -
buổi sáng là thời điểm Mộc khí vượng).
9. Hen suyễn
- Theo
Reinberg, cơn hen suyễn thường gặp cao điểm nhất từ 24-4g tức là lúc phế khí thịnh
(giờ Dần 3-5g) như vậy giữa suyễn và phế khí có liên hệ mật thiết.
- Thiên “Bản
Thần” (LKhu 8) cũng ghi: Khí nghịch lên gây ra chứng suyễn, cũng theo Nội Kinh:
' Phế chủ khí, Thận nạp khí’, do đó
suyễn cũng liên hệ với Thận.
- Theo
Frank, thời gian cơn hen suyễn trùng hợp với thời gian bài tiết Cocticoit ra nước
tiểu xuống tới mức thấp nhất, do đó giữa suyễn và Thận có mối liên hệ với nhau.
- Phân
tích 1 cơn suyễn ta thấy: Suyễn một hợp chứng gồm 5 triệu chứng:
+ Tức trướng
trong phổi, khó thở là dấu hiệu kim của Phế suy.
+ Đờm tiết
ra nhiều là dấu hiệu Thổ của Phế suy.
+ Nhớt ra
nhiều, nghe tiếng phổi thấy ran ẩm là dấu hiệu thủy của Phế suy.
+ Khí quản
co thắt, thở dồn dập, nghe phổi thấy tiếng rít là dấu hiệu Mộc của Phế vượng.
+ Khí quản
viêm là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng. Hội chứng này là do Kim suy làm Thủy suy
(Tương sinh), Thổ suy (Phản sinh), Mộc vượng (Tương vũ), Hỏa vượng (Tương thừa).
- Theo các
nhà khoa học màng nhày của khí quản và cuống Phổi dễ nhạy cảm bởi không khí ô
nhiễm vì đủ loại... Sự nhạy cảm đó gây ra co rút (Mộc vượng) làm ho hoặc suyễn.
(Kim suy): Tạp chí Nature ngày 23-3-1983 công bố 1 kết quả cho thấy chất
Capsaicin chất cay của ớt (cay thuộc Kim) có tính làm cho màng nhày bớt nhạy cảm
(Kim khắc Mộc), có thể dùng để trị chứng phù của màng nhày (Kim sinh Thủy) của
những người có khí quản nhạy cảm (Mộc vượng) và người bị suyễn (Kim suy).
10. Đàm
- Đàm là
chất bài tiết rà bộ hô hấp, do đó có liên hệ đến Phế.
- Tùy theo
tính chất và màu sắc của đàm, có thể đoán biết sự rối loạn bệnh lý từ đâu.
+ Đàm có lẫn
máu, đàm khô quánh là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng.
+ Đàm có
màu xanh (hay gặp nơi người ho nhiều do cảm nhiễm), dấu hiệu Mộc của Phế vượng.
+ Đàm màu
vàng đặc, (hay gặp trong trường hợp hội nhiễm tụ cầu), dấu hiệu Thổ của Phế vượng
(tăng cường Thổ khí chống lại môi trường ẩm thấp, là môi trường tạo nên các tụ
cầu khuẩn).
+ Đàm
trong, loãng và nhiều dấu hiệu thủy của Phế suy.
11. Buồn sầu
- Lo âu
-Thiên “Âm
Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Chí của Phế là ưu (lo âu)".
- Nơi Đồ
Thái cực, Thiếu âm Kim khí là trung gian của sự vui mừng quá độ (Thái dương) đã
chấm dứt và sự sợ hãi chết chóc (Thái âm) sắp bắt đầu. Giữa 2 trạng thái này,
con người đâm ra lo âu, buồn sầu, buồn cho cái vui đã qua và lo cho cái tàn tạ
sắp đến.
- Mùa thu,
cây cối thay lá, lúa mùa chín tới chờ gặt... làm cho lòng người cũng vì thế mà
buồn.
- "Ưu
thương Phế" (sự lo âu hại Phế): Những nguyên nhân bên ngoài gây sự lo buồn
làm Kim khí suy và ngược lại người Kim khí suy thì hay buồn.
- Để biểu
hiện sự buồn rầu về cái chết trong tang chế. Người Á Đông thường dùng tang phục,
khăn tang, vải liệm... màu trắng (Sắc trắng là sắc của Kim).
c) Về ngoại giới
12. Kim
khí và Táo khí
-Thiên “Âm
Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Táo sinh Kim".
- Y Tông
Kim Giám: "Trên trời là Táo, dưới đất là Kim, ở người là Phế, ở thể là
Bì". Kim khí thông với Phế khí, do đó, các bệnh do Táo khí gây ra đều thuộc
về Phế Kim.
- Triệu chứng
của Táo là khô cổ, khát nước, bón, tiểu ít, da khô, tróc vẩy, Tân dịch hao hụt...
- Thiếu âm
ứng với phương Tây, buổi chiều tối, mùa thu là thời điểm Táo khí vượng lên, Kim
khí ở người cũng theo đó vượng lên.
- Người
Kim khí suy, sẽ dễ chịu vào buổi chiều tối, mùa Thu (là thời điểm Kim khí vượng)
và nặng hơn (khó chịu hơn) vào buổi trưa, mùa hè là thời điểm của Hỏa khí vượng
(Hỏa khắc Kim).
- Phương Đông, Mùa Xuân, Buổi sáng là biểu hiện của Thiếu
dương khí (theo đồ hình thái cực).
- Tính chất của Thiếu dương là khởi sinh, khởi động. Thiếu
dương khí ở người chính là Mộc khí.
- Mở đầu truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du viết: "Ngày
Xuân con én đưa thoi", mùa Xuân báo hiệu Mộc khí phát động, biểu hiện bằng
hình ảnh nhộn nhịp của chim én.
- Theo tổ chức Y Tế thề giới (OMS) sự phát triển sinh lý
của trẻ em, có thể phát triển nhanh vào mùa Xuân hoặc vào mấy giờ đồng hồ sau
khi thức giấc (buổi sáng), như vậy, mùa Xuân và buổi sáng có liên hệ với Mộc
khí.
- J. G Henrotte và các cộng tác viên, trong "Revue
de la société Francaise d’hydrologie" 2è Trimettre, 1972, nhận
xét rằng hàm lượng Cholesterol trong máu rất cao vào những tháng đầu năm
(Cholesterol là 1 dấu hiệu quan trọng trong việc đánh giá chức năng của gan).
Như vậy, mùa Xuân có liên hệ với Mộc khí.
2. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA MỘC KHÍ
a) Về Cơ Thể
1. Mắt và thị giác
- Thiên 'Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận' (TVấn 5) ghi:
"Can khai khiếu ở mắt".
- Tại Sietle (Mỹ) các nhà nghiên cứu nhận thấy: nhiều người
bị sưng Gan sau khi trích lấy máu ở dái tai (Các nhà nghiên cứu cho là vì nhiễm
trùng, tuy nhiên, nếu trích máu cũng ở tai nhưng vào vùng Thuyền tai hoặc Luân
tai... thì không thấy Gan sưng, nếu có nhiễm trùng thì chỉ vùng đó viêm, sưng
thôi, không ảnh hưởng gì đến Gan. Ngành Nhĩ châm (châm ở loa tai) cho thấy: dái
tai là vùng phản chiếu của Mắt, Mắt tổn thương, gây ảnh hưởng đến Gan vì Can
khai khiếu ở mắt. Như vậy giữa Gan và mắt có sự liên hệ với nhau.
- Sự khởi động của Thiếu dương là mở mắt (mở mắt chào đời,
bừng mắt thức dậy...), do đó, Mộc khí liên hệ với mắt và thị giác.
- Năm khí (ngũ hành) của Can đều ảnh hưởng đến mắt.
+ Mắt đỏ, viêm, xung huyết đáy mắt... là dấu hiệu Hỏa của
Can vượng.
+ Chảy nước mắt nhiều, nước mắt sống... là dấu hiệu Thủy
của Can suy.
+ Mắt mỏi, cơ mắt suy yếu cận thị là dấu hiệu Mộc của Can
suy.
+ Mắt giật, mắt lồi, mắt nở lớn là dấu hiệu Mộc của Can
vượng (Trương Phi, tướng nhà Thục trong Tam quốc chí, là người rất nóng tính
(biểu hiện Mộc của Can vượng) mắt của ông lúc ngủ cũng mở lớn như người đang thức).
+ Mắt có mộng, có hột là dấu hiệu Thổ của Can vượng.
2. Nước mắt
- Thiên ‘Tuyên Minh Ngũ Khí’ (TVấn 23) ghi: "Nước mắt
là dịch của Can".
- Nước, thuộc Thủy, Mắt thuộc Can, vì vậy, nước mắt là Thủy
dịch của Can. - Nước, thuộc Thủy, Mắt thuộc Can, nên nước mắt là Thủy dịch của
Can.
- Thủy dịch ở mắt đầy đủ khiến mắt trong sáng là dấu hiệu
Thủy của Can sung mãn.
- Hay chảy nước mắt (nước mắt sống) là dấu hiệu Thủy của
Can suy.
- Khi khóc xong mắt thường thấy đỏ là biểu hiện Thủy của
Can suy, Hỏa của Can vượng. Khóc làm cho nước mắt chảy ra (Thủy suy), Thủy suy
làm Hỏa vượng gây nên mắt đỏ. Nếu khóc nhiều quá, Thủy của can quá suy kiệt,
làm Hỏa bùng mạnh lên, không những làm đỏ mắt mà còn gây nhức đầu.
- Khi căng thẳng thần kinh (Hỏa và Mộc vượng) làm nhức đầu,
mắt đỏ... Nước mắt sẽ làm dịu bớt các tình trạng trên (Thủy khắc Hỏa). Bác sĩ
Eniangopski (Viện hàn lâm y học Liên Xô), khi nghiên cứu về Nước mắt của những
người được thí nghiệm ở trong tình trạng thần kinh căng thẳng nhận thấy: Khoảng
75% đàn ông và 95% đàn bà được thí nghiệm cho biết, họ cảm thấy dễ chịu hơn sau
khi khóc, cũng theo ông, những người rất ít khóc thường hay bị những chứng bệnh
liên hệ đến cảm xúc bị bức bách như: Loét bao tử... (Bao tử loét là 1 hình thức
của chứng Can khí phạm vị, Can Mộc vượng lên khắc Tỳ Thổ).
3. Gân cơ
- Thiên ‘Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận’ (TVấn 5) ghi:
"Can chủ gân cơ".
- Trong cơ thể, các sợi gân cơ liên kết với nhau thành hệ
vận động. Khởi động là đặc tính của Thiếu dương, do đó Mộc khí và sự vận động
có liên hệ với nhau.
- Can huyết đầy đủ, gân cơ được nuôi dưỡng tốt, vận động
tốt. Can huyết kém sẽ gây các chứng tê bại, co quắp, run rẩy...
- Trong cơn động kinh, co giật, các gân cơ co quắp... là
dấu hiệu Mộc khí vượng.
- Tùy biểu hiện tương ứng, có thể tìm ra dấu hiệu vượng
suy của Mộc khí ở các cơ quan Tạng phủ.
Thí dụ: + Bao tử co thắt là dấu hiệu Mộc của Tỳ vượng.
+ Lưỡi khó cử động là dấu hiệu Mộc của Tâm suy.
4. Móng tay, móng chân
- Thiên ‘Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận’ (TVấn 5) ghi:
"Hoa của Can là Trảo". (Vẻ đẹp của Can là móng) và "Ở mức đầy của
Can là móng, vấu".
- Thiên ‘Ngũ Tạng Sinh Thành’ (TVấn 10) ghi: "Can
vinh ra ở trảo".
- Móng tay, móng chân (cũng như ngón tay, ngón chân), giống
như những đọt lá cây, những chỗ khởi sinh, tương ứng với Thiếu dương, do đó, Mộc
khí liên hệ với các móng tay, móng chân. Trong châm cứu, các Tỉnh huyệt luôn khởi
ở đầu các ngón tay, ngón chân.
- Móng tay, móng chân mềm, là dấu hiệu Mộc khí suy (hay gặp
nơi người ít lao động).
- Móng tay, móng chân dầy, cứng là dấu hiệu Mộc khí vượng
(hay gặp nơi những người lao động chân tay).
- Nơi người bệnh phổi, kim khí suy, không khắc được Mộc,
Mộc vượng lên làm cho móng tay dầy lên có hình dạng khum như móng chim.
- Móng chân, tay đỏ thắm, dấu hiệu của Hỏa của Can vượng.
- Móng chân tay nhợt nhạt, dấu hiệu Hỏa của can suy.
- Thiên “Ngũ Tạng Sinh Thành” (TVấn 10) ghi: "Người
ta khi nằm thì huyết dồn về Can".
- Mộc sinh Hỏa, do đó, Mộc khí sung mãn làm cho tuần hoàn
(Tâm Hỏa) được lưu thông tốt, máu huyết đầy đủ.
- Can huyết không đầy đủ, huyết không lên trên được, gây
hoa mắt, chóng mặt, gân cơ không được huyết nuôi dưỡng gây bại xụi, mềm yếu,
huyết không đủ gây kinh nguyệt ít, bế kinh...
- Can khí bị kích động (cảm xúc, giận dữ...), không giữ
được huyết, huyết đi lạc đường gây ra hiện tượng xuất huyết.
- Mộc khí quá vượng, mạch máu sẽ bị co thắt quá độ làm áp
huyết gia tăng, có thể gây vỡ mạch, xuất huyết... thường gặp trong các chứng
tai biến Não do cao huyết áp.
- Theo nhà Tâm lý học J.Lynch: Nói nhiều (biểu hiện của Mộc
vượng) làm cho huyết áp tăng từ 10, 20 đến 50%. Khi trẻ em khóc hoặc thét, huyết
áp của chúng cũng tăng.
6. Sự tức giận, phẫn nộ
- Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi:
"Ở chí của Can là Nộ".
- Người thường hay nổi cơn giận dữ, phẫn nộ dù nhiều khi
chẳng có lý do hoặc lý do rất tầm thường, là dấu hiệu của Mộc khí vượng.
- Khi tức giận, hệ vận động bị kích thích dữ dội khiến
người ta nắm tay lại, vung lên, la hét, mắt trợn, phát hung quang... đôi khi đi
đến hành động tàn bạo... là dấu hiệu Mộc khi vượng.
- Nếu Mộc khí quá vượng mà không phát tiết ra ngoài được
qua hành động (la hét, phẫn nộ...) làm cho Hỏa và Mộc vượng lên, gây xuất huyết
Não, nôn ra máu, xuất huyết tử cung... thường gặp ở phụ nữ hậu sản vì ghen
tuôn.
- Theo các nhà nghiên cứu Palestine, vào mùa Xuân, số người
tự sát gia tăng cao nhất. Theo họ, không phải mùa xuân gây ra thời tiết xấu,
nhưng những người bị bệnh tâm thần (biểu hiện của Tâm Hỏa) cảm thấy khó chịu
hơn (mùa xuân thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa).
- Quá uất giận, Mộc khí bị huy động quá độ có thể gây co
cứng gân cơ lại, dân gian quen gọi là "chết sững". Trong "Đoạn
trường tân thanh", Từ Hải bị Hà Tôn Hiến lừa, tức quá mà chết đứng (gân cơ
co rút).
- Nội Kinh:
"Nộ thương Can". Sự giận dữ hại Can).
- Khi phẫn
nộ, Mộc khí bị kích thích mạnh, nhưng sau khi sự kích thích chấm dứt. Mộc khí bị
mất đi phần lớn, đưa đến tình trạng mệt mỏi rã rời (Mộc khí suy).
- Khi điều
trị bệnh các bà, nhất là phụ nữ sau khi sinh, có máu ghen, dễ uất (Mộc khí vượng)
người ta thường dùng thuốc Bình Can, giải uất.
- Dương
sinh dương, sự phẫn nộ giận dữ sẽ sinh ra vô số sự giận dữ và phẫn nộ khác, Âm
khắc Dương, do đó muốn tiêu diệt sự giận dữ, phẫn nộ, phải Âm hóa chúng bằng
cách hướng tinh thần về cực âm là sự bất phân tranh, sự dịu ngọt, sự hiền lành,
hoặc dẫn đến những chỗ yên Tỉnh, thoáng mát, thoải mái...
5. Hay nói
- Thiên
“Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi: "Can sinh ra chứng hay nói".
- Người Mộc
khí vượng, trong lúc tức giận thường hay nói. Nói nhiều là 1 tác động làm tiêu
hao Mộc khí, do đó, nếu nói được nhiều thì họ sẽ nguôi được cơn giận. Nếu không
nói được, Mộc khí xung vượng làm Hỏa khí vượng theo, có thể gây xuất huyết, hôn
mê thậm chí có thể chết vì tức. Trong truyện Tam quốc chí có kể: Vương Lăng,
quân sư nước Ngụy bị Khổng Minh là quân sư nước Thục thuyết phục đến nỗi tức giận
không nói lại được, thổ huyết ra mà chết.
- Lúc sốt
cao, người ta thường hay nói "sảng" là dấu hiệu của Hỏa và Mộc vượng
(Hỏa vượng làm Mộc vượng).
- Kim khắc
Mộc, Kim suy không khắc được Mộc làm Mộc vượng lên: Một xã hội đầy những sự buồn
phiền (dấu hiệu Kim suy). Mộc khí nhân đó vượng lên, sinh ra chứng nói nhiều,
sinh ra nhiều cuồng sĩ uất ức chửi bới.
- Uống rượu
vào mạch máu nở ra, tuần hoàn máu gia tăng ( Hỏa vượng) làm cho Mộc khí vượng
theo gây ra nói nhiều, đập phá... (tửu nhập ngôn xuất).
- Bác sĩ
Duan Kromhout và đồng nghiệp ở đại học Leiden
(thành phố Zutphen) chế tạo ra 1 máy "Giải uất". Máy này có dạng hình
ống loa ở miệng những người thần kinh căng thẳng, kê miệng vào đó tha hồ mà
nói, máy có bộ phận hãm thanh, không để âm thanh lọt ra ngoài, do đó cứ yên tâm
mà nói. Sau 1 thời gian áp dụng, các nhà nghiên cứu nhận thấy, số người dùng
máy này, cảm thấy thần kinh bớt căng thẳng ngay sau khi nói vào máy xong.
6. Tiếng
la hét
- Thiên
“Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Tiếng của Can là tiếng
hét".
- Tiếng
khóc của trẻ lúc mới sinh ra, tiếng người rộn rã gọi nhau lúc sáng sớm, tiếng
hót kêu của các loại chim... là dấu hiệu Mộc khí phát động.
- Để bắt đầu
làm 1 công việc gì, thường người ta hô lên: Nào một, hai, ba...
- Lúc quá
giận dữ, người ta thường hét to lên, biểu hiện của Mộc khí phát động cùng độ,
gân cơ bị kích thích đến độ khẩn trương khiến người ta làm được nhiều việc phi
thường, kể cả những việc tàn bạo.
- Người bệnh
hay bực dọc, kêu la, bất bình là dấu hiệu của Mộc khí vượng.
- "Vật
cùng tắc phản, âm quá hóa dương, dương quá hóa âm, sau sự kích thích tối đa, Mộc
khí trở nên hao hụt dẫn đến tình trạng mỏi mệt rã rời.
7. Sự nắm
tay
- Thiên
“Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Ở sự biến động của Can là nắm,
níu".
- Can chủ
vận động, Mộc khí bị kích thích, người bệnh thường nắm tay lại (hay gặp nơi người
bị sốt cao, bị kích thích mạnh, giận dữ...).
- Khi giận
dữ quá độ (Mộc khí bị huy động quá) tình cảm biến thành hành động, khiến người
ta nắm tay lại hoặc bóp cổ địch thủ.
- Để biểu
lộ quyết tâm hành động, người ta thường nắm tay lại và vung lên. Thề hứa làm việc
gì, người ta cũng nắm tay lại và vung lên.
- Người Mộc
khí sung mãn thường có 1 cách bắt tay mạnh mẽ, nồng nàn, thân thiết. Ngược lại,
người Mộc khí suy kém thường bắt tay 1 cách rụt rè, ơ hờ.
c) Về Ngoại Giới
8. Sắc
Xanh
- Thiên
“Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Sắc của Can là sắc
xanh".
- Mô tả
mùa xuân, Nguyễn Du trong "Đoạn Trường Tân Thanh" ghi: "Cỏ non
xanh tận chân trời".
- Sắc xanh
của người chính là sắc xanh của Tĩnh mạch dưới da, do đó, Tĩnh mạch có liên hệ
với Mộc khí.
- Tĩnh mạch
trương nở, máu huyết lưu thông trì trệ là dấu hiệu Mộc khí suy yếu.
- Mửa ra
chất xanh là dấu hiệu Mộc của Tỳ vượng.
- Ho ra đờm
xanh là dấu hiệu Mộc của phế vượng.
- Màu xanh
bóng, sáng là dấu hiệu Mộc khí sung mãn, trái lại màu xanh tối đục là dấu hiệu
Mộc khí suy kém.
- Ở bệnh
viện Axiaphânphao (Cộng Hòa Dân Chủ Đức), người ta thấy rằng người đang khỏi bệnh
bao tử loét, dần dần trở nên xa lánh màu xanh lục (màu xanh thuộc Can Mộc, Can
Mộc khắc Tỳ Thổ gây nên chứng bao tử loét, do đó, khi Thổ khỏe mạnh lên, sợ sắc
của Mộc).
- Theo tạp
chí Quid, năm 1984, những người có mụn nhọt đã đóng vẩy thì vảy sẽ bay nhanh nếu
tiếp xúc luôn với màu xanh.
- Tại Mỹ,
tính đến tháng giêng năm 1986, đã có gần 30.000 trẻ sơ sinh mắc bệnh vàng da
(do thừa nhiễm sắc tố mật - dấu hiệu của Thổ vượng) đã được chữa khỏi bằng cách
tắm ánh đèn màu xanh da trời (màu xanh là màu của Can, Can Mộc khắc Tỳ Thổ).
9. Vị chua
- Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi:
"Vị của Can là vị chua"
- Thiếu dương, mùa xuân là mùa cây trái mới trổ, chưa
chín, còn chua.
- Nôn ra nước chua là dấu hiệu Mộc của Tỳ vượng.
- Lưỡi cảm thấy chua là dấu hiệu Mộc của Tâm vượng.
- Muốn cho thuốc đi vào (quy kinh) Can, người ta thường tẩm
thuốc với dấm (vị chua).
9. Phong khí
- Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi:
"Bệnh của mùa xuân là bệnh của Phong".
- Theo sách “Y Tông Kim Giám”: trên trời là phong, dưới đất
là Mộc, ở người là Can, ở thể là cân.
- Phong khí có thể kết hợp với các tà khí khác gây ra
Phong hàn (cảm lạnh), Phong nhiệt (cảm sốt)...
- Phong khí thông với Can khí vì thế nên phong khí gây bệnh
đều ảnh hưởng đến Can Mộc.
- Nội Kinh:
"Can ố Phong" và "Phong thương Can" (Can không thích gió và
gió làm tổn hại Can).
- Tiến sĩ
Felix Sulman, khoa sinh khí hậu học (Bioclimatologie) đại học Hadassah
(Giêrusalem) nhận thấy:
+ Một số
người cho rằng, họ thấy khó chịu và căng thẳng, rất dễ giận dữ khi có gió to
(Phong khí làm Mộc khí phát động).
+ Gió có
thể làm cho 1 số người đang bệnh, ban đêm không ngủ được. (Can tàng huyết, ban
đêm huyết trở về Can, nay Mộc khí phát động, Can khí vượng lên, không tàng được
huyết, gây khó ngủ).
+ Ở những
vùng thường có gió mạnh thường xảy ra nhiều tai nạn xe hơi khi gió đó thổi tới.
Trong thời kỳ có gió ấy, cũng thường xảy ra nhiều vụ tội phạm hơn, thậm chí có
1 số đi đến tự sát. (Mộc khí sinh Hỏa, Mộc khí gia tăng sự hoạt động).
- Mộc khí
là nguồn năng lực của cơ thể để kháng lại với gió (Phong khí) gặp gió nhiều, Mộc
khí sẽ bị suy yếu (mất sự đề kháng) sẽ gây bệnh.
- Người sợ
gió là người có Mộc khí suy yếu.
- Can khí
bất thường, Mộc khí gia tăng làm phong khí khởi phát sinh ra chứng Can phong nội
động gây lác mắt, miệng méo, chân tay run giật ...
- Nơi người
Mộc khí suy, sẽ thấy dễ chịu vào buổi sáng, mùa xuân (thời điểm của Mộc khí vượng)
và khó chịu vào buổi chiều, mùa thu (thời điểm của Mộc khí suy).
- Nơi người
Mộc khí vượng sẽ thấy khó chịu vào buổi sáng, mùa xuân (thời điểm Mộc khí vượng)
và dễ chịu vào buổi chiều, mùa thu (thời điểm Mộc khí suy).
X- Thổ Khí
A. ĐẠI CƯƠNG
- Nơi đồ Thái cực, Thổ nằm ở giữa (trung ương), là nơi kết
tụ tinh hoa của thức ăn rồi phân phối cho toàn cơ thể.
- Trong thiên nhiên, đất đai được ví như Thổ khí, là nguồn
nuôi sống tất cả sinh vật, là Mẹ của muôn vật.
Thiên “Ngũ Tạng Sinh thành” (TVấn 10) ghi: "Tỳ Vinh nhuận
ra ở môi".
- Trong
hình Thái cực, miệng ở vùng giữa, thuộc Tỳ Thổ.
- Tùy theo
dấu hiệu màu sắc, có thể biết được trạng thái bệnh của các cơ quan tạng phủ
liên hệ.
+ Môi dầy,
tốt, đầy đặn là dấu hiệu Thổ của Tỳ vượng.
+ Môi khô,
nứt nẻ, lở, dộp là dấu hiệu Hỏa của Tỳ vượng.
+ Môi đen,
thâm là dấu hiệu Thủy của Tỳ suy.
+ Trong miệng
lở dộp, viêm nhiễm là dấu hiệu Hỏa của Tỳ vượng.
+ Nướu
chân răng sưng là dấu hiệu Hỏa của Tỳ vượng.
+ Hàm cứng,
co giật là dấu hiệu Mộc của Tỳ vượng.
+ Liệt mặt,
miệng méo là dấu hiệu Mộc của Tỳ suy.
+ Râu ria
rậm rạp, bóng láng là dấu hiệu Thủy của Tỳ sung mãn.
2. Nước miếng
Thiên
“Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi: "Nước miếng là dịch của Tỳ".
- Nước là
biểu hiện của Thủy dịch, từ miệng chảy ra. Miệng ở giữa, thuộc Tỳ, do đó nước
miếng có liên hệ với Tỳ.
- Nước miếng
tự trào ra, ra nhiều là dấu hiệu Thủy của Tỳ suy (hay gặp nơi người có giun hoặc
người mất trí nhớ do di chứng não).
- Nước miếng
khô, ít nước miếng, nước miếng đục là dấu hiệu Hỏa của Tỳ vượng.
- Bác sĩ
Nakamura và cộng tác viên tại đại học Nagasaki (Nhật), sau khi thí nghiệm trên
súc vật cho thấy, nước miếng có khả năng làm lành vết thương nhanh chóng. (Các
vết thương ở da, liên hệ với Phế Kim, vì theo Nội Kinh, da lông thuộc Phế dùng
nước miếng, biểu hiện của Tỳ Thổ để điều chỉnh cho Phế Kim (da lông) chính là
áp dụng nguyên tắc Dĩ thổ sinh Kim (Hư bổ mẫu vì Tỳ thổ sinh Phế Kim).
3. Cơ nhục
- Thiên
“Ngũ Tạng Sinh Thành (TVấn 10) ghi: "Tỳ sinh cơ nhục".
- Thổ khí
là nguồn năng lực chuyển hóa thực phẩm ]điều3 đi khắp nơi trong cơ thể để nuôi
dưỡng và sinh ra cơ nhục (thịt).
- Người ăn
nhiều chất bổ dưỡng mà vẫn gầy yếu là dấu hiệu Thổ khí suy, ngược lại, với thực
phẩm đơn giản nhưng lại to béo là dấu hiệu Thổ khí sung mãn, như vậy, Thổ khí
càng sung mãn thì khả năng chuyển hóa thực phẩm càng mạnh, ngược lại Thổ khí
suy yếu thì dù thực phẩm đầy đủ chất bổ dưỡng cũng không được chuyển hóa thành
tinh chất đem đi nuôi toàn cơ thể.
- Thổ khí
suy kém làm cho thịt mềm, trương lực cơ giảm gây ra tứ chi mỏi mệt, bao tử sa,
trực tràng sa, tử cung sa...
- Tùy theo
vị trí vùng, cục bộ bị teo nhão, có thể biết được cơ quan tạng phủ liên hệ bị
suy kém.
+ Chân hoặc
tay trái bị teo nhão, mềm, liệt... là dấu hiệu Thổ của Tỳ và Can suy.
+ Chân,
tay phải teo nhão, liệt yếu là dấu hiệu Thổ của Tỳ và Thận suy.
- Nếu có sự
đột biến, phì đại cơ nhục ở 1 cục bộ... là dấu hiệu Thổ khí của vùng cục bộ đó
vượng. Thí dụ: Bướu cổ lồi mắt (cường tuyến giáp trạng), Tuyến giáp có liên hệ
đến Phế, vậy trường hợp này là do Thổ của Phế vượng.
b) Về chức năng
4. Tiêu
hóa
- Thiên
“Linh Lan Bí Điển” (TVấn 8) ghi: "Tỳ là chỗ cơ bản của hậu thiên - Tỳ chủ
tiêu hóa".
- Cơ năng
tiêu hóa gồm: Tiêu hóa, hấp thu và vận chuyển các chất dinh dưỡng đi nuôi toàn
cơ thể.
- Mọi triệu
chứng về tiêu hóa đều có liên hệ đến Tỳ khí: Tỳ tiêu hóa tốt thức ăn được tinh
lọc thành tinh chất nuôi cơ thể, Tỳ vận chuyển tốt, thức ăn được đưa đến mọi chỗ
trong cơ thể, Tỳ hấp thu tốt thì các dưỡng chất biến thành sức sống nuôi cơ nhục.
Ngược lại nếu Tỳ suy kém sẽ gây nên các chứng biếng ăn, mệt mỏi, tiêu chảy...
- Đưa thực
phẩm vào (hướng tâm - từ Biểu vào Lý) là động tác của Tỳ Biểu tức là vị khí.
- Chuyển
hóa thực phẩm thành tinh chất nuôi cơ thể là chức năng của Tỳ Lý tức Tỳ Khí.
- "Tỳ
ố thấp" (Tỳ không ưa sự ẩm ướt), Tỳ khí yếu không vận hóa được Thủy thấp,
thủy thấp đọng lại ở ruột gây ra ỉa lỏng, tiêu chảy, khó tiểu, Thủy thấp đọng lại
ở phần da thịt gây ra phù.
5. Thống
huyết
- Sách Nội
Kinh: "Tỳ thống huyết, Huyết đi lên xuống chỉ nhờ ở Tỳ, Tỳ tưới khắp bốn
bên".
-
"Máu được tạo nên do tinh chất được chuyển hóa từ thức ăn, máu lại vận chuyển
khắp nơi để nuôi dưỡng cơ thể, do đó, Thổ khí có liên hệ đến sự vận hành khí
huyết.
- Tỳ khí
hư, không quản lý được huyết, huyết ra ngoài gây ra xuất huyết: Rong kinh, đại
tiện ra huyết lâu ngày...
- Thổ khí
suy yếu, sự lưu thông huyết bị trì trệ sẽ gây ra chứng tê, mỏi.
6. Suy tư
Thiên “Bản
Thần” (LKhu 8) ghi: "Ở chí của Tỳ là sự suy tư".
- Tư là nhớ
đến, nghĩ đến.
- "Tư
thương Tỳ" (sự ưu tư làm hại Tỳ).
- Khi ăn uống
mà phải nghĩ ngợi đến công việc gì, việc ăn uống kém phần ngon.
- Người
hay suy nghĩ, tưởng nhớ đến 1 đối tượng nào quá nhiều, thường bị hao gầy 1 cách
nhanh chóng (hay gặp ở những người tương tư...).
- Hao gầy
cơ nhục là dùng hiệu Thổ khí suy, hay gặp nơi người lao phổi. Hoặc những người
bệnh lâu ngày, không ăn uống được.
- Những người
được gọi là "vô tư" (không ưu tư) thường mập mạp, tròn trĩnh và ngược
lại, người mập, tròn thường hay vô tư (vô lo).
- Theo
Science News, số 37/1983, các nhà nghiên cứu đại học tổng hợp Nên Mexico theo
dõi 260 người ở lứa tuổi 64-94 (40% trong số họ đã tốt nghiệp cao đẳng và tất cả
có sức khỏe bình thường). Mục đích thí nghiệm là để kiểm tra giả thuyết cho rằng
những người lớn tuổi có trình độ văn hóa cao, điều kiện vật chất dồi dào và được
ăn uống bình thường, lại bị bệnh vì thiếu 1 số chất dinh dưỡng, do đó, người ta
phát hiện thấy ở họ có sự rối loạn trí nhớ, 5-10% người thử nghiệm có tình trạng
dinh dưỡng thấp đã thực hiện Test tồi hơn so với 90% người còn lại. Sau khi thí
nghiệm, các nhà nghiên cứu thống nhất nhận định là dinh dưỡng ảnh hưởng đến khả
năng trí nhớ và tư duy.
- Người Thổ
khí sung mãn thường có khả năng tập trung tư tưởng rất cao, suy nghĩ vững chắc
và minh bạch.
- Người Thổ
khí suy yếu, khó tập trung ý tưởng vào công việc, mau chán.
- Khi nghe
nhạc, khi ăn uống đầy đủ, người ta thường cảm thấy làm việc được nhiều hơn,
mang hiệu quả hơn. Trái lại, khi bụng đói, rất khó mà làm việc đạt hiệu quả.
8. Tiếng
hát
-Thiên “Âm
Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Tiếng của Tỳ là tiếng hát".
- Các nhà
nghiên cứu nhận thấy, cho súc vật nghe nhạc chúng ăn nhiều và đẻ nhiều hơn. Cây
cối, khi nghe những loại nhạc êm dịu, mức độ tăng trưởng và ra hoa nhiều hơn
nhưng khi nghe những loại nhạc mạnh, kích động, chúng tàn lụi và héo đi nhanh
chóng, do đó, giữa Thổ khí và ca nhạc có liên hệ với nhau.
- Ca nhạc
làm cho Thổ khí vượng lên, ngược lại khi Thổ khí vượng, người ta thường hát.
- Lúc đói,
Thổ khí bị kích động người ta hát hay hơn, khi ăn no Thổ khí bị suy sụp (vì phải
huy động để làm chức nằng tiêu hóa), khi đó, người ta cảm thấy nặng nề, tiếng
hát èo uột, không có hồn.
- Bệnh viện
Luân Đôn của Anh, tháng 10 năm 1984, trong 1 buổi báo cáo cho biết, họ đã dùng
âm nhạc thay thuốc tê khi tiến hành mổ các sản phụ. Phương pháp mổ như sau: cho
các sản phụ khó sinh vừa nghe bản giao hưởng số Năm của Bethoven vừa tiến hành
phẫu thuật. Các sản phụ không thấy đau và ca mổ thành công. Các bác sĩ kết luận
rằng phương pháp này chỉ thích hợp với phụ nữ dịu dàng. Có thể hiểu như sau:
Khi nghe nhạc (Thổ vượng lên) làm kim vượng (Thở đều), Hỏa vượng (tuần hoàn tốt),
Mộc suy ( các cơ bớt co thắt), Thủy suy (không trướng nước).
9. Mùi
thơm
-Thiên “Âm
Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Mùi của Tỳ là mùi thơm".
- Thổ khí
sung mãn thì hơi thở và da thịt tỏa mùi thơm, ngược lại Thổ khí suy yếu, da thịt,
hơi thở tỏa ra mùi hôi thối (hay gặp nơi những người bệnh lâu ngày, ăn uống suy
kém).
- Để cho
thuốc vào Tỳ vị, người ta thường sao vị thuốc cho thơm.
- Khi gặp
những mùi vị đắng, hôi thối (ngược với mùi vị của Tỳ), người ta thường có cảm
giác buồn nôn hoặc muốn ói ra.
10. Vị ngọt
-Thiên “Âm
Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Cam
(ngọt) sinh Tỳ, và Vị của Tỳ là vị ngọt".
- Miệng có
cảm giác ngọt ngào là dấu hiệu Thổ của Tâm sung mãn.
- Miệng có
cảm giác nhạt nhẽo là dấu hiệu Thổ của Tâm suy.
c) Về ngoại giới
11. Sắc
vàng
-Thiên “Âm
Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: "Sắc của Tỳ là sắc vàng".
- Màu vàng
bóng, sáng là dấu hiệu Thổ vượng.
- Màu vàng
đục tối là dấu hiệu Thổ suy.
- Da vàng
là dấu hiệu Thổ khí vượng, Tỳ tàng ý, Tỳ chủ sự suy tư, do đó, các dân tộc da
vàng thường thiên về suy tư, vì thế, hầu hết các tư tưởng vĩ đại, những truyền
thuyết cao siêu của nhân loại đều phát nguồn từ giống da vàng. Các bộ sách lớn:
Nội Kinh, Kinh Dịch, Đạo Đức Kinh... là những bộ sách được cả thế giới công nhận.
- Muốn cho
thuốc thấm nhanh vào Tỳ, người ta thường "sao vàng hạ thổ".
12. Thổ
khí và Thấp khí
- Sách Y
Tông Kim Giám: Trên Trời là Thấp, dưới đất là Thổ, ở người là Tỳ, ở Thổ là Nhục.
- Thấp khí
là khí ẩm thấp, có nhiều hơi nước.
- Thổ khí ở
người là khả năng đề kháng lại với Thấp khí, thấp khí nhiều sẽ làm Thổ suy.
- Nội Kinh:
"Tỳ ố thấp và Thấp thương Tỳ".
- Nếu thấp
khí nhiều quá, Thổ khí không đủ sức chống lại, thổ khí sẽ bị suy kém làm cho
máu huyết không lưu thông được gây nên Tê mỏi, vì Tỳ có chức năng thống huyết.
- Huyết bị
ứ đọng lại sẽ gây nên đau nhức vì "Thông tắc bất thống, thống tắc bất
thông", (lưu thông thì không đau, đau là không thông).
- Tỳ có chức
năng vận hóa Thủy thấp nếu thổ khí suy yếu, thấp khí đọng lại ở cơ nhục sẽ gây
nên chứng Thủy thũng với cảm giác tê mỏi, nặng nề.
- Chứng Cổ
trướng (bụng sưng to) là dấu hiệu Thổ khí suy trầm trọng.
- Thổ khí ứng
với Trung ương, buổi chiều, nên vượng lên trong thời gian đó. Người thổ khí suy
sẽ thấy thuyên giảm vào buổi chiều, nhưng sẽ trầm trọng vào buổi sáng, mùa xuân
(thời điểm của Mộc khí vượng, Mộc khắc Thổ).