| Chỉ mục bài viết |
|---|
| Hoàng Trọng Canh. Dấu ấn văn hóa của người Nghệ Tĩnh... |
| Trang 2 |
| Trang 3 |
| Tất cả các trang |
TỪ ĐỊA PHƯƠNG NGHỆ TĨNH:
VỀ MỘT KHÍA CẠNH NGÔN NGỮ- VĂN HOÁ
TS. Hoàng Trọng Canh
Trích chương 3 và 4 cuốn "Từ địa phương Nghệ tĩnh: Về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hoá" của Hoàng Trọng Canh do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản (Hà Nội, 2009, 471 tr.).

MỤC LỤC
..............................................
3.2.1. Nhóm từ xưng hô trong phương ngữ Nghệ Tĩnh
3.2.3. Nhóm từ chỉ hoạt động đánh giá sự vật
CHƯƠNG 4: TỪ ĐỊA PHƯƠNG TRONG HOẠT ĐỘNG SÁNG TẠO THƠ DÂN GIAN NGHỆ TĨNH
4.1. Vài nét về nội dung và hình thức các tác phẩm thơ dân gian Nghệ Tĩnh
4.2. Sự phân bố của vốn từ địa phương trong các tác phẩm thơ dân gian Nghệ Tĩnh
4.2.1. Về sự phân bố chung của các từ địa phương
4.2.2. Sự phân bố của các từ địa phương xét về từ loại
4.3. Vai trò của từ địa phương trong các tác phẩm thơ dân gian Nghệ Tĩnh
4.3.1. Từ ngữ địa phương với vai trò phản ánh hiện thực trong các sáng tác thơ dân gian Nghệ Tĩnh
LỜI GIỚI THIỆU
Lâu nay, phương ngữ học thường được nghiên cứu chủ yếu là theo quan điểm của ngôn ngữ học lịch sử và địa lí ngôn ngữ học. Những đóng góp của các tác giả có tên tuổi ở nước ta đi theo xu hướng này là hiển minh và rất quý báu. Song hướng tiếp cận phương ngữ học nhủ thế cũng có những hạn chế nhất định, do bản thân cách tiếp cận không cho phép các tác giả thoát ra khỏi những hạn chế của cấu trúc luận thuần tuý. Trong mấy thập kỷ lại đây, với sự tiếp thu và phát triển của xã hội - ngôn ngữ học, của ngôn ngữ học tri nhận, của ngôn ngữ - văn hoá học,...trong Việt ngữ học nói chung và trong phương ngữ học tiếng Việt nói riêng đã thấy xuất hiện những luồng sinh khí mới. Chuyên luận “Từ địa phương Nghệ Tĩnh – về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hoá” của Hoàng Trọng Canh là một trong những biểu hiện cụ thể của luồng sinh khí mới đó. Sở dĩ có thể nói như vậy là vì tác giả chuyên luận đã tiếp cận và nghiên cứu đối tượng bằng một hệ phương pháp khoa học, không chỉ dừng lại ở sự miêu tả đặc điểm lớp từ địa phương Nghệ Tĩnh theo quan điểm hệ thống cấu trúc, mà còn đi sâu vào nghiên cứu lớp từ đó theo quan điểm của ngôn ngữ - văn hoá học; ở đây, trong chuyên luận này, chúng ta cũng có thể thấy tác giả đã vận dụng nhuần nhuyễn cả những hiểu biết và phương pháp của xã hội ngôn ngữ học, ngôn ngữ học tri nhận và phương ngữ học truyền thống. Chính những điều đó đã làm cho công trình nghiên cứu phương ngữ có sắc thái hiện đại, ít nhiều vượt khỏi khuôn khổ của ngôn ngữ học truyền thống.
Dựa trên tư liệu phong phú được thu thập công phu với quy mô lớn, tương đối toàn diện từ hai nguồn, điều tra điền dã qua giao tiếp khẩu ngữ và nguồn cứ liệu từ thơ ca dân gian, lại là người địa phương xứ Nghệ nên đã cho phép tác giả chuyên luận triển khai nghiên cứu nhiều nội dung ở diện rộng và chiều sâu, vừa khái quát vừa cụ thể về bức tranh từ vựng - ngữ nghĩa phương ngữ Nghệ Tĩnh. Có thể nói, qua chuyên luận này, lần đầu tiên diện mạo toàn cảnh hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa phương ngữ Nghệ Tĩnh hiện lên khá rõ nét về vốn từ vựng, về những đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, cấu tạo và cách thức sử dụng. Nhờ đó, chuyên luận cũng góp phần làm cho bức tranh chung về phương ngữ Bắc Trung Bộ nổi rõ hơn.
Đọc chuyên luận, người đọc dễ dàng thấy được những kết quả nghiên cứu cụ thể của tác giả về các phương diện nêu trên với cách miêu tả tỉ mỉ, chính xác, cứ liệu phong phú và cách luận giải có cơ sở dựa trên những những lí luận cơ bản về ngữ âm, ngữ nghĩa, hình thái và ngữ pháp có hiệu lực:
Thứ nhất, các kiểu tương ứng giữa hình thức ngữ âm của từ vựng Nghệ Tĩnh với ngữ âm của từ vựng toàn dân, về phụ âm đầu, về vần và thanh điệu là những miêu tả, kết luận hết sức cụ thể và có giá trị khoa học;
Thứ hai, các mô hình về cấu tạo từ phức địa phương Nghệ Tĩnh với các yếu tố cấu tạo từ địa phương là một trong những đóng góp cụ thể của chuyên luận, vừa khẳng định lý luận về cấu tạo từ mà mình chấp nhận, vừa khởi xướng ra một cách thức nghiên cứu từ vựng địa phương về cấu tạo từ, điều đó cũng có nghĩa là khi nghiên cứu cấu tạo từ của các tiếng địa phương khác có thể vận dụng các cách thức này như là một gợi ý;
Thứ ba, sự miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của từ vựng Nghệ Tĩnh có thể xem là trọng tâm và cũng là thành công nổi bật của chuyên luận. Sáu kiểu tương ứng ngữ âm và ngữ nghĩa giữa từ vựng Nghệ Tĩnh với từ vựng toàn dân cùng các kiểu nhỏ trong mỗi kiểu mà tác giả đã mô tả đối sánh có thể làm cho người đọc thấy rằng, bên cạnh mặt ngữ âm khá riêng biệt thì tiếng Nghệ Tĩnh là một hệ thống ngữ nghĩa với 6 lớp từ vựng, mỗi lớp như vậy có đặc điểm ngữ nghĩa riêng. Những kết quả như thế rõ ràng là cần thiết làm cho sự hình dung về bức tranh phương ngữ Nghệ Tĩnh nói riêng, phương ngữ tiếng Việt nói chung bên cạnh những khác biệt về ngữ âm còn là sự khác biệt về ngữ nghĩa có tính hệ thống, sắc thái phương ngữ là sắc thái âm – nghĩa. Cũng vậy, thói quen hay là sự lựa chọn ngôn ngữ của người địa phương không chỉ là phát âm mà còn là những cảm nhận, phân biệt nghĩa một cách tự nhiên, sự phù hợp của các từ về nghĩa trong giao tiếp;
Thứ tư, chương 3 tác giả đặt ra ba câu hỏi: “Những thuộc tính và những quan hệ gì của sự vật được người Nghệ Tĩnh tri nhận, biểu đạt trong phương ngữ của mình? Thuộc tính và quan hệ đó được biểu đạt như thế nào trong phương ngữ Nghệ Tĩnh. Những thuộc tính, những quan hệ được phản ánh vào từ vựng Nghệ Tĩnh và cách biểu đạt chúng phản ánh những đặc trưng gì của văn hoá Nghệ Tĩnh, của tính cách người dân xứ Nghệ?”. Bằng việc lựa chọn và miêu tả dưới góc độ định danh - tri nhận theo hướng tiếp cận ngôn ngữ - văn hoá đối với 3 nhóm từ vựng khá đặc trưng cho cuộc sống, cách ứng xử cũng như thói quen tư duy của người dân xứ Nghệ là: các từ ngữ chỉ quan hệ thân tộcvà xưng hô, lớp từ chỉ nghề đánh cá, và các từ ngữ biểu thị thuộc tính được đánh giá theo thang độ, chuyên luận cho người đọc thấy cách tiếp cận nghiên cứu hệ thống từ vựng địa phương theo thuộc tính mở. Giải đáp các câu hỏi trên một cách tường minh thật không dễ, nhất là câu hỏi thứ ba, song trong một chừng mực nhất định, với các ngữ liệu phong phú, qua các hình ảnh biểu trưng được lựa chọn và cách phân tích so sánh khách quan, và cũng thật lý thú, tác giả đã cho thấy phần nào những nét dấu ấn có tính đặc trưng về văn hoá, tư duy của người Nghệ;
Thứ năm, nếu như ở chương 2 tác giả cho ta thấy diện mạo, đặc điểm ngữ nghĩa của vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh được nhìn theo quan điểm hệ thống - cấu trúc, chương 3 từ ngữ địa phương được xét từ góc độ định danh, sự tri nhận thì trong chương 4, Hoàng Trọng Canh lại cho ta thấy diện mạo của nó nhìn từ góc độ chức năng. Với cảm thức tinh tế của người bản ngữ, tác giả không chỉ cung cấp cho người đọc những con số thống kê về số lượng và tần số từ ngữ địa phương trong hành chức – một dạng hành chức đặc biệt, đó là sáng tạo thơ dân gian mà qua phân tích miêu tả người đọc còn thấy được vai trò, giá trị nhiều mặt về nội dung và nghệ thuật của từ ngữ phương ngữ trong các thể thơ dân gian.
Ngoài ra, có một điều khá lý thú là trong chuyên luận của mình, Hoàng Trọng Canh nhiều khi đưa ra được những nhận xét lôi kéo người đọc cùng suy nghĩ với tác giả. Chẳng hạn, về thanh điệu, anh cho rằng, tiếng Nghệ Tĩnh không những không có đủ 6 thanh như phương ngữ Bắc mà trong thực tế phát âm của người địa phương, phẩm chất các thanh này cũng khác và sự khu biệt giữa các thanh này cũng không rõ ràng. Theo tác giả lí giải, sở dĩ có hiện tượng đó là do hệ thanh điệu tiếng Nghệ trầm, “sự đối lập về âm vực mờ đi nên trong tiếng Nghệ Tĩnh các cặp thanh điệu có đường nét gần nhau giữa âm vực cao với âm vực thấp càng xích lại gần nhau; sự đối lập các thanh về đường nét trong nhóm thanh (gãy và không gãy) bị nhòe đi, tính khu biệt của các thanh vì thế mà không rõ ràng”.
Toàn bộ nội dung cuốn sách được sắp xếp theo một bố cục chặt chẽ, trình tự hợp lý, lối trình bày dung dị, rành rẽ và sáng rõ từ trong lập luận đến dẫn cứ liệu, rất dễ theo dõi.
Như vậy, chừng ấy vấn đề cũng có thể nói tác giả của chuyên luận đã dày công nghiên cứu và làm được nhiều điều, vượt ra ngoài khuôn khổ một luận án Tiến sĩ mà chính anh đã thực hiện gần đây. Đây là công sức, là những ý tưởng khoa học được ấp ủ, nghiền ngẫm và thực hiện trong dài ngày. Dù rằng tác giả bộc bạch “Những thống kê, miêu tả kiến giải trong công trình này mới chỉ là những kết quả bước đầu trên con đường học tập, tìm hiểu phương ngữ, không dám xem là khám phá, phát hiện khoa học” nhưng theo chúng tôi, công trình khoa học này được giới thiệu với đông đảo bạn đọc thì chắc chắn sẽ đem lại nhiều bất ngờ thú vị không chỉ đối với bạn đọc còn lạ lẫm với mảnh đất và con người Nghệ Tĩnh mà có thể với cả những người con xứ Nghệ đang sinh sống tại quê hương hay trên mọi vùng quê của đất nước. Xét về chuyên môn, trong bối cảnh thành quả nghiên cứu của ngành phương ngữ học tiếng Việt được công bố chưa nhiều, việc có thêm một công trình như thế này ra đời là cần thiết, có ý nghĩa đối với công việc nghiên cứu của ngành phương ngữ học tiếng Việt nói riêng, Việt ngữ học nói chung.
Hà Nội, ngày 20 - 9 -2008
GS TS. NGND LÊ QUANG THIÊM
Quy ước trình bày
Tên các tác phẩm thơ dân gian Nghệ Tĩnh - đối tượng khảo sát ngữ liệu trong chương 4, được chúng tôi viết tắt như sau:
- CDNT : Ca dao Nghệ Tĩnh
- HGNT:Hát giặm Nghệ Tĩnh
- HPV : Hát phường vải
-VNT: Vè Nghệ Tĩnh
LỜI NÓI ĐẦU
Tiếng địa phương Nghệ Tĩnh có vị trí quan trọng trong nghiên cứu những vấn đề đồng đại và lịch đại tiếng Việt. Vì thế từ trước đến nay, phương ngữ Nghệ Tĩnh đã được các nhà ngôn ngữ học nước ngoài và trong nước quan tâm. Tuy nhiên, các công trình trước về đối tượng này chủ yếu chỉ bàn về phương diện ngữ âm của nó. Từ vựng địa phương Nghệ Tĩnh, đặc biệt là phương diện ngữ nghĩa chưa được khảo sát đầy đủ và chưa có một chuyên luận bàn riêng.
Chọn từ vựng địa phương Nghệ Tĩnh làm đề tài với trọng tâm hướng vào ngữ nghĩa, khảo sát chúng trên nhiều hướng mở theo quan điểm của ngôn ngữ học hiện đại, chuyên luận này là kết quả khảo sát của chúng tôi được công bố chủ yếu trong luận án Tiến sĩ (2001) cùng những tư liệu, nội dung bổ sung trong thời gian gần đây. Sách nhằm góp phần cùng các tác giả đi trước xác định một bức tranh toàn cảnh về vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh, miêu tả các đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa và sự hành chức của từ địa phương trong các sáng tác thơ dân gian, cũng như những nét sắc thái văn hoá của người Nghệ qua thói quen ứng xử, tri nhận, phân cắt thực tại trong định danh.
Trong quá trình thực hiện và hoàn thiện công trình này, chúng tôi đã nhận được sự góp ý quý báu, sự khích lệ của GS.TS.NGND Lê Quang Thiêm, GS.TS Đinh Văn Đức, GS.TS Hoàng Trọng Phiến, GS.TS Phạm Đức Dương, GS.TSKH Nguyễn Quang Hồng, GS.TS Nguyễn Thiện Giáp, GS.TS Nguyễn Văn Lợi, GS.TS Trần Trí Dõi, PGS.TS Vũ Quang Hào, PGS.TS Phạm Văn Hảo, PGS.TS Vũ Đức Nghiệu, GS.TS Nguyễn Nhã Bản và của nhiều đồng nghiệp khác. Tự đáy lòng, cho phép tôi được bày tỏ ơn sâu và xin cảm ơn các thầy giáo.
Đặc biệt, tôi xin kính cẩn cảm tạ trước hương hồn của cố GS TS Hoàng Văn Hành, cố GS TS NGND Đỗ Hữu Châu, những người đã chỉ bảo cho tôi nhiều điêù hết sức quý báu trong quá trình nghiên cứu đề tài này.
Chúng tôi cũng xin cảm ơn TS Vi Quang Thọ, Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Khoa học xã hội và các phòng ban chức năng đã tạo điều kiện thuận lợi để quyển sách được xuất bản nhanh chóng. Xin cảm ơn PGS.TS Phạm Văn Tình (Viện Ngôn ngữ học) đã nhiệt tình giúp đỡ tôi biên tập và có những nhận xét góp ý vô cùng hữu ích cho cuốn sách này.
Đây là lần xuất bản đầu tiên; những thống kê, miêu tả, kiến giải trong công trình này mới chỉ là những kết quả bước đầu trên con đường học tập, tìm hiểu phương ngữ, tôi không dám xem là khám phá, phát hiện khoa học. Chắc chắn cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong bạn đọc gần xa chỉ giúp cho những vấn đề cần bổ khuyết. Chúng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn trước.
Tp. Vinh - Nghệ An, ngày 15- 9 – 2008
TS. Hoàng Trọng Canh
CHƯƠNG 3
NHỮNG DẤU ẤN VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH
QUA TÊN GỌI VÀ CÁCH GỌI TÊN, XÉT TRÊN MỘT SỐ NHÓM TỪ
3.1. Cơ sở chung của vấn đề
Nếu như chương 2, từ địa phương Nghệ Tĩnh chủ yếu được xét trên quan hệ âm - nghĩa trong sự so sánh với từ toàn dân từ đó chúng ta đã xác định được đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ phương ngữ trong hệ thống thì chương này, từ ngữ địa phương lại được xét trong mối quan hệ tri nhận - định danh, về phương diện phản ánh hiện thực – một khía cạnh văn hoá - ngôn ngữ.
Cơ sở khoa học cũng như những tiền đề về phương pháp nghiên cứu của vấn đề mà chúng tôi tìm hiểu trong chương này đó là mối quan hệ ngôn ngữ và văn hoá. Đặt ra mục đích tìm hiểu bản sắc văn hoá dân tộc qua ngôn ngữ nói chung cũng như những sắc thái văn hoá vùng qua phương ngữ Nghệ Tĩnh là chúng tôi xuất phát từ những cơ sở lý luận nói trên và thực tiễn của tiếng địa phương Nghệ Tĩnh. Có thể nêu vắn tắt nội dung của các định hướng đó trên những luận điểm khái quát sau:
3.1.1. Như đã biết, ngôn ngữ trong nội dung phản ánh thực tại, đã hàm chứa những yếu tố văn hoá của con người. Trong quan hệ với văn hoá, ngôn ngữ vừa là thành tố vừa là phương tiện. ở một phương diện cụ thể, đi vào khảo sát ngôn ngữ toàn dân trong quan hệ với thực tại, với người dùng ta có thể thấy được bản sắc văn hoá của người Việt. Những đặc trưng văn hoá chung đó lại được thể hiện với những sắc thái khác nhau trên từng địa phương cụ thể với những thói quen, cách lựa chọn các biến thể của ngôn ngữ không giống nhau. Trong một phương ngữ, có thể đi vào các trường nghĩa, các nhóm từ vựng để thấy được cách nhìn, sự phân cắt thế giới thực tại của từng địa phương. Cách nhìn, cách phản ánh thể hiện qua tên gọi của từ ngữ chính là một trong những dấu ấn về văn hoá của một vùng.
Ngôn ngữ và văn hoá, với hàng loạt vấn đề có liên quan như ngôn ngữ và tư duy, những phổ quát của ngôn ngữ và tính dân tộc, tính võ đoán của ngôn ngữ với thực tại được phản ánh v.v... đó đều là những vấn đề lớn, cốt lõi, không chỉ là đối tượng quan tâm riêng của ngôn ngữ học. Gắn với các vấn đề đó là những học thuyết những trường phái những quan niệm không hoàn toàn thống nhất trong lịch sử ngôn ngữ học. Những vấn đề này cũng đã được trình bày trong các sách tiếng Việt viết về đại cương hoặc cơ sở ngôn ngữ học thành những luận điểm rất hệ thống và luận giải tường minh [32], [81], [121]. Đặc biệt gần đây có một số bài viết của các tác giả như Lý Toàn Thắng [181], Nguyễn Đức Tồn [197] v.v... không chỉ nghiên cứu lí luận chung mà từ các kết quả nghiên cứu của mình các tác giả còn vừa chỉ ra các biểu hiện của đặc trưng văn hoá ngôn ngữ dân tộc vừa nêu lên phương pháp nghiên cứu văn hoá dân tộc qua tư liệu ngôn ngữ.
3.1.2. Dựa theo mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và văn hoá, người ta thấy rằng, bên cạnh mặt phổ quát của ngôn ngữ, giữa các ngôn ngữ có thể có những cấu trúc từ vựng, ngữ nghĩa và ngữ pháp riêng. Tất cả những sự khác nhau về từ vựng nói riêng ngôn ngữ nói chung đều là do sự khác nhau về văn hoá; hay nói cách khác, các đặc trưng về môi trường, về vật chất hoặc xã hội khác nhau sinh ra những đặc trưng ngôn ngữ khác nhau.
3.1.3. Trong sự nhận thức, phản ánh thế giới thực tại, “con người là trung tâm" của sự tri nhận thế giới thực tại đó. Vì vậy, “Trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ đều có phản ánh một cách hình dung về thực tại khách quan của cộng đồng văn hoá - bản ngữ đó, thường được gọi là "mô hình thế giới" "bức tranh thế giới" (...), "Mỗi mô hình như thế - ngoài cái chung, cái phổ quát - có cái riêng, cái đặc thù, ứng với từng ngôn ngữ và phản ánh một cách tri giác, một cách nhận thức về thế giới của dân tộc ấy (...) được gọi là "cách nhìn thế giới" [181, tr.1].
3.1.4. Từ của mọi ngôn ngữ đều có một trong những chức năng cơ bản là gọi tên (định danh) các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và đời sống xã hội. Nhưng, những mảng hiện thực giống nhau hay một sự vật, một hiện tượng, một hoạt động, một tính chất như nhau trong thế giới thực tại, khi được phản ánh vào ngôn ngữ, qua tên gọi của các từ trong ngôn ngữ cũng như qua từng phương ngữ có thể là những mảng những đoạn cắt khác nhau, vì thế một số lượng từ cũng như cơ cấu nghĩa của từng từ phản ánh hiện thực đó trong từng ngôn ngữ cũng như ở các phương ngữ không phải bao giờ cũng trùng khít với nhau. Sự lựa chọn đặc trưng nào của sự vật để gọi tên, thói quen tâm lí dùng biểu trưng biểu vật riêng ra sao, nét riêng trong liên tưởng chuyển nghĩa của từ là gì, đến cả cái cách quy loại khái niệm của đối tượng được định danh, v.v... đều có thể là những biểu hiện của các nét đặc trưng văn hoá dân tộc (cụ thể hơn xin xem [197]).
Từ những cơ sở trên, ta thấy ngôn ngữ phản ánh thực tại qua lăng kính nhận thức tư duy của con người, cho nên, phân tích ngôn ngữ không chỉ là phân tích cấu trúc, chức năng của tín hiệu trong hệ thống mà còn có thể phân tích chúng trong quan hệ với thực tại phản ánh.
Ngôn ngữ mang tính võ đoán nhưng ngôn ngữ lại do con người tạo ra và sử dụng, bởi vậy không những giữa các ngôn ngữ, mà giữa các phương ngữ trong một ngôn ngữ cũng có thể đặt tên gọi cho sự vật hiện tượng theo những cách khác nhau. Cũng vì vậy,''trong cấu trúc biểu niệm của từ có không ít những nét nghĩa phản ánh cái nhìn của người sử dụng, đó là những nét nghĩa phản ánh các thuộc tính của sự vật, hoạt động, tính chất v.v... trong thực tế, nhưng những thuộc tính này là do con người "gán" cho (...) qua sự cảm nhận, qua tri giác, nhận thức của mình. Không có con người thì không có những nét nghĩa đó" [31, tr.184]. Cái cảm nhận hiện thực ấy, hay là cái dấu ấn văn hoá ấy là riêng bởi từng dân tộc cũng như là riêng từng phương ngữ. Vì thế, đối với các phương ngữ muốn tìm ra những nét bản sắc văn hoá của người địa phương không thể không nhìn ngôn ngữ trong quan hệ với phản ánh thực tại, mà cụ thể ở đây chúng tôi xét trong một phạm vi đối tượng hẹp hơn là qua tên gọi và cách gọi tên ở một số nhóm từ cụ thể.
3.1.5. Trong giới hạn phạm vi của vấn đề đang xét, nội dung nghiên cứu: dấu ấn về sự tri nhận và biểu đạt của từ ngữ, thực chất sẽ đi vào ba khía cạnh:
1- Những thuộc tính và quan hệ gì của sự vật được người Nghệ Tĩnh tri nhận và biểu đạt trong phương ngữ của mình?
2- Những thuộc tính và quan hệ đó được biểu đạt như thế nào trong phương ngữ Nghệ Tĩnh?
3- Những thuộc tính, những quan hệ được phản ánh vào từ vựng phương ngữ Nghệ Tĩnh và cách biểu đạt chúng phản ánh những đặc trưng gì của văn hoá Nghệ Tĩnh, của tính cách người dân xứ Nghệ ?
Trong ba câu hỏi nêu trên, việc chỉ ra các thuộc tính, các quan hệ mà câu hỏi thứ nhất đặt ra và đặc biệt khi giải đáp câu hỏi thứ hai thì như một logic tất yếu sẽ đi đến khái quát những nét đặc trưng văn hoá mà câu hỏi thứ ba đặt ra. Dù biết là vậy, dù cũng sẽ đi theo định hướng như thế song đặt trong tương quan với những vấn đề khác mà chuyên luận cùng quan tâm, ở đây chúng tôi không thể khảo sát tất các nhóm từ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh mà mới chỉ chọn một số nhóm từ xem đó như là những trường từ vựng ngữ nghĩa nằm trong số những trường từ vựng tiêu biểu đặc trưng cho cuộc sống, cách ứng xử, nếp tư duy của người dân xứ Nghệ. Mục đích chính, qua miêu tả phân tích cứ liệu từ vựng ba nhóm từ mà chúng tôi lựa chọn có thể giúp ta thấy rõ hơn, sâu hơn những chỗ khác biệt trong ngữ nghĩa của từ địa phương Nghệ Tĩnh so với từ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân và ẩn khuất đằng sau chúng là những nét sắc thái văn hoá cộng đồng ngôn ngữ người Nghệ Tĩnh mà người đọc cũng qua đó có thể tự nhận ra.
Như vậy, nói cụ thể hơn, ở chương này chúng tôi chủ yếu sẽ xét từ ngữ ở phương diện định danh, trong quan hệ giữa tên gọi với hiện thực được phản ánh vào ngôn ngữ, trên một số nhóm từ cụ thể, với hai mục đích. Đây là những khảo sát cụ thể về ngữ nghĩa của từ và từ vựng phương ngữ theo từng nhóm định danh sự vật, nên qua miêu tả và so sánh ngữ nghĩa trong chương này sẽ là những minh hoạ cụ thể đồng thời bổ sung làm đầy những đặc điểm ngữ nghĩa đã được phân tích ở chương 2. Mục đích chính như đã nói ở trên, qua phân tích những nhóm từ cụ thể hy vọng chúng ta sẽ thấy được những nét sắc thái văn hoá của người Nghệ Tĩnh qua cách "cảm nhận" “cách nhìn” đối với thực tại đã được phản ánh vào ngôn ngữ hay là những "ứng xử" của người Nghệ Tĩnh đối với xã hội và tự nhiên.
3.2. Thế giới thực tại trong con mắt của người Nghệ Tĩnh qua tên gọi và cách gọi tên, xét trên một số nhóm từ
Có thể thấy qua vốn từ, cách nhìn nhận, phân cắt thực tại trong phản ánh của người Nghệ Tĩnh cũng như cách nhìn nhận chung của người Việt, nhưng trong cái chung đó chúng ta vẫn thấy những nét dấu ấn riêng, đặc biệt là qua những nhóm từ vựng cụ thể phản ánh những mảng hiện thực gần gũi gắn bó thường nhật với đời sống cư dân Nghệ Tĩnh. Do điều kiện thời gian và dung lượng của chuyên luận không cho phép, như đã nói, chúng tôi không thể đi hết được các nhóm từ thuộc từ vựng phương ngữ Nghệ Tĩnh mà chỉ đi vào ba nhóm từ vựng quen thuộc được dùng phổ biến đối với người Nghệ xưa nay là: nhóm từ xưng hô, nhóm từ nghề cá và nhóm từ chỉ hoạt động đánh giá sự vật. Lựa chọn của chúng tôi như vậy là có tính chất nêu lên một hướng khai thác vốn từ phương ngữ hơn là đưa ra những kết quả khảo sát toàn diện nhóm từ đó.
3.2.1. Nhóm từ xưng hô trong phương ngữ Nghệ Tĩnh
Xưng hô là một lớp từ khá đặc biệt trong tiếng Việt, nhiều lớp từ loại của hệ thống ngôn ngữ được sử dụng để xưng hô trong giao tiếp ngoài xã hội và trong gia đình; ngoài chức năng thiết lập quan hệ tiếp xúc, lớp từ xưng hô còn có chức năng biểu lộ thái độ tình cảm giữa những người cùng đối thoại. ẩn chứa trong lời của các yếu tố xưng hô là những nhân tố văn hoá ứng xử giữa người với người đã được hình thành lâu đời trong cộng đồng dân tộc theo những phong tục, những ràng buộc với nhiều quan hệ, tuổi tác, vị thế, tôn ti thứ bậc trong họ ngoài làng, thân, sơ v.v.
Kết quả nghiên cứu về phương diện đặc điểm từ loại đối với lớp từ xưng hô trong tiếng Việt là khá toàn diện, được thể hiện trong các nghiên cứu của Nguyễn Tài Cẩn [25], Đinh Văn Đức [73], Nguyễn Minh Thuyết [193], Nguyễn Thị Ly Kha [117] và ở hàng loạt sách ngữ pháp khác. ở bình diện khác - về mặt giao tiếp, lớp từ này cũng đang được đẩy mạnh nghiên cứu ngày càng rộng rãi trên nhiều hướng khác nhau. Nghiên cứu đặc điểm chung về mặt dụng học và dân tộc học giao tiếp như các bài của Nguyễn Văn Chiến [43, 44], về ngữ nghĩa lời hội thoại như các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương [112], Đỗ Thị Kim Liên [130], ở khía cạnh lối nói có hàm ngôn của các từ chỉ họ hàng, như nghiên cứu của Nguyễn Thế Lịch [129] v.v. Trong các phương ngữ của Tiếng Việt cũng như trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, cho đến nay, lớp từ xưng hô còn ít được chú ý.
Từ kết quả nghiên cứu của các tác giả đã đi trước chúng tôi khái quát thành các đặc điểm nổi bật của từ xưng hô trong tiếng Việt và lấy đó làm cơ sở cho việc khảo sát nhóm từ này trong phương ngữ Nghệ Tĩnh.
3.2.1.1. Khái quát về đặc điểm cách xưng hô của người Việt
Tiếng Việt đã dùng một số lượng khá phong phú và đa dạng các từ xưng hô (đại từ xưng hô thực thụ không nhiều, chủ yếu là các danh từ chuyển hoá làm chức năng từ xưng hô) bao gồm nhiều lớp (các đại từ nhân xưng: tôi, tao, nó, hắn..., các danh từ chỉ quan hệ họ hàng: cụ, ông, bà, cô, bác, chú, dì, em, con, cháu..., các từ chỉ chức danh nghề nghiệp: bộ trưởng, thứ trưởng, hiệu trưởng, giáo sư, bác sĩ, thầy giáo, nhà thơ..., các từ chỉ quan hệ tổ chức: đồng chí, bạn, ông, bà..., các tên riêng của người: Dũng, An, Hùng, Thắm..., Các từ chỉ định: đây, đó, ấy, đằng ấy...).
Cách xưng hô trong gia đình họ hàng khá nhất quán và chặt chẽ theo vai, tuổi và vị trí xã hội, trong trong từng đối tượng xưng hô cụ thể, cách xưng hô đồng thời chú ý kết hợp nhiều yếu tố với nhau nên có thể rất uyển chuyển, tế nhị. Yếu tố tuổi và vị thế xã hôị có thể làm xê dịch cách gọi theo vai. Các từ xưng gọi ở đây chủ yếu là danh từ thân tộc.
Cách xưng hô ngoài xã hội thường theo quy tắc tuổi tác, phần lớn các từ được dùng để xưng hô là các danh từ thân tộc, nên ngoài chức năng xưng gọi, lớp từ này còn có tác dụng bộc lộ tình cảm trong giao tiếp, tạo ra sự gần gũi, thân mật. Ngoài ra, quy tắc "xưng khiêm, hô tôn" cũng được áp dụng rộng rãi.
Cách xưng hô của người Việt, mục đích là để xưng gọi, thiết lập quan hệ tiếp xúc trong giao tiếp song đồng thời lại thể hiện tình cảm rõ nét.
Tiếng Việt có xu hướng xã hội hóa từ xưng hô trong gia đình. Các danh từ thân tộc dùng trong gia đình phần lớn đều được dùng trong xưng gọi ngoài xã hội một cách rộng rãi. Ngay cả trong các cơ quan, tổ chức nhà nước, khi giao tiếp trao đổi công việc chung, giữa thủ trưởng với nhân viên, giữa nhân viên với nhau nhiều khi cũng dùng các danh từ thân tộc xưng hô một cách tự nhiên.
3.2.1.2. Xưng hô trong tiếng địa phương Nghệ Tĩnh
ở đây, chúng tôi không khảo sát những từ chỉ chức danh nghề nghiệp, tên riêng của người, các danh từ chỉ quan hệ tổ chức đã được dùng trong xưng gọi. Bởi những tiểu nhóm này mang tính thống nhất cao trong xưng hô giữa các vùng của người Việt. Chúng tôi cũng không đi sâu vào so sánh trên từng từ, từng tiểu loại trong nhóm mà chủ yếu chỉ nêu lên những nét khác biệt trong xưng gọi xét trong hai quan hệ: xưng hô trong gia đình và xưng hô ngoài xã hội, so với xưng hô ở các vùng phương ngữ khác.
- Những khác biệt về xưng hô trong gia đình người Nghệ Tĩnh:
Trong gia đình, họ hàng bên nội cũng như bên ngoại ở Nghệ Tĩnh thường gọi "cháu","chắt" bằng con. Cho nên ta sẽ gặp rất phổ biến các vai khác nhau nhưng có cùng một kiểu xưng gọi: cố (cụ) (và anh, em trong họ ngang vai với "cụ") – con; ôông (ông), bà (và những người trong họ nội, ngoại ngang vai với ông, bà) – con; bác, chú, mự (mợ, thím) o (cô), cụ (cậu), dì, dượng - con. Như vậy cách gọi này là không đúng vai, hay nói cách khác, cách xưng gọi đúng theo vai của người Nghệ Tĩnh thường không triệt để, không nhất quán, thường xuyên như người Bắc Bộ. Ngay cả khi con cháu đã trưởng thành hoặc đã có gia đình, trong tình huống giao tiếp diễn ra có mặt nhiều người lớn tuổi ngoài gia đình, người Nghệ cũng cứ gọi con cháu mình bằng con chứ không gọi bằng anh, chị như người Bắc Bộ. Là người Nghệ Tĩnh, dù là con trai hay gái, con dâu hay rể nếu "bị" cụ, ông bà, bố mẹ,... gọi bằng "anh", "chị" thì người đó sẽ cảm nhận một cách rất tự nhiên rằng, đối tượng xưng gọi với mình đang trách giận mình điều gì đó, mình đang bịđối xử với một tình cảm lạnh nhạt, khách sáo, xã giao hơn cả với người ngoài. Cũng nhất quán như vậy, bình thường người Nghệ cũng không dùng đại từ xưng hô tôi (mang sắc thái trung tính) để xưng với con cháu, ngay cả khi con cháu đã trưởng thành. Trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, tui là từ biến thể ngữ âm, tương ứng với tôi. Nhưng trong cách dùng của người Nghệ Tĩnh cũng như sắc thái biểu cảm của từ, tui khác tôi rất rõ. Con cái có thể dùng tui để xưng với cha, mẹ, ông bà và những người lớn tuổi hơn mình, với sắc thái biểu cảm không trung tính như tôi. Đối với người Nghệ Tĩnh, dùng tui là khiêm nhường và thân mật còn dùng tôi trong trường hợp xưng với người lớn tuổi là có phần xấc xược, hỗn láo. Có lẽ điều đó là do nghĩa gốc của "tui" vốn có nghĩa chỉ kẻ tôi tớ, hèn mọn, nay ấn tượng tâm lí về địa vị đối tượng mà từ gọi tên chưa mờ hẳn, có phần đã khác với "tôi", nên bình thường bậc cha, mẹ, ông, bà, cố..., không dùng tui để xưng với con cháu, nhưng con cháu lại dùng để xưng với bậc trên là vì thế. Chính vì vậy, người Bắc Bộ dùng tôi để xưng với con cái (đã trưởng thành), là bình thường, hay nói đúng hơn là lịch sự, tôn trọng thì ngược lại người Nghệ Tĩnh lại cho đó là thiếu tình cảm, là lạnh lùng, xa lạ.
Như ta biết, trong các quan hệ gia đình xét về mặt tôn ti, tình cảm thì quan hệ cha, mẹ - con là quan hệ máu mủ, gần nhất, gắn bó mật thiết nhất, tình cảm sâu nặng nhất so với các quan hệ: cụ - chắt; ông, bà - cháu; chú, bác, cô, cậu, dì, dượng - cháu. Vì vậy, việc người Nghệ Tĩnh lấy con làm yếu tố trung tâm để xưng gọi là xuất phát từ tình cảm; các bậc cụ, ông bà, hay bác, cô chú, cậu dì khi gọi chắt, cháu bằng con và ngược lại, chắt, cháu tự xưng với cụ, ông bà hay bác, cô chú, cậu dì bằng con là đều “bỏ vai” và “nhập vai” xưng hô một cách tự nhiên, như một tất yếu tự tình cảm trong lòng của mình, theo quan hệ gần nhất, máu mủ nhất là cha mẹ – con. Vì thế, xưng hô trong gia đình đối với người Nghệ Tĩnh, cái quan trọng không phải là để thể hiện đúng vai, vị thế, tôn ti mà là để bộc lộ tình cảm làm cho không khí, tình cảm giao tiếp giữa các vai thêm đầm ấm mật thiết, gần gũi hơn. Cũng như thế, việc không dùng tôi để xưng với hàng con, cháu, chắt, là nằm trong sự thống nhất, nhất quán với việc gọi cháu chắt bằng con như trên, điều đó thể hiện rõ thêm và cho thấy yếu tố tình cảm trong xưng hô của người Nghệ Tĩnh được chú trọng thế nào. Xưng hô như vậy không chỉ là ý thức mà nó đã trở thành thói quen ứng xử như một lẽ tự nhiên với mọi người nơi đây. Cách xưng hô như nói trên có phần giống với cách xưng hô của người Nam Bộ nhưng khác nhiều với người Bắc Bộ.
Hiện nay nhiều vùng Nghệ Tĩnh còn có một thói quen khá phổ biến, gần gũi và có liên quan tới thói quen xưng gọi trong gia đình lấy con làm trung tâm như nói trên, đó là xưng hô giữa vợ chồng đã sinh con. Xưng hô giữa vợ chồng đã sinh con ở Nghệ Tĩnh không phải là anh – em như thường thấy ở Bắc Bộ mà là bố – mẹ. Người Bắc nghe các cặp vợ chồng ở Nghệ Tĩnh xưng hô như vậy thật “lạ” và “kỳ” nhưng với các cặp vợ chồng đã có con ở Nghệ Tĩnh thì phần đông xem đó là tình cảm và tự nhiên bởi đó là thói quen khá phổ biến trong vùng. Cách xưng hô này cũng tương tự cách xưng hô kéo các vai khác nhau ngang bố mẹ trở lên về vai bố, mẹ – con, lấy con làm yếu tố trung tâm. Đây cũng là một kiểu xưng gọi thay vai, xưng gọi theo quan hệ gắn bó, gần nhất về huyết thống để thể hiện tình cảm ấm áp mật thiết. Người chồng và vợ khi sinh con đã chuyển cách xưng gọi anh – em (cùng thế hệ nhưng sinh trước / sinh sau) sang xưng gọi bố - mẹ (cũng lấy con làm trung tâm), gọi thay con, (ngầm ẩn xưng gọi con – bố và con – mẹ). Vì thế theo thói quen chung của cộng đồng người địa phương, như một nét văn hoá ứng xử, đó cũng là một cách xưng gọi đề cao yếu tố tình cảm.
Nét khác biệt khá rõ thứ hai được phản ánh trong phương ngữ Nghệ Tĩnh là người Nghệ Tĩnh xưng gọi trong gia đình (cũng như ngoài xã hội) thường dùng yếu tố mang nét nghĩa giới tính (trai / gái). Điều này thể hiện ở việc dùng các yếu tố cu, đị (đĩ) trong xưng gọi ở lối giao tiếp mộc mạc bình dân. Cho đến nay, tất cả những điểm điều tra mà chúng tôi đã tiến hành ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, không có nơi nào lại không dùng cách xưng gọi này. Như ta biết, nhiều địa phương, các gia đình người Việt, khi có con, thường tên của cha mẹ được gọi thay bằng tên của đứa con đầu lòng. ở Nghệ Tĩnh cũng vậy nhưng trong tên gọi về cha mẹ còn có thêm yếu tố cu hoặc đị đi kèm. Cụ thể là, nếu vợ chồng sinh con trai đầu lòng thì tên gọi cha mẹ của đứa bé sẽ gọi theo tên con đầu lòng và đi kèm theo yếu tố cu đi trước tên riêng. Ví dụ: cu Lan, cu Hoà... Nếu sinh con gái đầu lòng thì tên gọi của bố mẹ cũng gọi bằng tên con gái và kèm yếu tố đị đi trước, ví dụ: đị Lan, đị Hoà... Thậm chí có vùng ở Nghệ Tĩnh (nhất là các vùng ven biển Hà Tĩnh) đến nay vẫn còn dùng yếu tố giái, cò, kèm tên riêng đứa con trai đầu lòng để gọi tên trong xưng hô và cũng còn dùng hịm (hĩm), đóc đi kèm với tên riêng của người con gái đầu lòng để gọi tên bố mẹ. Từ đó trong gia đình giữa vợ với chồng, khi suồng sã, chồng gọi vợ bằng mệ cu (mẹ của thằng cu), mệ đị (mẹ của con đĩ), nếu vợ chồng đã cao tuổi thì gọi bằng mụ cu, mụ đị (hoặc bà cu, bà đị), ngược lại vợ cũng gọi chồng bằng cha cu, cha đị, ôông cu, ôông đị. Đứa bé trong cách gọi thân mật của cha mẹ, cô, chú, bác, dì, dượng... trong gia đình sẽ không gọi theo tên riêng của nó mà có thể được gọi bằng cu, đị một cách tự nhiên (ví dụ: có thể hỏi: Cu đi mô (đâu) rứa (thế)? Đị ăn kẹo không?).
Tương tự, ở một khía cạnh khác, ta cũng thấy tên gọi theo vai ở hàng ông, bà hàng cha mẹ, ngang cha mẹ, giữa bên nội và bên ngoại ở Nghệ Tĩnh, chỉ có sự phân biệt theo giới tính (nam / nữ) là tương đối triệt để, trong khi đó, yếu tố thứ bậc (sinh trước/ sinh sau) lại không được chú ý như cách gọi theo xu hướng chung hiện nay của người Bắc Bộ. ở Nghệ Tĩnh, yếu tố tôn ti chỉ được đặt ra với nam giới về bên nội (thể hiện ở sự phân biệt trong tên gọi bác/ chú), còn bên ngoại, người con trai sinh trước mẹ, sinh sau mẹ vẫn gọi chung là cụ (cậu). Trong khi đó ở Bắc Bộ, xu hướng hiện nay, cậu chỉ dùng chỉ người con trai cùng huyết thống sinh sau mẹ; để chỉ người đàn ông cùng huyết thống sinh trước mẹ thì người Bắc Bộ gọi là bác. Như vậy, nếu không gắn với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể thì tên gọi cụ trong tiếng Nghệ Tĩnh chỉ gợi lên nét nghĩa "giới tính", còn nét nghĩa "sinh trước", "sinh sau" so với "mẹ" không được hiện lên. Cũng vậy, người con gái sinh trước hoặc sinh sau mẹ trong tiếng Nghệ Tĩnh đều gọi là dì. Giống với cụ, tên gọi dì chỉ gợi lên nét nghĩa giới tính "nữ" và "cùng huyết thống với mẹ" nhưng không hàm chứa nét nghĩa "sinh sau" so với mẹ như dì dùng trong phương ngữ Bắc Bộ hiện nay là chỉ người em gái của mẹ. Còn người con gái cùng huyết thống, sinh trước mẹ, phương ngữ Bắc Bộ gọi là bác. Như vậy, về phía bên ngoại, đối với người Bắc Bộ, người con trai hoặc con gái sinh trước mẹ đều gọi là bác, không có sự phân biệt giới tính; việc phân biệt giới tính chỉ đặt ra với đối tượng sinh sau mẹ (cậu / dì). Tương tự, hiện nay xu hướng chung, người Bắc Bộ gọi người con trai hoặc con gái sinh trước cha đều bằng bác, không có sự phân biệt giới tính (nam/ nữ). Việc phân biệt giới tính chỉ đặt ra với đối tượng sinh sau cha (thể hiện qua tên gọi cô / chú). Trong khi đó ở Nghệ Tĩnh về phía bên nội, xét trong quan hệ cùng huyết thống, như đã nói, sự phân biệt tôn ti chỉ được đặt ra về phía nam còn nữ thì không. Nếu như cô trong phương ngữ Bắc Bộ, như xu hướng dùng hiện nay là chỉ người phụ nữ sinh sau bố (em gái bố) thì ở Nghệ Tĩnh o là tiếng dùng chung để chỉ cả người phụ nữ sinh sau và sinh trước bố. Như vậy trong cơ cấu nghĩa của từ o chỉ có nét nghĩa giới tính (nữ) và nét nghĩa quan hệ (huyết thống) với bố mà không bao hàm nét nghĩa "sinh sau" như từ cô. Vậy, phạm vi ngữ nghĩa của các từbác, cô, cậu, dì trong phương ngữ Bắc Bộ hiện nay là không tương ứng hoàn toàn với tên gọibác, o, cụ, dì trong phương ngữ Nghệ Tĩnh. Tóm lại, xu hướng phân biệt trong cách gọi tên của từ xưng hô loại này ở Nghệ Tĩnh cũng có phần khác Bắc Bộ. Nghệ Tĩnh nghiêng về phân biệt giới tính (nam/ nữ) nhưng lại không chú ý phân biệt tôn ti (thể hiện qua tên gọi o, cụ, dì). Với người Nghệ, về phía nữ, bên nội cũng như ngoại (cậu, dì là liên quan tới mẹ – bên ngoại, thuộc về nữ) không được định vai phân biệt trên / dưới. Trong khi đó, phương ngữ Bắc Bộ lại nhấn mạnh hơn sự phân biệt tôn ti mà không chú ý phân biệt giới tính (cả bên nội và bên ngoại, trai gái sinh trước bố, mẹ đều gọi là bác). Như thế, phạm vi đối tượng được phân cắt gọi tên trong xưng hô ở phương ngữ Nghệ Tĩnh là đều xuất phát nhất quán từ một điểm nhìn – quan niệm về nội / ngoại, nam / nữ khác với phương ngữ Bắc. Phải chăng điều đó cho thấy thói quen xưng hô của người Nghệ Tĩnh đã miêu tả là một khía cạnh văn hoá đặc trưng về cách ứng xử trọng nội hơn ngoại, trọng nam hơn nữ của người xứ Nghệ ?
Khác biệt thứ ba về xưng hô trong gia đình ở Nghệ Tĩnh là thể hiện ở việc dùng yếu tố cháu, chắt. Dùng yếu tố cháu, chắt không chỉ là xưng gọi theo quy tắc để thiết lập quan hệ trong giao tiếp mà còn là niềm tự hào về sự tiếp nối của các thế hệ, đề cao sự phát triển giống nòi, ngưỡng vọng tôn kính gia đình lớn có nhiều thế hệ cùng sinh sống. Đề cao sự tiếp nối giống nòi, ngưỡng vọng tự hào về gia đình lớn có nhiều thế hệ cùng sống, đó cũng là một nét tâm lí văn hoá chung của người Việt nhưng ăn sâu vào tâm thức mọi người, thành một thước đo giá trị, thể hiện điều đó ra bằng ngôn ngữ với các đơn vị tồn tại hiển nhiên là các từ như trong phương ngữ Nghệ Tĩnh thì ít thấy vùng nào như thế. Cho tới nay, chúng tôi thấy vùng nông thôn nào của Nghệ Tĩnh cũng còn dùng hình thức xưng gọi này. Vợ chồng sinh con đầu lòng nếu ông bà (nội cũng như ngoại) của đứa bé đã mất thì tên gọi của bố, mẹ đứa bé phải có yếu tố chỉ giới tính (cu, đị,...) đi kèm tên riêng của con, như đã nói ở trên. Nhưng nếu đứa bé sinh ra mà trong gia đình đang có ông bà (của đứa bé) thì tên gọi của người được làm cha, mẹ phải có yếu tố cháu đi kèm trước yếu tố chỉ tên riêng của con đầu lòng để thể hiện nhà có ba thế hệ cùng sống. Ví dụ: ênh (anh) cháu Hoa, ả cháu Hương (hoặc gọi tắt: cháu Hoa, cháu Hương). Trong giao tiếp trực tiếp người ta có thể gọi không có tên riêng nhưng yếu tố cháu thì bắt buộc xuất hiện. Ví dụ gọi: ả cháu, ênh cháu. Đồng thời tên riêng của ông bà trong xưng gọi từ khi có cháu cũng được kèm theo yếu tố cháu đứng trước, ví dụ: ôông (ông) cháu Hiền, bà cháu Hiền. Cũng vậy, nếu đứa bé sinh ra thuộc thế hệ thứ tư trong gia đình mà cố (cụ), ông bà, cha mẹ, con cùng sinh sống thì khi đó xưng hô về cha mẹ, ông bà, cố trước tên riêng đều mang thêm yếu tố chắt (ênh chắt + tên riêng, ôông chắt + tên riêng, cố (cụ) chắt + tên riêng) để thể hiện người được gọi tên là gia đình “tứ đại đồng đường”. Nhiều khi xưng gọi có thể không nhắc tới tên riêng (thường đối với người đã cao tuổi) nhưng yếu tố chắt lại dùng bắt buộc, như nói: cố chắt, ôông chắt, bà chắt, ênh (anh) chắt. Đứa bé cũng vì vậy mà có thể được gọi bằng chắt thay cho cả tên riêng. Ví dụ, hỏi đứa bé: Chắt đi mô (đâu) rứa (thế)? Ngay cả sau khi trong gia đình không còn thế hệ cố (cụ), ông, bà cùng sống, nhưng trong giao tiếp, khi nhắc tới tên gọi người đã quá cố, người đối thoại thường không nhắc đến tên riêng của người đó nhưng vẫn thường giữ yếu tố chắt, cháu; ví dụ nói: Sơ đời (ngày trước người đó còn sống) cố chắt (ôông chắt, bà chắt, ôông cháu, bà cháu,...) là người hay bày dạy cho con cháu lắm. Cách gọi như thế là một biểu hiện của sự tôn kính đã thành thói quen, nếp ứng xử văn hoá đối với người có chắt, có cháu. Người ta coi gia đình có chắt, có cháu có con tiếp nối, cùng chung sống đó như là một biểu hiện của chữ phúc, đức, hậu, là vinh hạnh của gia đình, mọi người trong xã hội đều ngưỡng vọng tôn kính. Cách gọi này rõ ràng toát lên niềm tự hào về gia đình có nhiều thế hệ, có sự tiếp nối, coi trọng sự sinh sôi nảy nở nòi giống gia tộc. Tên gọi và cách gọi tên đó, trong ý nghĩa sâu xa của nó, như sợi giây tình cảm nối kết các thế hệ lại với nhau, tạo nên sự gần gũi ấm cúng và cũng có tác dụng nhắc nhở con cháu trách nhiệm ý thức gia tộc; thế hệ bậc trên (cụ, ông, bà, cha, mẹ) như cũng thấy một phần ý nghĩa cuộc đời mình là ở con cháu. Nhìn vào tên xưng gọi trong gia đình, người ngoài sẽ biết gia đình đó có mấy thế hệ cùng chung sống, qua đó có thể điều khiển hành vi giao tiếp và tình cảm ứng xử của mình cho phù hợp. Đặc điểm này phân biệt với cả phương ngữ Bắc và Nam.
- Xưng hô ngoài xã hội
ở phương ngữ Nghệ Tĩnh, cách dùng từ và phương thức thể hiện sự xưng hô ngoài xã hội, về cơ bản cũng mang đặc điểm chung của tiếng Việt. Đặc điểm đó thể hiện rõ ở việc phương ngữ Nghệ Tĩnh cũng dùng các từ thân tộc trong giao tiếp xã hội, khi "xưng thì khiêm, hô thì tôn". Song nếu chúng ta xét từng phương diện cụ thể về xưng hô thì thấy xưng hô ngoài xã hội của người Nghệ Tĩnh có nhiều đặc điểm riêng không giống ngôn ngữ toàn dân và các phương ngữ khác.
Nét khác biệt dễ thấy nhất là số lượng từ xưng gọi ngoài xã hội ở phương ngữ Nghệ Tĩnh có số lượng phong phú (so với các phương ngữ khác). Ngoài các từ biến âm có quan hệ tương ứng với từ toàn dân như: tui (tôi), tau (tao), bì, mì (bầy), ni (nay), nớ, nứ (nấy), miềng, mêềnh (mình), ôông, ung (ông), cụ (cậu), mệ (mẹ), enh, ênh (anh),... phương ngữ Nghệ Tĩnh còn dùng hàng loạt từ không được dùng trong ngôn ngữ toàn dân, như choa, nghỉ, hoe, học, nhiêu, mới, nho, xạ,... Cùng với các yếu tố của ngôn ngữ toàn dân và với các kết hợp khác nhau, phương ngữ Nghệ Tĩnh đã tạo nên hệ thống từ xưng gọi vừa phong phú, vừa độc đáo. Có thể liệt kê ra đây các từ ngữ được dùng trong xưng gọi ngoài xã hội ở Nghệ Tĩnh như: tui, tau, choa, miềng, mềnh, ni, đằng ni, bầy choa, bầy tui, bì choa, nậu tui, nậu choa, mì choa, nậu ni, bọn ni, bọn choa, bọn tau, bọn tui, nhà tui, nhà choa, nhà miềng, tụi tui, tụi tau, tụi choa, tụi miềng, tụi mềnh, quân choa, quân tau,... (dùng để chỉ ngôi thứ nhất, số ít và số nhiều). Các từ ngữ: mày, mi, nghỉ, ôông, ung, cu, đị, chắt, enh, êênh, ả, mụ, cố, cố chắt, ôông chắt, bà chắt, êênh chắt, ả chắt, ả cháu, êênh cháu, ôông cháu, bà cháu, ôông cu, bà cu, êênh cu, ả cu, ả đị, êênh đị, ôông đị, bà đị, bà hoe, êênh hoe, ôông hoe, ả hoe, ả nhiêu, êênh nhiêu, êênh học, ả học, ả nho, mệ nho, êênh nho,... (dùng chỉ ngôi hai, số ít). Các từ ngữ: bay, bây, bọn bây, tụi bây, nậu bây, bọn mi, tụi mi, nậu mi, tụi mày, bọn mày, nậu mày, quân bay, các nghỉ, các họ,...(dùng chỉ ngôi hai số nhiều). Các từ ngữ: hấn, nghỉ, ôông nứ, ôông nớ, bà nứ, bà nớ, mụ nứ, mụ nớ, mệ nớ, mệ nứ, o nớ, o nứ, ả nớ, ả nứ, êênh nớ, êênh nứ, cố nớ, cố nứ, cu nớ, cu nứ,đị nớ, đị nứ, học nớ, học nứ,...(dùng để chỉ ngôi thứ ba, số ít). Các từ ngữ: họ, chúng nó, bọn nó, chúng hấn, bọn hấn, nậu hấn, nậu hắn, tụi hấn, tụi hắn, quân hấn, bọn nghỉ, nậu nớ, nậu nứ, bọn nớ, bọn nứ, quân nớ, quân nứ,... (dùng đề chỉ ngôi ba, số nhiều).
Phương ngữ Nghệ Tĩnh có số lượng từ ngữ xưng gọi phong phú như vậy, vì thế mà cách xưng gọi ngoài xã hội của người Nghệ Tĩnh rất giàu sắc thái biểu cảm. Tuỳ theo hoàn cảnh, đối tượng và nội dung giao tiếp cụ thể, người ta có thể lựa chọn từ ngữ xưng hô khác nhau làm sao đạt được đích giao tiếp. Chính vì thế, từ xưng hô có số lượng phong phú là một điều kiện và cũng là nguyên nhân làm cho giao tiếp ngoài xã hội ở Nghệ Tĩnh được phân biệt về biểu cảm khá tinh tế. Đặc biệt đáng chú ý là, số lượng các từ dùng trong giao tiếp phong phú nhưng trong đó số lượng từ không mang tính nghi thức chiếm tỉ lệ cao, vì thế, cách xưng gọi ngoài xã hội ở phương ngữ Nghệ Tĩnh mang sắc thái địa phương đậm nét.
Tính đa dạng và phong phú của từ xưng hô trong phương ngữ Nghệ Tĩnh còn được thể hiện ở chỗ: trong xưng gọi ở Nghệ Tĩnh, có cách gọi mộc mạc bình dân, thô ráp, có cách xưng gọi bỗ bã ngang tàng, có cách gọị thân mật, trìu mến, lại có cách gọi trân trọng nghi thức mang tính văn hoá cao. Những cách xưng gọi như vậy không chỉ dùng phổ biến rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày mà cả trong sáng tác thơ ca dân gian chúng cũng được dùng một cách tự nhiên. Chẳng hạn, từ O (cô gái) dùng đối đáp trong ca dao Nghệ Tĩnh:
Các O vấn lộng khăn hồng
Giải điều buông phơ phất sao muộn chồng rứa O
O có thể được dùng rất mộc mạc:
Mần (làm) thì van (kêu) ốm van đau
Thấy O mô đẹp "gấy (vợ) tau bay tề"!
(CDNT)
Nhưng O cũng có khả năng dùng một cách hài hoà nhuần nhuyễn trong những câu ca dao không kém phần tình tứ, tinh tế:
Ông sư là ông sư hinh
Thấy O má đỏ mắt tình liếc đưa
O cười răng bóng hạt dưa
Sư lần tràng hạt đứng ngơ ngẩn người.
Ngay cả những từ như nhiêu, hoe, cu, đị (đĩ), nho, học,... mang sắc thái khẩu ngữ của lối nói không mang tính nghi thức rất rõ nét nhưng trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh chúng đều được sử dụng một cách bình thường. Chẳng hạn:
- "Không ai khốn ai nạn,
Bằng chị cu Kiều"
- "Bứt cỏ bỏ phân,
Ông cu Thân xóm trại,
Ông hoe Ngại xóm Trung"
-"Nom tay đánh cũng đều,
Có thầy đị thầy nhiêu,
Có thầy tri thầy sở"
(HGNT)
Hay khi nói đến đại từ choa, bầy choa, nhà choa,... dường như người nghe mọi vùng khác đều nhận ra ngay đó là tiếng Nghệ. Tuy tính thông tục, khẩu ngữ khá đậm nhưng trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, chúng cũng được sử dụng với tần số không thấp. Ví dụ, ta gặp choa được dùng xưng gọi bộc trực, mộc mạc như khẩu ngữ hằng ngày:"Hết răng choa chịu, (...) choa mà bắt bay chịu, choa chẳng phải con ngài" (HGNT). Choa có thể được dùng cả trong những so sánh ví von, trong lối hát đối đáp nam - nữ. Nhờ kết hợp khéo léo với các yếu tố khác trong một phương thức biểu hiện mang tính nghệ thuật mà choa không còn mang sắc thái thông tục, ngược lại sắc thái biểu cảm của nó lại thể hiện rất đậm:
-"Gái choa như ngọn trầu cay,
Ăn vào một miếng thơm bay nhiều mùi".
-"Gái choa như hột đỗ nành,
Phơi khô tần mật để dành được lâu"
(CDNT)
Và đây là cách dùng một số từ phương ngữ cùng chỉ ngôi một, số nhiều nhưng sắc thái biểu cảm lại ít nhiều khác nhau:
Bầy choa trong thơ ca dân gian xứ Nghệ:
- "Ra răng thì ra,
Bầy choa cứ trói"
(HGNT)
Bầy ta:
- " Nghĩ đến bầy ta,
Khi đập (đánh) Tây cũng sướng"
(HGNT)
Bầy tui:
- Cho con cháu bầy tui,
Được ngày đêm phong nẫm"
(VNT)
Nhà choa:
- Trong họ nhà choa,
Có con ông lão,
Con người kín đáo,
Danh vọng đã lâu
(VNT)
Lấy thêm một vài ví dụ trong thơ ca như vậy ta thấy rằng mức độ sử dụng các từ xưng gọi trong giao tiếp hằng ngày cũng như trong thơ ca là rất phổ biến, điều đó cũng nói lên rằng tính bình dân, tính mộc mạc, tính biểu cảm của từ xưng hô trong phương ngữ Nghệ Tĩnh rõ nét. Dường như không có hàng rào cố định, cứng nhắc ngăn cách phân chia đối với các từ xưng gọi, với nghĩa chỉ ngôi nào, số ít hay nhiều, từ dùng trong khẩu ngữ hay trong văn chương; do có nhiều từ để lựa chọn nên trong các tình huống giao tiếp cụ thể khác nhau người ta có thể linh hoạt sử dụng từng từ xưng hô nhằm biểu thị sắc thái biểu cảm khác nhau.
Nét riêng độc đáo nhất trong xưng gọi ngoài xã hội của người xứ Nghệ có lẽ được thể hiện rõ nhất trong phương ngữ Nghệ Tĩnh là ở cách dân gian đã dùng hàng loạt yếu tố khác nhau để phân chia đối tượng gọi tên theo những thuộc tính khác nhau đã lựa chọn nhằm khu biệt khi định danh. Ngoài các tên gọi quen thuộc như O dùng để gọi người con gái còn trẻ, ả thường xưng gọi đối với những người phụ nữ đã có gia đình con cái,...phương ngữ Nghệ Tĩnh đã dùng học trong các kết hợp anh học, ả học là để chỉ người con trai con gái đến tuổi trưởng thành nhưng chưa "dựng vợ gả chồng" (trước đây, đối tượng còn trẻ như vậy nếu có học hành (học chữ Hán) thì được gọi là êênh nho). Nếu khi người con trai, con gái đã lấy vợ, có chồng nhưng chưa có con thì được gọi là anh nhiêu, ả nhiêu, có vùng lại gọi anh xạ, ả xạ, anh mới, ả mới. Đến khi người con trai, con gái sinh con đầu lòng thì họ được gọi bằng êênh cu, ả cu hay êênh đị, ả đị, tuỳ theo đứa con đầu lòng là trai hay gái (Có vùng còn dùng cả những yếu tố cò, giái kết hợp với êênh, ả để xưng gọi, nếu sinh con trai; dùnghịm, kết hợp với êênh, ả để gọi, nếu họ sinh con đầu lòng là gái). Cách gọi êênh hoe, ả hoe cũng được dùng khá phổ biến ở các huyện thuộc tỉnh Hà Tĩnh thay cho cách gọi êênh đị, ả đị. Những tên gọi có gắn với yếu tố cu, đị, hoe... như vừa nói là chỉ dùng để gọi trong trường hợp vợ chồng người đó khi sinh con đầu lòng không còn có cha mẹ (tức ông bà của đứa bé) đang sống. Nếu sinh con đầu lòng mà ông bà của đứa bé đang sống thì cách gọi tên của ông bà, bố mẹ của đứa bé đều phải có yếu tố cháu (như đã nói ở phần xưng hô trong gia đình) và mọi người (ngoài xã hội) cũng tôn trọng, gọi theo cách gọi của gia đình người đó. Nếu đứa bé sinh ra thuộc thế hệ thứ tư mà cả bốn thế hệ của gia đình đang cùng sống thì cha mẹ, ông bà, cố (cụ) được mọi người trong giao tiếp xã hội gọi kèm theo yếu tố chắt trước yếu tố chỉ tên riêng. Như vậy, yếu tố cháu, chắt không chỉ dùng trong gia đình mà ngoài xã hội mọi người đều dùng nó để xưng gọi một cách tự nhiên. Điều đó cũng cho thấy hình thức xưng gọi như vậy không chỉ là ý thức hay quan niệm mà đã trở thành tâm thức, thói quen ứng xử của cả cộng đồng. Cách xưng gọi như vậy thể hiện sự tôn trọng đối với đối tựơng giao tiếp, tôn trọng truyền thống chung, trân trọng sự tiếp nối về giống nòi, tự hào ngưỡng vọng gia đình lớn có người cao tuổi, có nhiều thế hệ cùng chung sống. Đấy cũng là một nét văn hoá ứng xử đề cao giá trị gia đình, giá trị con người trong sự trường tồn và phát triển gia tộc
Như vậy qua tên gọi và cách gọi tên dùng trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, ta thấy những tên gọi như miêu tả trên không chỉ đơn thuần là nghĩa định danh, với các nét nghĩa trỏ đối tượng theo ngôi thứ, số ít hay số nhiều nào đó mà còn bao hàm trong từ xưng gọi là những nét đặc trưng đã được chọn lựa thể hiện cách nhìn, tình cảm, quan niệm sống ứng xử đối với con người, gia đình, cộng đồng xã hội. Cho nên, nhiều khi chỉ nghe qua các từ xưng gọi đang được dùng trong giao tiếp ta sẽ biết được người đó thuộc gia đình có mấy đời cùng chung sống, đã có chồng / vợ, có con rồi hay chưa, con đầu lòng trai hay là gái v.v... Có thể nói, cách xưng hô như vậy ít thấy ở phương ngữ Bắc Bộ và Nam Bộ.
Qua một vài nét miêu tả khái quát như trên, phần nào ta cũng thấy được người Nghệ Tĩnh đã dùng một số lượng từ xưng gọi rất phong phú và đa dạng. Cách xưng gọi trong gia đình cũng như ngoài xã hội ở Nghệ Tĩnh có sự kết hợp của hai cách xưng gọi: trân trọng nghi thức và mộc mạc bình dân, song nhìn chung rất thấm đậm tình cảm. Dấu ấn về một thói quen trong xưng gọi chú ý nhiều đến yếu tố giới tính, đề cao tính tiếp nối, đề cao gia đình và quan hệ gắn bó giữa các thế hệ trong gia đình, duy trì yếu tố truyền thống trong xưng gọi - đó là những nét sắc thái văn hoá riêng của người xứ Nghệ trong xưng hô.
3.2.2. Nhóm từ chỉ nghề cá
Khi nhìn "Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam á", Giáo sư Phạm Đức Dương đã nhận xét về khu vực lịch sử văn hoá của Việt Nam nói riêng Đông Nam á nói chung - "Đó là nền văn minh nông nghệp lúa nước với một phức thể gồm ba yếu tố: văn hoá đồng bằng, văn hoá miền núi, và văn hoá biển, trong đó yếu tố thứ nhất tuy có sau nhưng chiếm vai trò chủ đạo, lịch sử ở đây đã diễn ra quá trình phát tán - hội tụ dẫn đến những phức thể văn hoá mới chung cho toàn vùng, bước hội tụ sau cao hơn bước hội tụ trước, đồng thời cũng để lại nhiều sắc thái khác nhau có tính chất dân tộc hoặc mang dấu ấn địa phương" [71, tr. 1].
Nghệ Tĩnh, do đặc điểm địa hình, dân cư, kinh tế và xã hội, trong tiến trình phát triển cùng với sự phát triển của văn hoá dân tộc, mảnh đất này đã hội tụ cả ba yếu tố văn hóa núi, đồng bằng vàbiển. Trong phức thể văn hoá đó, văn hoá biển và sông nước là một yếu tố khá nổi trội và từ xa xưa trong văn hoá truyền thống nó đã tạo nên dấu ấn trong nền văn hoá Việt Nam. Giáo sư Trần Quốc Vượng, với cái nhìn địa văn hoá về xứ Nghệ trong bối cảnh chung của đất Việt, đã nhận xét rằng: "Ngắm bức dư đồ nước Việt, bắt đầu từ xứ Nghệ, dải đất Việt miền Trung mới "ưỡn" lồi ra phía biển. Do đó mà từ xứ Nghệ, Việt Nam mặn mòi chất văn hoá biển" [212, tr. 21]. Và cũng trong bài viết này, để chứng minh cho tính chất văn hoá biển và sông nước của xứ Nghệ, ông đã đưa ra nhiều dẫn chứng về "thuyền buôn xứ Nghệ nổi danh" trong lịch sử, nhắc lại "câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An" của Cao Bá Quát và đặc biệt là đặc sản nước mắm xứ Nghệ nổi tiếng khắp nước, một thời "mắm Nghệ" trở thành món ăn đặc biệt để các cô gái bán hàng ăn ở đất Kinh Kỳ mời khách như lời mời của cô giáo trong mấy câu ca dao mà tác giả đã dẫn ra:
Mắm Nghệ lòng ròn
Rượu ngon cơm trắng
Các thầy dù thích hay chưa
Xin ăn một miếng cho vừa ... lòng em!
Và, Giáo sư Trần Quốc Vượng đã khẳng định thêm "có một nền văn hoá cảng thị của xứ Nghệ miền Trung" trong nền văn hoá biển nói chung, bên cạnh nền văn hoá nông nghiệp (cụ thể hơn, xin xem Trần Quốc Vượng [212, tr. 21 và 26]).
Từ góc độ ngôn ngữ, qua nhóm từ chỉ nghề cá trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, hy vọng phần nào chúng ta sẽ thấy được những nét sắc thái văn hoá về một nghề truyền thống của cư dân vùng sông biển xứ Nghệ. Dĩ nhiên trong khuôn khổ một mục của chương chúng tôi không thể phản ánh hết được vốn từ nghề cá xét đầy đủ về các phương diện khác nhau của nghề này mà chỉ đi vào một vài phương diện như công cụ đánh bắt cá, tên gọi và cách phản ánh các đặc trưng của loài cá khi định danh, những ý nghĩa biểu trưng thể hiện qua cách lựa chọn hình ảnh các loại cá để ví von so sánh trong dân gian.
Trước hết nói về phương tiện và công cụ nghề cá. Từ các phương tiện gọi chung phổ biến là nốc (hoặc nôốc) (thuyền) và lái (lưới) các tên gọi phái sinh khác được hình thành để gọi tên phân loại đối tượng theo những đặc điểm, những đặc trưng khác nhau mà người địa phương lựa chọn để phản ánh. Về phương tiện được gọi là nốc, phương ngữ Nghệ Tĩnh dùng 20 từ ngữ phái sinh để định danh, trong đó "nốc" là yếu tố giữ vai trò chỉ loại lớn của sự vật, yếu tố đứng sau có tác dụng biệt loại (phân loại). Như vậy, tìm hiểu yếu tố thứ hai về ngữ nghĩa trong loạt từ ngữ này chúng ta sẽ thấy được những đặc trưng nào của sự vật được người địa phương lựa chọn để định danh. Tập hợp các đặc trưng, thuộc tính của sự vật được phản ánh ta có thể thấy được thói quen cảm nhận và tri giác sự vật đã trở thành quy tắc, phương thức định danh từ ngữ trong phương ngữ. Ngoài nốc có ý nghĩa chung, nốc nác có nghĩa khái quát, 20 từ ngữ còn lại có thể phân thành các loại khác nhau. Vì "nốc" là phương tiện đi lại trên sông, biển nên yếu tố thứ hai được lựa chọn kết hợp với "nốc" là yếu tố chỉ "mục đích" của loại phương tiện đó. Phương thức định danh theo quan hệ kết hợp ngữ nghĩa kiểu này thể hiện ở 6 từ ngữ. Nốc nghề là nốc nghề đánh cá. "Nghề" ở đây không chỉ có ý nghĩa chỉ biệt loại mà còn phản ánh "nhân tố chủ quan" về sự đánh giá của con người. "Nốc" có thể là phương tiện chuyên dùng cho những nghề khác nhau, mục đích khác nhau, ví dụ như nghề vận tải hàng hoá, nghề buôn, nghề chở khách,... và theo nghĩa thông thường, những người làm công việc đó cũng được gọi là "nghề". Nhưng đối với Nghệ Tĩnh chỉ có loại nốc (thuyền) được dùng để đánh cá mới gọi là nốc "nghề". Điều này khách quan cũng phản ánh vị trí, vai trò quan trọng của nghề cá trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Nghệ Tĩnh. Như vậy, theo tâm thức văn hoá của người Nghệ, thuyền chuyên dùng để đánh cá mới được gọi là nốc nghề cho nên những loại nốc chuyên dùng cho nghề khác phải được gọi tên khu biệt với nó. Nốc vận là chỉ loại thuyền chuyên (vận tải) chở hàng hoá thuê; nốc đò là loại thuyền làm đò chở khách trên sông, nốc buôn là loại thuyền của các gia đình buôn bằng đường sông nước dùng chở người nhà và hàng hoá buôn bán; nốc câu là loại thuyền nhỏ dùng để câu cá mực; nốc góc là loại thuyền nhỏ (như thuyền thúng) dùng để cố định các góc vó, trên có treo đèn để cá theo ánh sáng mà vào vó.
Gần gũi với cách gọi tên trên là cách định danh dựa vào phương thức đánh bắt cá. Trong phương ngữ Nghệ Tĩnh có 5 từ định danh theo sự lựa chọn này là: nốc vây, nốc cào, nốc thả, nốc đèn, nốc đáy. Nốc vây là loại thuyền đánh cá biển gọn nhẹ có khả năng cơ động nhanh, khi phát hiện thấy đàn cá thì dùng thuyền vây lưới kín các mặt. Nốc cào (còn gọi là nốc dạ cào) là loại thuyền bằng gỗ lớn đánh bắt xa bờ bằng lưới "dạ" theo hình thức dùng thuyền "kéo"(nên phương ngữ gọi là "cào"). Nốc thả là loại thuyền nhỏ, mạn thuyền được làm thấp, trơn để tiện đánh cá theo hình thức "thả" và thu gom lưới. Nốc đèn là loại thuyền đánh cá đêm, dùng hệ thống đèn chiếu sáng để nhử cá theo ánh sáng mà tập trung tới vị trí đánh bắt. Nốc đáy là tên gọi chỉ loại thuyền của người chuyên đánh cá sông theo cách thức đặc trưng là dùng lưới thả và cố định miệng lưới theo cọc đáy (cọc nhọn dùng để đóng xuống đáy sông).
Có 5 từ định danh theo phương thức lựa chọn yếu tố khu biệt là loại công cụ (lưới) đánh bắt cá. Trong phương ngữ Nghệ Tĩnh có các từ chỉ các loại lưới: "dạ", "rẹo", "rê", "rùng", "vó", mỗi loại lưới như vậy chỉ thích hợp đánh bắt cá trong một ngư trường, thời gian nhất định (độ sâu của nước, loại cá, hình thức đánh bắt, mùa cá v.v...). Cũng do vậy, thuyền chuyên dùng loại lưới nào để đánh bắt cá thì được gọi tên theo dấu hiệu biệt loại đó. Cho nên, theo các loại lưới được dùng để đámh bắt, tên gọi các loại thuyền trong phương ngữ Nghệ Tĩnh cũng có thêm yếu tố đi sau chỉ loại lưới đó. Phương ngữ Nghệ Tĩnh có các từ nốc dạ, nốc rẹo, nốc rùng, nốc rê, nốc vó.
Có hai từ gọi tên theo đặc điểm kích thước của vật, chỉ độ lớn của thuyền là nốc nậy (thuyền lớn) phân biệt với nốc nụ (thuyền bé). Một từ khác cũng đặt tên theo đặc điểm hình thức, nhưng không theo đặc trưng kích thước (nậy, nụ) mà theo hình dáng, đó là từ nốc thúng (cấu tạo cùng kiểu thuyền thúng trong ngôn ngữ toàn dân nhưng khác ở yếu tố nốc mang tính phương ngữ). Từ còn lại là nốc vạn, cách định danh của từ này là chọn đặc trưng đối tượng người sử dụng phương tiện. "Vạn" là "vạn chài"- chủ nhân là những người làm nghề đánh bắt cá chủ yếu ở sông.
Như vậy, các từ dùng để chỉ phương tiện đánh cá trong phương ngữ Nghệ Tĩnh chủ yếu được định danh theo phương thức ghép mà yếu tố loại biệt trong từ ghép loại này là những yếu tố thể hiện đặc trưng về phương thức và công cụ đánh bắt cá. Những đặc trưng lựa chọn như vậy là điển hình, nổi bật của nghề cá. So sánh với các từ toàn dân thuộc nhóm này được Từ điển tiếng Việt thu thập [157, tr. 934], chúng tôi thấy tất cả có 10 từ chỉ về thuyền, trừ từ "thuyền" có nghĩa chung và "thuyền bè" có nghĩa khái quát, sáu trong tám từ còn lại định danh dựa vào đặc điểm hình thức - hình dáng cấu tạo của sự vật là: thuyền thúng, thuyền thoi, thuyền rồng (chọn hình rồng - thuyền của vua), thuyền mành (buồm trông tựa cái mành), thuyền đinh (mũi nhọn), thuyền nan (đan bằng nan tre nứa). Chỉ có hai từ định danh dựa vào đặc trưng khác là thuyền chài và thuyền bồng. Vậy là tuy cùng phản ánh một phạm vi sự vật nhưng số lượng từ địa phương phong phú hơn từ toàn dân và phương thức định danh cũng khác nhau. Trong khi từ ngữ toàn dân chủ yếu lựa chọn đặc điểm về hình thức - hình dáng cấu tạo của sự vật để gọi tên thì chỉ có 3/20 từ địa phương loại này là định danh theo hướng lựa chọn như vậy. Như đã nói ở trên, từ địa phương được dùng để gọi tên phương tiện nghề cá, chủ yếu đã chọn lựa phản ánh các đặc trưng về công cụ và phương thức đánh bắt cá. Sự khác biệt đó theo chúng tôi là có thể giải thích được. Cái dấu ấn riêng của từ địa phương là phản ánh đặc điểm riêng của hoạt động thực tiễn và hoạt động giao tiếp ở địa phương. Hoạt động đó gắn bó với đời sống cư dân Nghệ Tĩnh từ lâu đời, và không kém phần phong phú đa dạng. Mảng hiện thực này khi được phản ánh vào ngôn ngữ, trong ý nghĩa của từ, bên cạnh cái chung, cũng có những nét riêng phương ngữ.
Ngoài nốc ra, về công cụ đánh bắt cá, người Nghệ Tĩnh dùng rất nhiều dụng cụ khác nhau, tuỳ theo môi trường biển, sông, ao hồ, đồng ruộng, khe suối nơi mà người dân sinh sống. Hình thức đánh bắt cá đa dạng, có thể là ở dạng tranh thủ, kết hợp của người làm ruộng chứ không thành nghề vì vậy tên gọi phản ánh các loại dụng cụ đánh bắt cũng mang tính chất phổ biến rộng rãi. Dụng cụ đánh bắt chính, phổ biến trong toàn vùng là lưới (mà người Nghệ Tĩnh gọi là lái), ở Nghệ Tĩnh có nhiều loại khác nhau. Dường như các tác giả Từ điển tiếng Việt [157] không chủ trương thu thập từ ngữ chỉ các loại lưới nên chỉ có duy nhất một từ lưới mang nghĩa chung. Trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, tên gọi chỉ các loại lưới cũng phong phú không kém tên gọi chỉ phương tiện nốc. Ngoài từ lái (biến âm) nghĩa tương đương với "lưới" (kẻ chài người lái) chỉ các loại lưới đánh bắt cá biển, sông, đồng nói chung, phương ngữ Nghệ Tĩnh còn dùng 25 từ phái sinh khác để gọi tên các loại lưới theo những đặc trưng khác nhau. Có thể liệt kê các từ đó là : lái bén, lái bọc, lái chân, lái cước, lái dạ cào, lái dạ đôi, lái đụi (lái đụn), lái mốt, lái mười, lái mực, lái năm, lái nhợ, lái rà, lái rẹo, lái rê, lái rê bay, lái rê khơi, lái rê lộng, lái rùng, lái rút, lái te, lái thả, lái trồng, lái vây, lái vó đèn. Trong các từ đó có những từ định danh theo đặc điểm kích thước thưa dày của mắt lưới (lái mốt, lái mười, lái năm); có loạt định danh theo đặc trưng lựa chọn về đặc điểm, kiểu đánh bắt (lái bọc, lái chân, lái rà, lái rút, lái thả, lái vây, lái vó, lái te); có từ gọi tên theo chất liệu (lái cước, lái nhợ (chất liệu sợi bông); có từ định danh theo mục đích đánh bắt (lái mực) nhưng cũng có những từ mà dấu vết về sự "cảm nhận" hay đặc điểm sự vật được lựa chọn để đưa vào tên gọi đã bị phai mờ "không cònlí do" để giải thích, như các từ: lái rùng, lái rẹo, lái rê, chỉ biết rằng mỗi từ là tên gọi của một loại lưới có đặc điểm đánh bắt các loại cá khác nhau và độ sâu khác nhau.
Ngoài hình thức đánh cá bằng lưới và các dụng cụ quen thuộc với mọi miền như: đó, lờ, vó, câu, nhủi, Nghệ Tĩnh còn dùng hàng loạt dụng cụ khác và mỗi loại như vậy lại có các dạng kiểu hình thức khác nhau để đánh bắt các loại tôm cá khác nhau tùy theo đặc điểm môi trường nước từng vùng miền, do đó mà có các tên gọi khác nhau trong phương ngữ Nghệ Tĩnh. Ví dụ, có hai loại dụng cụ đều để đánh tép biển dùng cho cá nhân nhưng do đặc điểm cấu tạo và hình thức đánh bắt có phần khác nhau nên trong phương ngữ chúng được gọi bằng hai tên gọi là kệu và trú. Kệu có hai gọng tre để đẩy, hình dạng giống cái nhủi, miệng lưới móc chặt vào hai đầu gọng, phía sau của lưới có đụt giống như cái túi. Nếu kệu chỉ đẩy ở độ sâu từ cổ người trở xuống thì trú (lưới dài 8 – 10 mét) lại phải dùng nhiều ống tháp (ống kheo) nối vào chân để đẩy trú ở độ sâu 5,6 mét. Đối với dụng cụ được gọi là "đó", người Nghệ Tĩnh phân ra các tên gọi cụ thể khác nhau theo đặc điểm hình thức, chức năng từng loại: đó đụt (đó đan bằng tre, có nắp đậy, miệng đó được đặt theo dòng chảy, phía cuối thu nhỏ giống cái "đụt" (như cái bao đựng); đó đứng (tên gọi cho biết đặc điểm hình dáng của đó, khi đơm cá đặt "đứng", cửa đứng thẳng); đó nhủi (tên gọi phản ánh đặc điểm hình dáng của đó giống cái nhủi). Các dụng cụ đánh bắt khác như vó, rớ, te,...mỗi loại có đặc điểm riêng. Người Nghệ khi bắt cá to dùng vó (lưới đan thưa), cất cá nhỏ dùng rớ (lưới đan dày mắt hơn vó), để bắt tôm tép thì dùng te. Dụng cụ để đựng cá cũng có nhiều loại nên cũng có nhiều từ định danh. Dụng cụ mà người Bắc gọi là "giỏ" thì người Nghệ Tĩnh có hai tên gọi: là chộng:
Chiều chiều ra đứng mà ngong
Cuốc cùn chộng rách đang dong ngược đồng
(CDNT)
Và oi:
Người ta bắt cáy đầy oi
Sao em bắt nạm cáy ròi ơ em
(CDNT)
Dụng cụ đan bằng nan tre to gấp bốn, năm lần giỏ, đựng cá (vài chục cân) đánh bắt bằng lái rà ở đồng ruộng sâu, ao hồ, khe suối, người Nghệ Tĩnh gọi là vịt. Tên gọi “vịt” phản ánh rõ đặc trưng hình dáng của loại đồ đựng này. Vịt được đan to, kéo, nổi được trên mặt nước nhờ hai bên cột hai ống luồng làm phao, hình dạng của đồ đựng giống như con vịt đang bơi.
Có lẽ phong phú nhất trong vốn từ vựng nghề cá là tên gọi về các loại cá. Tên gọi các loại cá được thu thập trong Từ điển tiếng Việt đã rất phong phú, có101 từ [157, tr. 95], trong phương ngữ Nghệ Tĩnh còn phong phú hơn, gồm 176 từ ngữ.
Sự phong phú của vốn từ vựng loại này là phản ánh đặc điểm phân cắt đối tượng một cách cụ thể theo những đặc trưng lựa chọn mang tính biệt loại rõ ràng của cách cảm nhận, tri giác của người Nghệ. Chẳng hạn, người Nghệ không dừng lại ở tên gọi mực có ý nghĩa "chung chung" mà trong ý niệm, họ phân mực ra thành nhiều loại, nên mới có nhiều tên gọi khác nhau: mực lá, mực cơm, mực ống, mực nang, mực tuộc,... Các tên gọi này chủ yếu được định danh dựa vào đặc trưng hình thức, hình dáng của con mực. Nhìn chung phương thức định danh của các từ ngữ chỉ các loại cá khá đa dạng. Có thể là tên gọi phản ánh đặc trưng môi trường sống của loại cá đó, dạng như: cá mái núi (sống ở khe núi), cá mú đất (cá biển họ cá mú, sống sát mặt đất), cá tràu khe (cá nước ngọt, da có màu sẫm đen, sống ở khe suối)... Nhưng kiểu định danh phổ biến nhất là dựa theo đặc điểm hình dáng, màu sắc của cá. Ví dụ: cá mú hoa, cá tai tượng, cá buồm, cá chỉ vàng, cá dơi, cá đém, cá đốm, cá cứt cò, cá kim, cá lá, cá lá tre, cá lợn, cá lại (lưỡi) bò, cá mu chuối, cá mú nhọn, cá mú tròn, cá ngạnh, cá nục chuối, cá nục gây, cá xóc trắng, cá xóc vàng v.v. Một điều đáng nói là qua tên gọi về cá ta thấy cách phân loại cá của người Nghệ rất cụ thể, tỉ mỉ; nếu không dựa vào đặc điểm hình dáng để phân chia thì cũng thường dựa vào đặc điểm các thời kì sinh trưởng của cá để phân cắt đối tượng thành những đoạn cắt cụ thể nhiều khi đến mức chi li. Chẳng hạn, loại cá đồng mà ngôn ngữ toàn dân gọi là cá rô thì người Nghệ chia cá này thành từng loại nhỏ khác nhau theo các thời kì sinh trưởng, theo độ lớn của nó. Cá rô dùng ở Nghệ Tĩnh là tên gọi chung về loại cá này nhưng khi cá mới nở thì gọi là cá rô rạy (rạy là mới được sinh ra), lớn hơn một chút gọi là cá rô thóc hoặc cá rô thoóc (thóc, thoóc có nghĩa là nhỏ), cá lớn gần bằng ngón tay cái, mình đầy thịt nhưng thân còn ngắn (mùa lũ lụt hay di chuyển thành đàn) gọi là cá rô bù, cá ở thời kì phát triển cao nhất, to nhất thì gọi là cá rô trằn mệ. Tương tự, tên gọi "cá chép" trong ngôn ngữ toàn dân mà người Nghệ Tĩnh gọi theo biến âm là cá chét, đó là tên gọi chung về loại cá này ở trong phương ngữ. Tùy theo độ lớn của cá ở từng thời kì mà người Nghệ thay đổi tên gọi cho nó. Cá chét ở thời kì nhỏ (cá bột) gọi là cá rồng rồng, khi cá lớn khoảng bằng bàn tay gọi là cá hoa. Cá ở thời kì phát triển, to, nặng khoảng trên 1 kg có thể sinh sản mới gọi là cá gáy. Cũng vậy, cá mà ngôn ngữ toàn dân trước đây gọi là “cá chuối” nay phổ biến gọi là "cá quả" thì người Nghệ Tĩnh gọi là cá tràu và phương ngữ Nghệ Tĩnh còn dùng bốn tên gọi khác nhau để phản ánh bốn giai đoạn phát triển của nó. Cá tràu ở thời kì cá bột (mới nở) đang sống thành đàn gọi là cá ma ma. Cá lớn bằng ngón tay cái gọi là cá tràu cóc. Cá lớn bằng cán liềm gọi là cá tràu đô, cá ở thời kì phát triển cao nhất, kích thước khá ổn định gọi là cá tràu. Dựa vào đặc điểm hình dáng, màu sắc, cá tràu lại được chia ra: cá tràu nhọi, cá tràu hoa, cá tràu chó. Cá ở thời kì sinh sản gọi là cá tràu ổ, loại cá tràu sống ở khe suối gọi là cá tràu khe. Cá cơm là một giống cá biển cùng họ cá trích, loại lớn nhất mình to hơn chiếc đũa con, hai bên mình có sọc trắng dài, trong phương ngữ Nghệ Tĩnh loại cá này được phân thành bốn loại khác nhau nên chúng có bốn tên gọi. Loại cá cơm nhỏ nhất gọi là cá cơm tróng (tróng là sợi tre nứa vót nan thải ra), cá cơm loại lớn hơn (ăn ngon nhất) thịt đỏ hồng hai bên thân không có sọc trắng gọi là cá cơm kè, cá cơm to vừa, đầu có vết tròn sáng bạc quanh mắt gọi là cá cơm bạc, cá cơm loại to nhất, mình không tròn bằng và thịt bở hơn cá cơm bạc gọi là cá cơm trọc (Hà Tĩnh gọi là cá cơm troọc) v.v.
Qua tên gọi của một số từ phái sinh có ý nghĩa định danh biệt loại, chỉ các loại nhỏ trong một loại lớn như trên, ta thấy sự phân cắt thế giới hiện thực thành những mảnh, những đoạn nhỏ, cụ thể, tỉ mỉ như vậy là phản ánh thực tế phong phú của đối tượng sự vật, phản ánh tính chất gần gũi gắn bó quen thuộc của hiện thực nghề cá đối với đời sống con người. Rõ ràng nghề cá nếu không phải là nghề truyền thống, phổ biến, lâu đời, nếu không phải là nghề có ảnh hưởng đến cuộc sống sinh tồn của người dân xứ Nghệ thì làm sao các loại cá lại được phân loại gọi tên một cách chi tiết đa dạng nhưng hệ thống đến vậy. Và đằng sau sự phản ánh qua tên gọi của ngôn ngữ như thế phải chăng ẩn chứa thói quen cách nhìn sự vật, nếp tư duy mang tính cụ thể, tỷ mỉ đến mức chi tiết của con người xứ Nghệ? Những thuộc tính được lựa chọn và cách thể hiện các thuộc tính đó qua tên gọi nghề cá trong phương ngữ Nghệ Tĩnh phần nào cũng cho thấy tính cách của con người nơi đây tuy hơi tỉ mẩn nhưng luôn hết mình, tận tình, chu đáo với mọi người cũng như công việc mình làm.
Quả là qua tên gọi về nghề cá, ta cảm thấy cá và những sự vật có liên quan không những không thể thiếu trong đời sống lao động vật chất của con người nơi đây đã từ xa xưa, lâu đời mà hình ảnh về chúng còn trở thành những biểu tượng trong đời sống tinh thần của người dân xứ Nghệ. Các sự vật quen thuộc liên quan đến nghề cá đã trở thành hình ảnh liên tưởng, biểu tượng cho nhiều đặc điểm tính cách của con người. Chúng đã đi vào đời sống văn hoá tinh thần của người dân xứ Nghệ. Con cá, con mực, cái chộng, cái oi cũng đã đi vào thơ dân gian, đi vào thành ngữ, tục ngữ địa phương, trở thành hình ảnh biểu trưng. Như ta biết, trong phạm vi ý nghĩa của từ ngữ nói chung trong thành ngữ, tục ngữ nói riêng, đặc trưng văn hoá dân tộc thường được thể hiện đậm nét nhất là ở các hình ảnh, các đặc điểm lựa chọn biểu trưng. Chúng tôi nghĩ trong phạm vi phương ngữ cũng vậy; lựa chọn hình ảnh đặc điểm nào của sự vật để biểu trưng là tùy thuộc vào mức độ gần gũi và khả năng liên tưởng giữa hình ảnh, sự vật được đưa ra với hàm ý, với ý niệm khái quát hoá mà người nói hướng tới. Do vậy hình ảnh biểu trưng phải mang tính chung quen thuộc với mọi người. Trong phương ngữ, như một lẽ tự nhiên người ta sẽ lựa chọn hình ảnh quen thuộc với họ. Nếu như, trong ngôn ngữ toàn dân, đối với cộng đồng người Việt, khi nói tới "cua" là mọi người có thể liên tưởng tới đặc điểm vận động của nó là “bò ngang” khác con vật khác, cho nên hình ảnh con cua gợi nên ý nghĩa biểu trưng về tính ngang bướng ương gàn của con người. Bởi thế "cua" được dùng trong thành ngữ ngang như cua. Cũng là ấn tượng về đặc trưng vận động, cua gãy càng di chuyển trông rất trái mắt nên hình ảnh của nó trong thành ngữ ngoe nguẩy như cua gãy càng là biểu trưng cho cử chỉ trơ tráo không biết ngượng. Giam trong phương ngữ Nghệ Tĩnh là chỉ cua (đồng). Đối với người Nghệ Tĩnh "giam" lại gợi ra một số liên tưởng khác "cua". Người Nghệ Tĩnh lấy “giam” để biểu trưng cho đặc điểm hình thể gầy yếu dơ xương của con người. Nên mới có thành ngữ: Tóm (gầy) như giam:
- Ai mà béo bạo (khoẻ) như tru (trâu)
Về đất Kẻ Ngù cũng tóm như giam.
- Ai mà ngài (người) tóm như giam
Về đất nhà chàng cũng béo như tru.
(CDNT)
"Giam" còn được dùng để biểu trưng cho tính chất lộn xộn, lung tung không nề nếp. Thành ngữ so sánh: như giam trong oi là hàm ý ví với tính chất đó. Trong một thành ngữ địa phương khác: nhét cá lòi giam, người Nghệ Tĩnh đã khéo chọn lựa hai sự vật cụ thể sống trong cùng một môi trường nhưng không tương hợp để khái quát hoá về ý niệm: cái gì cũng có giới hạn, không thể có được tất cả. Hình ảnh con giam trong thành ngữ Nghệ Tĩnh: như cối đâm giam còn được dùng kết hợp với hình ảnh chiếc cối để biểu trưng cho tính chất bẩn thỉu của con mắt, mặt người với vẻ dính bết gây cảm giác ghê sợ. Cũng như cá, giam có ở khắp nơi trên các cánh đồng xứ Nghệ, là loại thức ăn quen thuộc gắn bó với đời sống của người dân, là hình ảnh đã ăn sâu vào tâm thức mọi người dân nơi đây. Giam không chỉ trở thành hình ảnh biểu trưng cho nhiều đặc điểm tính chất của người mà còn là hình ảnh biểu trưng cho sự cần cù chăm chỉ, chịu thương chịu khó của người lao động. Hình ảnh giam cùng với con bò trong thành ngữ: tay dắt con bò chân dò con giam là biểu trưng cho tính cách đáng quý đó của người Nghệ Tĩnh. Đối với người lao động, giam còn là hình ảnh biểu trưng cho sự no đủ về vật chất trong đời sống sinh hoạt dân dã thôn quê:
Lấy anh em không phải lo
Bước lên giường cữ, giam kho ba nồi
(CDNT)
Quả là, nếu ta chỉ so sánh tên gọi đơn thuần "giam" nghĩa là "cua" như nghĩa mà từ điển thường chú giải thì làm sao thấy được ý nghĩa biểu trưng, cái hàm ý, cái cảm nhận, biểu cảm, nét tư duy, sắc thái văn hoá của người Nghệ Tĩnh qua các lớp nghĩa của từ "giam" khác "cua" lí thú như vậy. Cũng so sánh về ý nghĩa biểu trưng của từ liên quan đến nghề cá, còn có rất nhiều từ địa phương được dùng với nghĩa biểu trưng khác từ toàn dân tương ứng về nghĩa biểu vật. Gần gũi với hình ảnh con giam, trong phương ngữ Nghệ Tĩnh rạm cũng được dùng định danh với nghĩa như trong ngôn ngữ toàn dân, chỉ loại “cua nhỏ thân dẹp, có nhiều lông sống ở nước lợ”[157, tr. 791]. Nhưng trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, rạm được dùng mang một số nghĩa biểu trưng khác dùng trong ngôn ngữ toàn dân. Rạm trong phương ngữ Nghệ Tĩnh thường biểu trưng cho các đặc điểm tính chất không tốt của con người. Đó là tính chất hôi hám, mùi khó chịu: Hôi như ruốc rạm; hay là tính cách, đặc điểm xung khắc không hoà hợp, luôn chỉ trích, xỉa xói nhau trong một tập thể: cắm chắc như rạm gió; rạm còn biểu trưng cho tính ích kỉ, níu kéo nhau (thà cùng thua thiệt không để người khác vượt lên): tríu chắc như rạm trôi bè. Có một thành ngữ liên quan đến nghề cá được dân gian khái quát đến mức điển hình cho một hạng người không ít trong xã hội, bất tài nhưng luôn cản trở công việc và con đường tiến thân của người khác. Đó là thành ngữ: đó rách ngáng trộ. ở đây, "đó rách" được dùng biểu trưng cho sự sa sút, năng lực yếu kém, còn "trộ" là chỗ nước chảy, nơi để đơm cá được dùng biểu trưng cho con đường, công việc chung. Tương tự, nếu như nhắc đến tên gọi “cá chuối” người Việt có thể liên tưởng tới hình ảnh biểu trưng của nó cho tình cảm của mẹ (cha), sự chịu đựng mọi khó khăn, đau khổ, quên mình vì con cái (cá chuối đắm đuối về con). "Cá quả" dùng trong ngôn ngữ toàn dân hiện nay là tên gọi khác nhưng cùng chỉ một loại cá là cá chuối, song “cá quả” không được dùng với ý nghĩa biểu trưng. Cá tràu trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, ngoài ý nghĩa biểu vật như “cá quả” còn được dùng để biểu trưng cho nhiều tính chất khác nhau. Trong tâm thức dân gian Nghệ Tĩnh, "cá tràu" biểu trưng cho sự nói năng, hành động bộp chộp, vội vàng không chín chắn, nên mới có thành ngữ: mồm cá tràu và lóc bóc như cá tràu khe. Cá tràu còn biểu trưng cho sự cao sang (nhất là loại sống ở khe suối, béo vàng đuôi (cá tràu đỏ đít)): nhà giàu ăn cá tràu đỏ đít; biểu trưng cho thang giá trị cao đối với kẻ thấp hèn: cói chó (cò nâu giống nhỏ) ngó cá tràu. Trong tâm thức người Việt, cá là con vật quen thuộc, trong nói năng thường dùng biểu trưng cho sự tự do (cá bể chim trời), cho hoàn cảnh hiểm nghèo (cá nằm trên thớt), mắc mưu kế hoặc bị mua chuộc (cá cắn câu), cảnh sống bó buộc, tù túng, mất tự do (cá chậu chim lồng). Đối với xứ Nghệ có lẽ cá là một trong những loại thực phẩm quen thuộc nhất và cũng rất quý đối với đời sống cư dân nơi đây nên dân gian mới ví (tuy hơi thông tục) cứt cá hơn lá rau. Cá đã đi vào tâm thức văn hoá ứng xử, cá đi vào văn hoá ăn uống, cá đi vào đời sống tinh thần, vào thơ ca dân gian. Vì thế, ít nhiều hình ảnh “cá” cũng được dùng với những sắc thái văn hoá khác các vùng khác. Cùng sử dụng “cá” làm hình ảnh biểu trưng cho cùng một ý nghĩa (gầy), nhưng giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ lại chọn lựa hai loại cá khác nhau; trong ngôn ngữ toàn dân là “cá rô đực” (gầy như cá rô đực) còn trong phương ngữ Nghệ Tĩnh là “cá lẹp” (ngài như mắm lẹp). Cá trong phương ngữ Nghệ Tĩnh là hình ảnh đa nghĩa biểu trưng. Cá biểu trưng cho sự no đủ sung sướng (chết cha ăn cơm với cá, chết mệ (mẹ) đứng ngã ba đường); cá là sự biểu trưng cho giá trị vật chất, những thứ dân dã tự bàn tay lao động của mình làm nên (cơm cày, cá đó; hay cá đơm đó, ló (thóc) đi cày); là hoàn cảnh bị trói buộc, mất tự do (cá vô lờ (lừ)); là gặp hoàn cảnh khó khăn (cá nhỏ đó thưa); là sự tự do không ràng buộc (như cá trửa (giữa) vời (khơi)); là gặp dịp thuận lợi may mắn (cá mái được nác). Cá còn được dùng biểu trưng cho một số đặc điểm tính cách của con người. Đó là sự kén chọn khó tính, không bình thường (kén cá chọn canh); là sự tham lam không có giới hạn (con rô cũng tiếc con diếc cũng muốn); là tính cách bộp chộp, vội vàng không chín chắn (hớp tớp như cá rớp tháng ba); là sự nói năng kém cỏi thiếu rành mạch (nói lộn (nhầm, lẫn vào nhau) chạch lộn lươn); sở thích, tính cách của con người là khác nhau (kẻ ưa cá đồng nấu khế, người ưa cá bể nấu dưa) v.v.
Về văn hoá ẩm thực và giá trị tinh thần của cá đối với đời sống sinh hoạt thường ngày, cá cũng là hình ảnh gần gũi được dùng để so sánh ví von cho nhiều sở thích bình dị, cho tình cảm mong muốn đời thường của con người xứ Nghệ. Tên gọi cùng với ý nghĩa vật chất và văn hoá của cá đã đi vào đời sống của cộng đồng cư dân Nghệ Tĩnh cũng như đời sống từng gia đình. Cảnh:
Chồng chèo vợ lái con câu
Cha xúc mẹ nhủi nàng dâu đi mò
(CDNT)
là rất quen thuộc với người Nghệ Tĩnh. Dường như vùng nào của Nghệ An, Hà Tĩnh cũng có những câu nói về đặc sản quê mình, thường trong đó cũng có nhắc đến địa danh có loại cá ngon, ví như: Cá rô Bàu Nón, nước tương Nam Đàn ; cá mát sông Giăng, măng chợ Cồn (Thanh Chương); Cá rô đồng Tiệp, cá giếc đồng Bàu; Xuống làng Trang (Cửa Sót) ăn cá bù, ra Yên Điền (Thịnh Lộc) ăn cá thu;...Trong tâm thức của người Nghệ Tĩnh, địa vị của người làm nghề cá được đánh giá rất cao. Ca dao Nghệ Tĩnh cũng như trong dân gian thường ví: "Lấy chồng chài lái là tiên, lấy chồng chè rượu là duyên nợ đời". Đặc biệt, "cá" cũng được dùng để nói lên một ý niệm nào đó: Thương chồng mua cá hồng đầu nước (đầu mùa); Sống cá thởng cá thèn chết kèn trống. Cá là thức ăn thường ngày nhưng khi được chế biến lại trở thành món quà chợ quen thuộc ngày xưa: Bún giá cá ruốc. Cá gắn bó với cuộc sống thường nhật và tình cảm hồn nhiên của người dân xứ Nghệ như một lẽ tự nhiên: Muốn ăn cá thởng băm hành, Trốn cha trốn mẹ theo anh về Cờn; Con cá trích ních (ăn) mấy cũng không no; Cơm tấm ăn với cá rô, Sao em phụ bạc lấy dùi gồ (vồ) đập nhôông (chồng); Ló lốc phơi chen (nỏ) cá thèn bác mốc; Cá lẹp mà kẹp lộc mưng, Ông ăn to miếng mụ trừng mắt lên; Trốc cá bù, khu cá kẹn, bẹn mực nang, gan cá thiều; Cơm gạo lốc, cá rô bạc trốc, mệ mô hèn hèn, cũng mần dăm bảy đọi v.v.
Rõ ràng, trong đời sống vật chất và văn hoá tinh thần của cư dân Nghệ Tĩnh nói chung cá là một thực thể có vị trí quan trọng, chính vì thế, về mặt ngôn ngữ “cá” là hình ảnh gợi liên tưởng phong phú, đa chiều, mang nhiều ý nghĩa biểu trưng. Thế nên, các yếu tố “cá” hay “mắm” tham gia cấu tạo từ ghép danh từ: Cơm mắm hay cá mắm đã tạo cho từ có ý nghĩa khái quát hoá, biểu trưng hoá ở mức độ cao, nghĩa của từ không còn có thể giải thích qua nghĩa của các yếu tố. Nếu người tỉnh bạn đến Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh được mời ăn cơm mắm, hoặc ăn mắm cá thì phải hiểu là ăn cơm có nhiều thức ăn ngon, có thịt gà thịt lợn,... Nghĩa là các từ cá mắm và cơm mắm được hiểu tương đồng về nghĩa với từ "cơm rượu".Nói cách khác, trong cách nói trên của người Cẩm Xuyên, cơm mắm hay cá mắm là có nghĩa ngược với cách nói cơm rau hay cơm muối (thức ăn đơn giản, bữa ăn sơ sài). Cũng vậy, nói đến người Nghệ Tĩnh người ta hay nhắc đến từ cá gỗ; sao người Nghệ lại được gọi là dân “cá gỗ” ? Nhiều người nghĩ, vì thói quen ăn uống của người xứ Nghệ xem cá là món ăn quan trọng nên khi không có cá thì người Nghệ đặt con cá bằng gỗ vào đĩa để có cảm giác như được ăn cá. Rằng chuyện cá gỗ là muốn nói người Nghệ sống đầy ý chí. Chúng ta không bàn đến tính đúng sai của từ "cá gỗ" mà người ta dùng để ví một đặc điểm, tính cách nào đó của người Nghệ, nhưng chắc chắn rằng, nếu hình ảnh con cá không gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và văn hoá, tinh thần của người Nghệ thì đã không có cách gọi như vậy.
Qua một vài miêu tả như trên, chúng ta không những đã có thể thấy được sự phong phú của vốn từ vựng nghề cá trong phương ngữ Nghệ Tĩnh là phản ánh sự phong phú của thực tế khách quan cũng như vai trò của nó trong đời sống xã hội mà còn qua lớp từ ngữ đó chúng ta cũng hình dung được phần nào cách lựa chọn các đặc trưng của sự vật, cách phân cắt thực tế khách quan để phản ánh vào ngôn ngữ trong ý nghĩa của từ. Cách chọn lựa các thuộc tính đặc trưng, cách phản ánh chúng vào ngôn ngữ là thể hiện cách nhìn, lối tư duy cụ thể, tỉ mỉ về sự vật; cùng với cách dùng phong phú các hình ảnh về cá và nghề cá tạo nên tính đa nghĩa biểu trưng rất độc đáo nhưng cũng rất gần gũi với đời sống cộng đồng Nghệ Tĩnh, cho thấy con người xứ Nghệ giàu liên tưởng, không chỉ quen tư duy cụ thể chi tiết rạch ròi mà mặt khác cũng hay suy tưởng theo hướng khái quát hoá, biểu trưng hoá. Chỉ qua lớp từ nghề cá ta cũng cảm nhận thấy không chỉ là tính cách, lối sống mà với tư duy cũng vậy, mọi thứ đối với người Nghệ đều rành rõ với hai cực phân minh. Những nét sắc thái văn hoá ấy vừa là chung nhưng cũng rất riêng của người xứ Nghệ miền Trung.
3.2.3. Nhóm từ chỉ hoạt động đánh giá sự vật
Nói tới các từ chỉ hoạt động đánh giá sự vật là nói tới một tập hợp rất nhiều từ trong một phạm trù rộng bao gồm nhiều phương diện, nhiều mức độ thể hiện sự đánh giá. ở đây chúng tôi giới hạn chỉ đề cập tới tiểu nhóm thể hiện sự đo đếm định lượng sự vật và tiểu nhóm chỉ mức độ cao theo sự bình giá đặc tính sự vật. Đây là hai tiểu nhóm gắn bó đến đời sống con người và phương diện cách thức tri nhận đánh giá sự vật mà trong đó yếu tố chủ quan con người về cảm nhận hiện thực được thể hiện rõ nét.
3.2.3.1. Tiểu nhóm các từ ngữ chỉ hoạt động đo đếm định lượng sự vật
Trong tiếng Việt, các từ cao, thấp, dài, rộng, nhẹ, nặng... là những từ thể hiện độ đo theo tiêu chuẩn (chủ quan và khách quan) mà cộng đồng ngôn ngữ (hoặc con người nói chung) xem là căn cứ để xác định các biểu hiện của sự vật. Vật chuẩn về độ đo trong ngôn ngữ là trừu tượng, có thể được xác định theo thuộc tính thường gặp điển hình nhất, đối với từng loại sự vật (ví dụ độ đo của một ngôi nhà cụ thể so với độ đo phổ biến của các ngôi nhà khác); hoặc có thể được xác định so với vật nào đó mà người nói, người nghe đều đã biết, lấy nó làm chuẩn - làm đơn vị để so sánh (ví dụ cao trong bàn cao có thể là so với người dùng, hay so với cửa sổ v.v.); nhưng nhiều khi vật chuẩn để định độ đo có thể lại do người nói lấy mình (đặc tính hay quan niệm của mình) làm đơn vị để đo vật khác. Vấn đề đang nói ít nhiều liên quan đến nét nghĩa dụng học đã được nhiều người nhắc tới, đặc biệt Đỗ Hữu Châu bàn kỹ trong công trình Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, chính ông đã khái quát: "Nói đến vật chuẩn là nói đến con người và cách thức mà con người lựa chọn vật chuẩn" [31, tr. 191]. Như vậy, dù có lựa chọn vật chuẩn theo cách nào thì trong đó cũng hàm chứa yếu tố con người về sự vật cảm nhận hiện thực. Trong hoạt động giao tiếp, độ đo về hiện thực, thường được người nói định lượng một cách hiển minh bằng những con số cụ thể hay bằng những vật chuẩn đối chiếu cụ thể theo thước đo mà người nói nói ra. Qua "thước đo" mà người nói sử dụng chúng ta có thể thấy được phần nào thói quen tư duy của họ.
Trong giao tiếp, cho tới nay, người Nghệ Tĩnh, đặc biệt là vùng nông thôn vẫn thường lấy mình hoặc các bộ phận cơ thể người làm vật chuẩn, làm thước đo để xác định độ đo của vật được nói tới. Ví dụ, để nói tới độ cao của một sự vật nào đó (trong khoảng vài mét) người Nghệ Tĩnh thường nói: cao bằng ngài (người) đứng; cao bằng trôốc (đầu); cao hơn ngài đứng; cao bằng hai ngài đứng;... Nếu vật thấp hơn thì nói: cao bằng ngài ngồi (cao bằng độ cao của người khi ngồi); cao ngang bụng; cao bằng lưng quần; cao bằng đứa con nít (trẻ con); cao bằng trôốc cúi (đầu gối);... Nếu nói tới độ đo tương đối “chính xác” đối với vật hình khối theo chiều thẳng đứng hoặc chiều ngang, với độ nhỏ hơn độ dài của sải tay thì người ta thường dùng "gang (tay)" làm thước, như kiểu nói: má (mạ) cao gang tay chưa cấy được; ló (lúa) còn hai gang nữa là ngập nác (nác); cót cao 4 gang; ghế dài 7 gang; v.v.
Nói về độ "sâu" của nước, người ta thường cũng có cách nói ước lượng qua các bộ phận cơ thể người như vậy. Nếu nói về độ đo trên sông biển, người Nghệ Tĩnh thường vẫn quen lấy sải (tay) làm thước đo. Ví dụ kiểu nói: nốc (thuyền) ra 12 sải (độ sâu 12 sải tay); nác su sải tay (nước sâu một sải tay); nác 5 sải thì thả lái;... ở đồng ruộng, khe suối thì tuỳ theo độ sâu của nước mà nói ước lượng theo kiểu: nác (nước) đến mắt cá; nác trấy chưn (nước đến bắp chân), nác trốôc cúi (nước đến đầu gối) v.v... Nói về kích thước, độ lớn của sự vật, người Nghệ Tĩnh thường nói: bằng nắm đấm hoặc bằng nắm tay (chỉ vật nuôi như gà, vịt còn nhỏ); bằng trấy chưn (bắp chân); bằng ngài ôm (bằng vòng tay ôm của người); bằng hai người ôm (bằng vòng tay ôm của hai người) v.v... Nói về khoảng cách địa điểm không xa, khoảng vài km trở lại, người ta thường lấy thước đo "nhìn" thấy hay không nhìn thấy, hoặc "nghe" được hay không nghe được tiếng nói; có khi lại dùng "bước chân" để ước lượng. Ví dụ, để nói về khoảng cách hai gia đình đầu làng và cuối làng, họ có thể nói: gọi nghe được (ý là gần) (trong thực tế thì gọi không thể nghe tiếng). Khoảng cách giữa các địa điểm trong xã, hoặc các địa điểm lân cận cáchđộ vài ba km, người ta cho là gần thì họ tính bằng cách nói nhìn thấy hoặc đi mấy bước chưn (chân). Ví dụ, hỏi: "từ đây ra cảng bao xa?", trả lời: "nhìn thấy được" (trong thực tế thì có thể không nhìn thấy được). Thông thường nói về khoảng cách, gắn với vận động nào đó thì cách trả lời, như cho câu hỏi trên là: đi mấy bước chưn; dăm bảy bước chưn;... Khoảng cách xa hơn, tuỳ mức độ mà nói: nửa buổi đàng (đi đường hết thời gian nửa buổi); buổi đàng (đi hết một buổi), ngày đàng (đi đường hết một ngày) v.v...
Như vậy, người Nghệ Tĩnh không có thói quen dùng các đơn vị đo lường chính xác như km, mét,... mà người Bắc Bộ thường dùng. Ngoài cách dùng phổ biến các từ chỉ người, bộ phận người làm thước đo định lượng sự vật, người Nghệ Tĩnh còn có thói quen khác là dùng các từ chỉ vật dụng, công cụ gắn bó với đời sống lao động sinh hoạt thường nhật của con người, như cọc chống rèm, cán cào, cán cuốc, cán liềm, cán dao, cày, bừa,đọi (bát), thúng, mủng, nồi, vại, chum,...hoặc là các sự vật gần gũi gắn bó với đời sống sinh hoạt lao động của mình, như nhà, cơn (cây), cơn rơm, cột nhà, cươi (sân), đàng (đường)... để ước lượng sự vật. Ví dụ để nói về độ đo theo phương thẳng đứng hoặc nằm ngang của sự vật, người ta thường nói kiểu như: “ Cơn (cây) cao bằng cọc rèm” (đoạn tre có mấu đỡ một đầu để chống rèm kiểu nhà nông thôn, cao độ 1,5 m); “Cơn tre được hai cán cuốc nỏ (không) mần (làm)đòn tay được” (cán cuốc dài khoảng trên / dưới 1,5 m);... Vật có độ cao hơn thì được mô tả: bằng mái nhà; bằng nóc nhà; bằng ngọn cơn;... Tương tự, để chỉ chiều rộng, chiều dài của sự vật cần mô tả, nếu độ đo không lớn thì dùng gang (tay), bàn chưn (chân), bước chưn để ước lượng, như đã nói; sự vật có độ đo lớn hơn thì thường nói: ba đàng (đường) cày; hai đàng bừa; một vạt cày, hai cái cươi (sân) (theo mức độ tăng dần, tuỳ theo chiều rộng hay diện tích của vật được mô tả). Ví dụ nói: “Đất mần (làm) nhà được ba vạt cày” (thường một vạt cày có chiều rộng khoảng 3 – 4 m); “Đất được dăm đàng bừa nỏ có vườn” (mỗi đường bừa rộng khoảng 1 - 1,2 m). Cũng vậy, người ta quen nói: “To bằng nồi trạ (nồi đất to); bằng cái thúng;To bằng cái nôống (nong); to bằng cái cột nhà” v.v...
Trong mua bán, đo lường sự vật, nếu như người Bắc dùng cân, kg để tính là chuyện bình thường nhưng với người Nghệ Tĩnh, nhất là vùng nông thôn thì vẫn quen cách định lượng ước lượng. "Đơn vị" tính rất tương đối, có thể bằng loong/ bò (hộp đựng sữa bò), mủng đoong, mủng gàu, thúng, cót xối (cót to)... để tính vật dạng hạt. Nên đối với người Nghệ Tĩnh bốn loong gấu được xem bằng một lô (kg). Hỏi: năm ni được răng mấy ló (năm nay thu hoach được bao nhiêu thóc), trả lời: được hai cót xối (khoảng 5 - 6 tạ). Tên gọi mủng đong (hay mủng lường) cũng cho biết chức năng của đồ đan này là để "đong", "lường" (chứ không phải để đựng); mỗi "mủng đong" thường được tính một kg, một mủng gàu là khoảng 5 kg gạo. Cũng vậy, các chợ vùng nông thôn Nghệ Tĩnh vẫn cònthói quen mua ước lượng - gọi là mua quạ, bán quạ mua đếm theo con theo chục... không tính theo cân, lạng như cách mua bán của người Bắc. Cách đong, đo, đếm, tính toán như vậy có lẽ là cách của người Việt từ xa xưa mà nay nhiều vùng trong nước người ta đã quen với cách tính toán mới chính xác khoa học theo cân, theo lạng, theo mét, trong khi đó, nhìn chung người Nghệ Tĩnh vẫn chưa "bỏ" được thói quen của cha ông. Rõ ràng cách tính toán đo lường như vậy tuy cụ thể trực quan nhưng mang tính tương đối, mang tính ước lượng. Rất định lượng nhưng cái định lượng đó không bao hàm cái định tính khoa học, theo nghĩa của cân đong đo đếm. Quả là dấu ấn về một vùng quê xứ Nghệ trong cách định lượng đánh giá hiện thực là còn khác khá rõ người dân vùng khác.
3.2.3.2. Các yếu tố chỉ mức độ cao đặc tính sự vật trong phương ngữ Nghệ Tĩnh.
Các tính từ như trắng, xanh trong tiếng Việt có thể kết hợp với nhiều yếu tố theo những phương thức khác nhau, có mặt trong các tổ hợp, dạng phổ biến như:
1. Rất trắng, trắng quá, hơi xanh, xanh lắm...
2. Trắng như bông, trắng như tuyết, xanh như tàu lá...
3. Trăng trắng, xanh xanh...
4. Trắng dã, xanh ngắt...
Các tổ hợp 1,2,3,4 đều diễn tả các sắc thái, các mức độ nghĩa khác nhau của cùng một đặc tính do tính từ biểu thị. Đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên sắc thái nghĩa khác nhau đó là do các phương thức và yếu tố tham gia kết hợp với tính từ. ở 1 - là phó từ chỉ mức độ, ở 2 - là yếu tố so sánh và phương thức so sánh, ở 3 - là phương thức láy và ở 4 - là yếu tố chỉ mức độ cao đi sau tính từ trong phương thức ghép.
Trong tiểu mục này chúng tôi đề cập đến các tổ hợp tính từ chỉ mức độ cao trong phương ngữ Nghệ Tĩnh theo dạng 4- nêu trên. Để tiện miêu tả chúng tôi gọi tổ hợp này là AX, trong đó A là các tính từ (toàn dân hoặc phương ngữ) và X là các yếu tố làm tăng mức độ của A. Sở dĩ chúng tôi chọn tổ hợp AX để miêu tả là do tính phổ biến của tổ hợp này được sử dụng trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ trong phương ngữ và do cấu trúc ngữ nghĩa của loại đơn vị này biểu thị thuộc tính của đối tượng theo sự đánh giá của con người - tức nội dung ngữ nghĩa của chúng có yếu tố chủ quan. Điều đó qua miêu tả sẽ giúp chúng ta hiểu thêm phần nào những nét riêng trong sử dụng ngôn ngữ của người Nghệ Tĩnh.
Về bản chất, cương vị ngôn ngữ học của tổ hợp AX đặc biệt là yếu tố X đã được nhiều nhà nghiên cứu để ý tới nhưng có thể nói vấn đề đang được bàn cãi, chưa có sự thống nhất trong ý kiến của các tác giả bàn về nguồn gốc, hình thái cú pháp cũng như ngữ nghĩa của chúng. Riêng về yếu tố X các tác giả Đỗ Hữu Châu [31, tr.57], Nguyễn Tài Cẩn [24, tr.96], Hồ Lê [126, tr.154] xem chúng là yếu tố của từ ghép và cũng mới chỉ lướt qua chứ không chứng minh một cách hệ thống về cương vị ngôn ngữ của nó như nghiên cứu của Nguyễn Thiện Giáp [79, tr.152]. Vừa khẳng định cương vị ngôn ngữ học của loại tiếng X vừa chỉ ra vai trò chức năng ngữ nghĩa của loại đơn vị này là nghiên cứu của Cao Xuân Hạo [96, tr. 201]. Đặc biệt Hoàng Văn Hành có một nghiên cứu khá toàn diện riêng về loại đơn vị như "au" "ngắt" trong đỏ au xanh ngắt, trong khi khẳng định tư cách từ của loại đơn vị này cùng quan điểm với Nguyễn Thiện Giáp và Cao Xuân Hạo, tác giả còn chỉ ra bản chất của nó về nguồn gốc, hình thái cú pháp và cơ cấu ngữ nghĩa. Theo tác giả, cơ câú nghĩa của những đơn vị X là một tổ chức sinh động gồm hai thành tố với ba nét nghĩa có quan hệ hữu cơ với nhau và có thể diễn đạt bằng mẫu tổng quát: "(A)X = (A) ở mức độ cao, với một vẻ nào đó, gây một cảm giác nhất định tuỳ theo sự bình giá của người nói" [89, tr. 106] cũng nói về mỗi quan hệ ý nghĩa giữa các đơn vị trong tổ hợp loại này, Cao Xuân Hạo chỉ ra ý nghĩa chỉ mức độ tối cao của các tính / động từ đi trước và kèm theo sắc thái biểu cảm nhất định và / hay một ý nghĩa ấn tượng. Tác giả khái quát thành hai dạng mô hình "A đến nỗi / đến mức B" như trong mệt nhoài, đau điếng, béo nứt, phục lăn, ngọt lịm hoặc là "A đến nỗi như thể (bị) B" như trong đen thui, tròn vo..." [96, tr.202].
Về con đường hình thành tổ hợp AX trong tiếng Việt, như một số tác giả đã chỉ ra là do nhiều nguyên nhân, nhưng có thể nói tới ba kết quả chủ yếu. Có thể đó là kết quả rút gọn của thành ngữ so sánh hoặc phép so sánh đối chiếu, dạng đen như thui -> đen thui, trẻ như măng -> trẻ măng. Một con đường khác hình thành tổ hợp AX là do nghiã chuyên biệt hoá của chúng. Ví dụ dã biểu thị thuộc tính trắng chuyên miêu tả mắt (mắt trắng dã), hoắt nói về vật nhọn; đỏ au nói về da của người từng trải khoẻ mạnh. Nhiều yếu tố X lại do phép láy tạo thành. Ví dụ: Téo tẹo, khít khịt, roi rói, ngăn ngắt. Trong giao tiếp trực tiếp, để nhấn mạnh hơn mức độ cao của đặc tính sự vật, các dạng thức láy được tạo ra trên cơ sở tổ hợp AX cũng hay được sử dụng. Chẳng hạn, tối mù -> tối mù tối mịt, đen thui -> đen thui đen thủi.
Đặc điểm của yếu tố X (trong kết cấu AX) ở phương ngữ Nghệ Tĩnh
Trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, kết cấu A + X nói chung cũng như đặc điểm yếu tố X, về cơ bản không có gì khác đặc điểm chung của yếu tố và loại tổ hợp này trong ngôn ngữ toàn dân. Nét riêng của phương ngữ Nghệ Tĩnh về phương diện này có thể thấy ở một vài điểm sau.
-Trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, các kết câú A + X được sử dụng nhiều hơn trong ngôn ngữ toàn dân. Bởi ngoài các yếu tố dùng chung như trong ngôn ngữ toàn dân, Nghệ Tĩnh còn dùng thêm hàng loạt yếu tố khác. Lấy từ "đen" - một tính từ chỉ màu sắc làm ví dụ. Ngoài yếu tố thường gặp, kết hợp với "đen" để chỉ mức độ cao trong ngôn ngữ toàn dân, Nghệ Tĩnh còn dùng các tổ hợp như đen lánh, đen nhem, đen nhẻm, đen nhèm, đen nghít, đen nháng, đen nhoem, đen nhoèm, đen cháy, đen nám, đen thui, đen hui, đen sạm v.v... Cũng vậy chỉ mức độ cao của tính chất đặc, trong ngôn ngữ toàn dân Từ điển tiếng Việt thu thập hai từ là đặc kịt, đặc sệt [157, tr. 283]. Trong khi đó ở phương ngữ Nghệ Tĩnh còn có thêm nhiều tổ hợp khác như đặc đen, đặc ken, đặc quánh, đặc queo, đặc quẹo. Mỗi đơn vị bên cạnh nghĩa chung chỉ mức độ cao số lượng mật độ của sự vật trong hỗn hợp trong không gian, vượt quá mức bình thường còn có sắc thái riêng. Chẳng hạn, đặc đen là dày đặc đến mức có ấn tượng sự vật thành một bảng màu tối không có chỗ hở. Đặc ken là dày đến mức như sự vật sát vào nhau không có chỗ hở và có ấn tượng về sự dồn ép. Đặc quánh nghĩa gần như đặc sệt nhưng nhấn mạnh hơn về độ đông đặc, có cảm giác như đặc đến mức tạo thành khối dính chặt với nhau, dẻo quánh (cảm giác không còn chất lỏng). Đặc queo và đặc quẹo chỉ phân biệt với nhau sắc thái về sự biến dạng của hỗn hợp trong chất lỏng. Đặc quẹo tạo nên ấn tượng về sự đông đặc kết dính có độ dai, dẻo, còn đặc queo lại có cảm giác đặc đến mức vật phải co lại không nguyên hình khối. Ngoài ra phương ngữ Nghệ Tĩnh còn dùng đặc nhâm mang nghĩa chuyên biệt chỉ cá nhiều đến mức cảm giác dày đặc và ấn tượng vui mắt,
Tương tự, "đầy", ngoài những tổ hợp dùng như trong ngôn ngữ toàn dân phương ngữ Nghệ Tĩnh còn có kết hợp: đầy lum, đầy lúm, đầy lụm, đầy tràn, đầy vắp, đầy vặp, đầy ự, đầy vun, đầy xối, đầy chười, đầy ngọn. Trong loạt đơn vị này có những tổ hợp có sắc thái nghĩa riêng quy định cách dùng rất tinh tế trong phương ngữ. Ví dụ, đầy ự thường chỉ dùng trong tình huống nói về các vật có chức năng để chứa, đựng (thường là) vật khô đã đầy, chặt đến mức có cảm giác như no nê muốn đẩy ra ngoài không thể dung nạp thêm được nữa (tương tự như lối nói no ự). Còn đầy chười ngoài nghĩa chỉ mức độ cao của "đầy" còn mang sắc thái nghĩa gợi ra ấn tượng về sự thừa thãi, no đủ (như lối nói: ló (thóc) má đầy chười trong nhà, của cải nhà mô (nào) cũng đầy chười ra cả).
Để nhấn mạnh và cụ thề hoá nghĩa của "thấp" phương ngữ Nghệ Tĩnh dùng thấp choẳn gợi ra hình dáng sự vật không phát triển vừa rất thấp, vừa nhỏ đến mức riêng biệt (như lối nói: năm ni (nay) mười bảy tuổi mà trông nó thấp choẳn như rứa (thế) đó). Dùng thấp trẹt để nhấn mạnh độ thấp quá mức của sự vật và gợi ra dáng sự vật (thường là hình khối) vừa thất lại vừa bè ra; còn thấp trệt lại gợi ra sự vật nằm thấp hẳn xuống bậc cuối cùng, có ấn tượng như sự vật nằm sát mặt đất (như lối nói: thấp trệt như rứa (thế) mà nhảy nỏ (chẳng) qua.
Về đánh giá sự vật, người Nghệ Tĩnh có thói quen nếu không so sánh thì cũng dùng các từ phụ đi kèm với từ trung tâm, tạo nên ấn tượng rất mạnh cho người nghe. Nhiều khi có cảm giác người Nghệ ưa lối nói thể hiện biểu cảm, thể hiện thái độ riêng của mình; ít dùng từ hoặc các tổ hợp từ mang sắc thái trung hoà. Nói tới trạng thái, mức độ của "no", người Nghệ Tĩnh thường ít khi dùng các phó từ kết hợp với "no" để diễn đạt. Mặc dù rất no, no quá, no lắm... đều nhấn mạnh mức độ của "no" nhưng ấn tượng vẫn chung chung hơn là lối nói: no căng, no ềnh, no cằng, no ằng, no ặc, no ắc, no ự, no nứt. Và còn dùng cả phép láy như no ắc ặc, no căng cằng, no ứ ự v.v... Ngôn ngữ toàn dân dùng "già", Nghệ Tĩnh dùng "tra" và có các tổ hợp chỉ mức độ: tra trăn, tra cáy, tra hụ, tra khụ, tra túm, tra khọm, và cách nói tra môốc để chỉ người tuy tuổi chưa già nhưng quá thì không ai dòm ngó để ý tới. Ngoài ra còn dùng các tổ hợp tạo ra từ phép láy, như:tra khú khụ, tra khất khật hay tổ hợp cố định "tra trôốc môốc trọ" để nhấn mạnh thêm ý nghĩa trong tình huống thích hợp.
Qua những ví dụ trên, phần nào cũng cho ta thấy một đặc điểm của phương ngữ Nghệ Tĩnh: giàu sắc thái về mức độ các thuộc tính của sự vật. Những sắc thái đó được hình thành chủ yếu qua thao tác so sánh đối chiếu trực tiếp hay ngầm ý trong tư duy của người Nghệ Tĩnh. Điều đó cũng thể hiện đặc điểm phương ngữ Nghệ Tĩnh giàu lối nói so sánh, giàu hình ảnh cụ thể.
- Phương ngữ Nghệ Tĩnh sử dụng nhiều yếu tố trong ngôn ngữ toàn dân làm yếu tố chỉ mức độ mà ở ngôn ngữ toàn dân chúng lại không đóng vai trò này.
Chẳng hạn, hoang trong ngôn ngữ toàn dân là chỉ "nơi không được con người chăm sóc, sử dụng đến" [157, tr. 434]. Phương ngữ Nghệ Tĩnh sử dụng "hoang" làm yếu tố chỉ mức độ trong nhiều tổ hợp mà yếu tố A thường mang yếu tố tiêu cực như: nhớp (bẩn) hoang, thúi (thối) hoang, xấu hoang, gớm hoang, đắt hoang.
Rang là "làm cho chín bằng cách đảo đi đảo lại trong chảo nóng không cho nước" [157, tr. 791]. Phương ngữ Nghệ Tĩnh sử dụng rang để chỉ mức độ cao của đặc tính "không còn lấy tí nước nào" trong khô rang (ví dụ: Hạn hán kéo dài, mấy cái giếng trong làng đều khô rang). Hoặc chỉ tình trạng "không còn lại một tí gì" trong sạch rang (như lối nói: Kẻ trộm vô nhà lấy sạch rang).
Cáy trong ngôn ngữ toàn dân là chỉ "một loại cua sống ở nước lợ". Phương ngữ Nghệ Tĩnh dùng cáy chỉ mức độ cao trong nhác (lười) cáy, điếc cáy, nhát cáy.
Đặc biệt, phương ngữ Nghệ Tĩnh dùng rất nhiều yếu tố riêng địa phương để làm đơn vị chỉ mức độ cao. Có những đơn vị chỉ dùng trong một tổ hợp nhất định, nhưng cũng có nhiều yếu tố được sử dụng trong nhiều kết cấu khác nhau.
Ví dụ: Su (sâu) hoáy là sâu đến mức cảm giác như không có đáy, rơi vào xoáy nước. Su hụm là sâu gợi cảm giác tối như bước xuống hố sâu (hụm trong tiếng Nghệ Tĩnh là hố nước).
Rẻ hều, nhẹ hều là diễn tả mức độ "rẻ", "nhẹ" đến không ngờ, không có cảm giác về giá cả, trọng lượng.
Rụm là loại giáp xác sống ở biển nhỏ hơn cua nhiều lần, vỏ giòn. Rụm được sử dụng trong các tổ hợp: gion (giòn) rụm, khô rụm, mềm rụm gợi ra sắc thái nghĩa "giòn" có ấn tượng giòn đến mức như động đến là tan biến.
Hỉnh trong thúi (thối) hỉnh, nhớp (bẩn) hỉnh, teenh (tanh) hỉnh, xấu hỉnh đều chỉ tính chất mà A biểu thị đến độ gợi ra cảm giác kinh tởm khó chịu cho người khác.
Rình trong hôi rình, teenh (tanh) rình, xoong (khai) rình, đều nhấn mạnh mùi hôi, khai đến độ nồng nặc khó chịu.
Tợn trong phương ngữ là "khoẻ", có "thế đi lên" được dùng để chỉ A đến mức nổi rõ, ví dụ: ngu tợn, dốt tợn, xấu tợn v.v...
Và hàng loạt yếu tố khác trong các tổ hợp dùng phổ biến, như huých trong xấu huých, chán huých; ẹc trong dở ẹc, xấu ẹc, chán ẹc, ngán ẹc; hoắc tronglạ hoắc, xấu hoắc, chán hoắc, buồn hoắc; cạy trong dốt cạy, nhác cạy, tra (già) cạy; hươi trong đầy hươi, ốm hươi, rẻ hươi (Vay nợ nhà giàu không cho, Bán ruộng không lấy trâu bò rẻ hươi) (VNT).
- Một đặc điểm khá rõ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh liên quan đến cấu trúc AX là: Trên cơ sở của cấu trúc AX, phương ngữ Nghệ Tĩnh rất hay dùng phép láy để tạo ra tổ hợp 4 hoặc 6 âm tiết để nhấn mạnh mức độ tối cao về tính chất đặc tính sự vật và như vậy sắc thái biểu cảm cũng rõ hơn. Dạng mô hình phổ biến là, từ cấu trúc AX tạo thành cấu trúc AXAY và AXAYAZ.
Ví dụ: Tối mù -> Tối mù tối mịt; chua lè -> chua lè chua lét; béo húp -> béo húp béo híp; nhớp (bẩn) hoang -> nhớp hoang nhớp hoảng và nhớp hoang nhớp hoảng nhớp hoàng; xấu đui -> xấu đui xấu đụi và xấu đui xấu đủi xấu đùi;...Có thể kể ra hàng loạt tổ hợp được tạo ra từ phép láy này, như: Tối hù tối hịt; tối đen tối đặc; tối thui tối thùi; tối om tối ỏm; tối om tối ỏm tối òm, xa lơ xa lắc; khuya lơ khuya lắc; dốt câm dốt cáy; dốt câm dốt đặc; dốt đặc dốt địa; điếc câm điếc cáy; đen thui đen thủi; đen thui đen thủi đen thùi; đen hui đen hủi; đen hui đen hủi đen hùi; đen đui đen đủi; đen đui đen đủi đen đùi; đen nhoem đen nhoẻm; đen nhoem đen nhoèm; đen nhoem đen nhoẻm đen nhoèm; xấu huơ xấu huých; xấu hoắc xấu huých; xấu huých xấu hoắc; dai ngoằng dai ngoặng; dai ngoặng dai ngoằng; nghèo xơ nghèo xác; hở hoang hở hoác; hở toang hở toác; thưa rếch thưa rích; đặc quánh đặc quéo; đặc queo đặc quẹo; đặc queo đặc quéo đặc quèo; đặc queo đặc quẹo đặc quèo; thúi (thối) hoang thúi hỉnh; thúi hoang thúi hoảng; thúi hoang thúi hoảng thúi hoàng; tra (già) nhăn tra nhẳn; tra nhăn tra nhẳn tra nhằn; nhẹ tênh nhẹ tểnh; nhẹ tênh nhẹ tểnh nhẹ tềnh; no căng no cằng; no căng no cẳng no cằng; chua lom chua lòm; chua lom chua lỏm chua lòm;...
Đáng lưu ý là loại tổ hợp AXAY, hay AXAYAZ khi dùng nguyên cả khốicũng có giá trị chỉ mức độ cao đặc tính của A nhưng sắc thái nghĩa và sắc thái biểu cảm được nhấn mạnh hơn AX. Và trong những tình huống nhất định, AY, AZ ở đây có thể tách ra dùng độc lập như AX cũng với chức năng tương tự. Chẳng hạn, xấu hoắc xấu huých có thể tách ra thành xấu hoắc và xấu huých; đặc quánh đặc quéo thành đặc quánh và đặc quéo hay đặc queo đặc quéo đặc quèo thànhđặc queo, đặc quéo và đặc quèo v.v. như vậy, tuy nằm trong một tổ hợp nhưng một phần lớn các đơn vị, giữa AX với AY và AZ có tính độc lập với nhau, nói đúng hơn là X, Y và Z tỏ ra độc lập đối với nhau. Chính do khả năng này mà trong thực tế nói năng, tổ hợp AX trong phương ngữ Nghệ Tĩnh được dùng rất phong phú và khá linh hoạt, điều đó làm cho khả năng biểu đạt nghĩa và biểu cảm của phương ngữ Nghệ Tĩnh thêm tinh tế và giàu sắc thái.
Từ các khảo sát về tổ hợp AX nói chung, yếu tố X nói riêng, chúng ta có thể rút ra nhận xét: Phương ngữ Nghệ Tĩnh đã sử dụng với một số lượng phong phú các yếu tố chỉ mức độ trong tiếng Việt toàn dân lại được bổ sung rất nhiều yếu tố trong phương ngữ, cách thức tổ hợp các yếu tố đó rất đa dạng và linh hoạt điều đó góp phần làm cho khả năng diễn đạt của phương ngữ thêm tinh tế và giàu sắc thái biểu cảm, giàu sắc thái đánh giá, giàu hình ảnh trực quan.
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|
- 07/05/2013 09:03 - Trần Ngọc Thêm. Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng
- 31/07/2011 17:47 - Trần Văn Cơ. Những khái niệm ngôn ngữ học tri nhận liên quan đến văn hoá học
- 01/08/2009 01:07 - Đoàn Văn Chúc. Văn hóa học (Phần 3 - hết)
- 21/07/2009 01:18 - Đoàn Văn Chúc. Văn hóa học (Phần 2)
- 19/07/2009 11:30 - Đoàn Văn Chúc. Văn hóa học (Phần 1)
- 10/05/2009 08:32 - Nguyễn Trần Bạt. Văn hóa & Con người
- 01/04/2009 13:17 - Bùi Quang Thắng. Hành trình vào văn hóa học (c3-hết)
- 29/03/2009 18:30 - Bùi Quang Thắng. Hành trình vào văn hóa học (c1+2)
- 14/11/2008 23:57 - Bình-nguyên Lộc. Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc VN-C9-11
- 11/11/2008 12:28 - Bình-nguyên Lộc. Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc VN-C6-8













