Để tìm hiểu rõ về đề tài đã chọn, mình sẽ phân tích định nghĩa "định kiến giới" theo 7 bước thầy đã giảng, vì mình nghĩ định nghĩa này là một tiền đề khá quan trọng trong xã hội Nhật Bản khi quốc gia này đã áp đặt quá nhiều "định kiến" đối với người phụ nữ.
1. Tìm một số định nghĩa hiện có:
a. ThS. Phạm Hạnh Sâm – Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, http://thongtinphapluatdansu.wordpress. ... 0/14/3921/
“Các định kiến giới là một tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể nào đó gán cho nam giới hay phụ nữ.”
b. ThS. Nguyễn Bá Đạt, Giảng viên Khoa Tâm lý học - Đại học Khoa học học Xã hội và Nhân văn, Chuyên viên Tham vấn tâm lý Trung tâm CPEC, http://www.lamchame.com
“Định kiến giới là sự nhìn nhận không đúng về khả năng của nam giới và nữ giới, về phẩm chất nhân cách mà nam hoặc nữ nên có, về loại hình hoạt động và nghề nghiệp mà nam hoặc nữ có thể làm được hoặc không thể làm được.
c. Tổ chức Lao động quốc tế, Chương trình quốc tế Xóa bỏ lao động trẻ em, Dự án chống buôn bán trẻ em và phụ nữ tiểu vùng Mê Kông, http://www.slideshare.net
“Định kiến giới là những suy nghĩ của mọi người về việc trẻ em trai, nam giới và trẻ em gái, nữ giới có khả năng làm gì và vai trò chức năng của họ là gì”
2. Phân tích định nghĩa:

3. Phân loại các định nghĩa, xác định những nét nghĩa chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/ thiếu cần bổ sung, sửa chữa.
- Theo đặc trưng giống, có 3 loại: Tập hợp các đặc điểm (theo Phạm Hạnh Sâm); Sự nhìn nhận (Nguyễn Bá Đạt); Những suy nghĩ (theo Tổ chức lao động quốc tế). Tuy nhiên, những suy nghĩ là phạm trù không chính xác vì trong “sự nhìn nhận” bản thân nó đã hàm chứa “suy nghĩ”. Ngoài ra, “tập hợp các đặc điểm” là không rõ ràng, vì người tiếp nhận thông tin không hiểu rõ, trong tập hợp có đặc điểm gì?
- Theo đặc trưng loài, cả 3 định nghĩa đều có yếu tố “nam và nữ”, ngoài ra định nghĩa của Nguyễn Bá Đạt và Tổ chức lao động quốc tế thì có thêm các tiêu chí về loài như: khả năng, phẩm chất. Tuy nhiên chưa có sự thống nhất giữa các định nghĩa.
4. Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả (3) để điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng
- Theo nhận định chung của xã hội thì “định kiến” chính là nguyên nhân gián tiếp, cũng như trực tiếp cản trở sự phát triển của những tư tưởng tiến bộ, những khuynh hướng hiện đại, những bước đi cần thiết.
- Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn Ngữ học_NXB Đà Nẵng – 2003), định kiến chính là những ý nghĩ riêng đã có sẵn khó có thể thay đổi được.
- Định kiến có thể xuất phát từ một người, là cách người đó nhìn nhận về một ai đó, hay một vấn đề gì đó và thường theo xu hướng tiêu cực
- Vậy có thể tóm lại, “định kiến giới chính là tập hợp suy nghĩ tiêu cực khó có thể thay đổi về phẩm chất, hoạt động và khả năng nghề nghiệp của nam và nữ, trực tiếp cản trở những tư tưởng tiến bộ, hiện đại”
5. Xác định đặc trưng giống (khái niệm rộng hơn cùng loại)
- Là tập hợp những suy nghĩ tiêu cực khó có thể thay đổi
6. Xác định đặc trưng loài (khu biệt khái niệm được định nghĩa với những khái niệm khác cùng bậc)
- Của một nhóm người (phân biệt với 1 người)
- Tiêu cực (phân biệt với tích cực)
- Liên quan đến nam và nữ (phân biệt với một cộng đồng chung chung)
- Khả năng hoạt động, phẩm chất, nghề nghiệp (vật chất và tinh thần) (phân biệt với phi vật chất, phi tinh thần)
- Có thể hay không thể làm được (phân biệt với chắc chắn làm được và chắc chắn không làm được)
- Sản phẩm sơ bộ: “định kiến giới chính là tập hợp suy nghĩ riêng khó có thể thay đổi về phẩm chất, hoạt động và khả năng nghề nghiệp có thể hay không thể làm được của nam và nữ, trực tiếp cản trở những tư tưởng tiến bộ, hiện đại”
7. Lập sơ đồ kiểm tra, chỉnh sửa lại

- Tập hợp là bao gồm số nhiều nên từ “những” là dư thừa.
- Suy nghĩ tiêu cực chắc chắn sẽ cản trở những tư tưởng tiến bộ, nên phần này không cần nhắc đến.
Sản phẩm cuối cùng: “Định kiến giới là tập hợp suy nghĩ tiêu cực khó thay đổi của một nhóm người về hoạt động vật chất và tinh thần riêng biệt của nam và nữ”






