Tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Re: Tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng ngư dân ven biển Trà

Gửi bàigửi bởi Thanh Tra » Thứ 6 30/08/13 11:20

TRong bài tập 1, các cặp phạm trù đối lập theo chị em nên xem lại khi so sánh giữa miền Trung và Trà Vinh.
RANDOM_AVATAR
Thanh Tra
 
Bài viết: 16
Ngày tham gia: Thứ 3 05/03/13 14:01
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 6 lần

Re: Tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng ngư dân ven biển Trà

Gửi bàigửi bởi Thanh Tra » Thứ 2 02/09/13 22:46

Chị xem rồi, em cố gắng làm hết các bài tâp nhé. Chị sẽ xem lại sau khi hoàn tất.
RANDOM_AVATAR
Thanh Tra
 
Bài viết: 16
Ngày tham gia: Thứ 3 05/03/13 14:01
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 6 lần

Tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh

Gửi bàigửi bởi thuhientvu » Thứ 5 14/11/13 20:51

Bài tập thực hành số 5:
Chọn những nội dung thích hợp trong đề tài để tiến hành lập bảng (bắt buộc) mô hình và thuật giải (nếu có)


Hình ảnh


Bài tập thực hành số 7: Chọn một cặp đối tượng, lập bảng so sánh

Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
thuhientvu
 
Bài viết: 9
Ngày tham gia: Thứ 5 03/01/13 21:12
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 4 lần

Tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh

Gửi bàigửi bởi thuhientvu » Thứ 5 14/11/13 23:38

BÀI TẬP 6
CHỌN MỘT KHÁI NIỆM TRONG ĐỀ TÀI LÀM ĐỊNH NGHĨA
1. Chọn khái niệm: TÍN NGƯỠNG
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo. Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì không mang tính dân tộc. Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo.
Trong từ điển tiếng Việt (2011) Hoàng Phê (chủ biên): tín ngưỡng được định nghĩa như là lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo.
Theo GS.VS.TSKH.Trần Ngọc Thêm trong cuốn: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam thì tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống cá nhân: “Tổ chức đời sống cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng. Tổ chức đời sống cá nhân bao gồm những vấn đề thuộc tầm vi mô, liên quan đến cuộc sống của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác (phong tục). Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng). Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng. Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường… tín ngưỡng trở thành tôn giáo. Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, do mạnh về tư duy tổng hợp mà thiếu óc phân tích nên các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển biến hoàn toàn được thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó - mới có những mầm mống của những tôn giáo như thế - đó là Ông Bà, đạo Mẫu. Phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phật giáo, Đạo giáo, Kitô giáo… du nhập vào và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như: Cao Đài, Hòa Hảo mới xuất hiện”.
Giáo sư Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào thực thể, lực lượng siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, sự ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng”. Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm...”
Tóm lại, qua phân tích dựa trên yêu cầu nội dung hình thức của một định nghĩa, có thể chọn định nghĩa tín ngưỡng của Giáo sư Ngô Đức Thịnh làm định nghĩa “Tín ngưỡng” tiêu biểu.

2: Tìm tất cả các định nghĩa “tín ngưỡng” hiện có – Phân tích định nghĩa
Xem xét các định nghĩa sau đây:

Hình ảnh
Bước 3: Phân loại các định nghĩa, xác định những nét nghĩa chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/thiếu cần bổ sung, sửa chữa:

- Tất cả các định nghĩa trên đều cho rằng Tín ngưỡng là một niềm tin vào các thế lực, các hiện tượng siêu nhiên ngoài khả năng nhận thức của con người – Nghĩa này có thể sử dụng.
- Tuy nhiên, các định nghĩa trên hầu hết đều không khu biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo.
Bước 4: Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả ở Bước 3 để điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng.

Hiện tại đang có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo. Tuy nhiên vẫn có thể sử dụng các phân biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo - theo GS.TS. Ngô Đức Thịnh để đối chiếu kết quả ở Bước 3:

Hình ảnh
Ngô Đức Thịnh (2012), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, NXB Trẻ, Tr.11)

Như vậy, cách sử dụng khái niệm Tín ngưỡng hiện nay là niềm tin của con người vào một thực thể hay cái siêu nhiên (thể hiện qua thần tích, huyền thoại, truyền thuyết), nó chi phối và nằm ngoài khả năng hiểu biết của con người.
• Bước 5: Xác định đặc trưng giống (khái niệm rộng hơn cùng loại)
Đặc trưng giống: Là niềm tin
• Bước 6: Xác định các đặc trưng loài (khu biệt khái niệm được định nghĩa với những khái niệm khác cùng bậc)
Đặc trưng loài:
(1) Sự thờ phụng thế lực siêu nhiên
(2) Chưa đủ nhận thức lý giải được thực tiễn
(3) Chưa có hệ thống giáo hội, giáo lý với nghi lễ chặt chẽ.
(4) Còn có sự hòa hợp giữa thế giới thần linh và con người

Từ những đặc trưng giống và loài, ta có một định nghĩa sơ bộ như sau:
Tín ngưỡng là niềm tin có sự thờ phụng thế lực siêu nhiên khi con người chưa đủ nhận thức lý giải được thực tiễn, có sự hòa hợp giữa thế giới thần linh với con người và chưa có hệ thống giáo hội, giáo lý với nghi lễ chặt chẽ.
• Bước 7: Lập sơ đồ, kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu về hình thức và nội dung, chỉnh sửa lại

Hình ảnh
Có thể rút gọn lại:
Do đặc trưng “chưa có hệ thống giáo hội, giáo lý với nghi thức chặt chẽ” đã đủ để phân biệt tín ngưỡng với tôn giáo và phân biệt rõ hơn so với đặc trưng “có sự hòa hợp nhất định giữa thế giới thần linh với con người” thế nên để định nghĩa ngắn gọn hơn tôi sẽ chỉ giữ lại đặc trưng “chưa có hệ thống giáo hội, giáo lý với nghi thức chặt chẽ”
Sản phẩm cuối cùng: Tín ngưỡng là niềm tin có sự thờ phụng thế lực siêu nhiên khi con người chưa đủ nhận thức lý giải được thực tiễn, và chưa có hệ thống giáo hội, giáo lý với nghi lễ chặt chẽ.
RANDOM_AVATAR
thuhientvu
 
Bài viết: 9
Ngày tham gia: Thứ 5 03/01/13 21:12
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 4 lần

Tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh

Gửi bàigửi bởi thuhientvu » Thứ 6 15/11/13 0:13

BÀI TẬP 8

Chọn một nội dung thích hợp nào đó trong đề tài của mình để vận dụng phương pháp loại hình nhằm phát hiện tri thức mới
.

Bước 1:Lựa chọn hệ thống loại hình: Tín ngưỡng thờ Quan Công (Nam Bộ -Trung Hoa)

Bước 2:Phân loại thành nhóm:
- Nơi thờ tự: Miếu, miễu, cung, điện, chùa (Nam Bộ) , đền, miếu, chùa (Trung Hoa)
- Lễ vía Quan Công: Vía hiển thánh, vía sanh
- Sự tôn vinh tên gọi: Quan Công, Quan Thánh Đế Quân (Nam Bộ), Quan Đế, Quan Thánh Đế Quân, Quan Lão Gia (Trung Hoa)
- Quan niệm thờ: Thần hộ mạng chon am giới ,Vị thần may mắn và giữ chữ “tín” (Nam Bộ-Trung Hoa)
- Biểu diễn tuồng theo phong cách Việt (Tuồng tích Việt gốc Trung Hoa, diễn bằng ngôn ngữ Việt)
- Biểu diễn tuồng theo phong cách Trung Quốc (Tuồng tích Trung Hoa, diễn bằng ngôn ngữ Tiều - Hoa).
- Phối thờ với các đôi tượng thờ: Trong gia đình và đình, miếu (Nam Bộ-Trung Hoa)

Bước 3:Lập ánh xạ
Hình ảnh

Bước 4:Giải thích, phát triển tri thức mới.

Nói đến tín ngưỡng thờ Quan Công ở Nam Bộ thì phải nói qua về sự có mặt của người Hoa ở đây. Vào thế kỷ XVII, những lưu dân người Hoa đầu tiên có mặt theo các tướng cũ của nhà Minh như: Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu,… ,do không thần phục triều đình nhà Mãn Thanh, đến định cư ở vùng Chợ Lớn, Bình Dương, Biên Hoà, Mỹ Tho và Hà Tiên.
Theo quan niệm của người Trung Quốc, có 2 vị thánh được tôn kinh là Văn Thánh (Khổng Tử) và Võ Thánh (Quan Công). Hai vị này biểu trưng cho quan niệm văn võ luôn song hành để phục vụ các triều đại phong kiến. Từ thời Tống (962-1279), Quan Công được thần thành hóa và trở thành vị thần của tín ngưỡng dân gian Trung Quốc, được thờ cúng ở mọi nơi. Sách Từ điển văn hóa cổ truyền Trung Hoa có ghi rõ: “ Đến thời Tống Chân Tông, Hà Đông có yêu ma hoành hành hút cạn nước Diêm Trì, lại sắp đưa quân Tây Nhung tới quấy nhiễu biên giới, tình thế vô cùng nguy ngập. Chân Tông phái sứ thần đến núi Long Hổ ở Tín Châu cầu cứu Trương Thiên Sư. Trương Thiên Sư phái Quan Vũ đi trừ yêu. Bảy ngày sau bầu trời phủ đầy mây đen, trời tối như mực, sấm chớp liên hồi, năm ngày sau trời quang đãng, yêu ma đã hàng phục. Chân Tông bèn phong cho Quan Vũ là Võ An Vương, sai đến núi Ngọc Tuyền tế lễ”. Từ đó về sau, triều đình nhà Tống, nhà Minh (1368-1644) đã phong ông nhiều tước vị khác nhau như: “Sùng Ninh Chân Vương”, “Chiêu Liệt Võ An Vương”, “ Nghĩa Dũng Võ An Vương”. Đặc biệt, năm 1828, vào đời nhà Thanh, vua Đạo Quang (Thanh Nghị Tông) đã phong Quan Công một tước vị đặc biệt: “Trung Nghĩa Thần Vũ Linh Hựu Nhân Dũng Uy Hiển Quan Thánh Đại Đế”. Việc phong tước vị đại đế nhằm cổ vũ cho tinh thần “ Mãn-Hán một nhà”, tạo tiền đề ổn định xã hội Trung Quốc dưới triều đại này. Các thương gia Trung Quốc bắt đầu thờ Quan Công vào cuối đời nhà Minh, nhà Thanh và thời Dân Quốc (1911-1949). Giai đoạn này với sự phát triển của kinh tế thương mại, cho nên tầng lớp thương nhân thờ Quan Công biểu trưng cho chữ “ Tín” trong buôn bán. Ngoài ra, ông còn được xem là vị tài thần để bảo vệ và mang đến may mắn, tiền bạch cho họ. Ngày nay, ở Trung Quốc, Quan Công được thờ cúng khắp nơi ở nhiều đền, miếu, chùa,…và trong gia đình, ở những cửa hiệu, công ty, khách sạn,…Do vậy, tín ngưỡng Quan Công là một trong những loại tín ngưỡng khá quan trọng, biểu hiện được giá trị văn hóa tinh thần của người Trung Quốc. Ngoài tên gọi Quan Công, dân gian Trung Quốc còn gọi ông là Quan Đế, Quan Thánh Đế Quân, Quan Lão Gia,…. Theo một số nhà nghiên cứu cho rằng: “ Quan Công thờ tại gia đình thì là vị thần phù hộ cho gia chủ( nam giới), thờ ở đền miếu là vị thần phù hộ cộng đồng, thờ ở Đạo quán là một trong ba mươi sáu tướng của Huyền Thiên thượng đế chuyên trừ tà ma cứu độ chúng sinh, thờ ở chùa là Già Lam bồ tát hộ trì tam bảo”
Đến Nam Bộ, người Hoa lập miếu thờ Quan Công nhằm biểu hiện cho tinh thần trung nghĩa và sau đó chính là sự biểu hiện cho tấm lòng luôn hướng về quê hương cố cựu, không để bị mất truyền thống, mai một văn hoá của mình ở nơi đất khách. Trong gia đình, người Hoa thờ Quan Công bằng tượng hoặc tranh kiếng ở nơi cao ráo, trang trọng và thường thờ chung với Phật Thích Ca, Quan Am, Cửu Thiên, Thiên Hậu,…Trong một số ngôi chùa Hoa, Quan Công được thờ trên chánh điện với tư cách là Già Lam Thánh Chúng hộ trì tam bảo. Tại Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm và Giác Thiền Tự của người Hoa ở Thành phố Cà Mau, Quan Công tay cầm Thanh Long đao được thờ cùng Vi Đà Hộ Pháp, cả hai ông đứng chầu hầu Phật A Di Đà ở gian giữa chánh điện. Đặc biệt, cũng tại gian này có hình 7 vị: Giữa là Phật A Di Đà, hai bên là Quán Thế Am và Địa Tạng, Văn Thù và Phổ Hiền, ngoài cùng là Quan Công và Vi Đà Hộ Pháp. Như vậy, Quan Công không chỉ xuất hiện trong tín ngưỡng dân gian đơn thuần của người Hoa mà còn đi vào Phật giáo Hoa Tông ở Nam Bộ với tư cách là vị bồ tát hộ trì tam bảo và để lại dấu quan trọng trong cách bài trí những ngôi chùa này.
Người Hoa thường tổ chức ngày vía Quan Công vào các ngày 13 tháng 1 (vía hiển thánh – Quan Công qui y tam bảo ), 13 tháng 5 (vía sanh) và ngày 23 tháng 6 (vía tử) âm lịch hàng năm.
Nói đến tín ngưỡng thờ Quan Công ở Nam Bộ mà không nói đến ngôi miếu thờ vị thần này là một sự thiếu sót lớn. Những nơi thờ Quan Công thường được gọi với nhiều cách khác nhau: Miếu, cung, điện,…Ngoài ra, người Hoa và người Việt thường gọi miếu thờ Quan Công là chùa Ông bên cạnh chùa Bà- miếu thờ Thiên Hậu, thể hiện rõ nét triết lý âm dương vốn ăn sâu vào tâm thức của họ.
Đặc biệt, không chỉ có người Hoa mà người Việt còn thỉnh Quan Công vào thơ ở trong nhà trên một “trang” thờ ở nơi cao trong nhà cùng với các thần, phật khác như: Cửu Thiên Huyền Nữ, Bà Chúa Ngọc, Quan Am, Thích Ca,… Quan Công trở thành vị thần độ mạng cho nam giới trong gia đình người Việt. Hình Quan Công được vẽ theo dạng tranh kiếng giống như bộ tượng Quan Công trong miếu hoặc Quan Công tay cầm Thanh Long đao đứng riêng, Quan Công xem án thư với nhiều kích cỡ khác nhau. Tùy vào độ tuổi của vị gia chủ mà bộ tượng Quan Công khắc trên tranh kiếng được thay đổi: Thanh Long đao hướng ra ngoài hay vào trong, vị trí tả hữu của Châu Xương, Quan Bình.
Ơ lễ hội cúng biển của cộng đồng ngư dân Mỹ Long (huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh), được tổ chức vào các ngày 10, 11 và 12 tháng năm âm lịch hàng năm, có nghi thức “ Nghinh ngũ phương” : Một số thanh niên có đạo đức tốt, dáng dấp cao ráo, khôi ngô, biết vũ công sẽ hóa trang vào vai Quan Công, Quan Bình, Châu Xương dẫn đầu đám rước thỉnh Ông Nam Hải từ miễu Bà Chúa Xứ đi khắp nơi trong thôn xóm để trù tà ma, tai nạn, tống đi mọi xui xẻo trong tiếng hò reo của ngư dân nơi đây. Đây là biểu hiện của sự “chồng xếp” và giao thoa văn hóa mạnh mẽ giữa lớp văn hóa Việt và văn hóa Hoa trong quá trình cộng cư, trong đó văn hóa Việt là chủ thể chính, ở cộng đồng ngư dân Mỹ Long. Mặt khác, sự có mặt của tín ngưỡng thờ Quan Công bên cạnh các loại hình tín ngưỡng khác như: Ông Nam Hải, Bà Chúa Xứ, Thổ Địa, Bà Thủy Long, Bà Cố Hỷ,…tạo nên tính đa dạng trong đời sống tinh thần của các cộng đồng ngư dân này.
RANDOM_AVATAR
thuhientvu
 
Bài viết: 9
Ngày tham gia: Thứ 5 03/01/13 21:12
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 4 lần

Trang trước

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến5 khách

cron