BÀI TẬP THỰC HÀNH I
1. Chọn cho mình 1 đề tài (phạm vi) nào đó
2. Xác định các cặp phạm trù đối lập (các mâu thuẫn trong đề tài)
3. Vận dụng phương pháp dịch lý để nghiên cứu từng cặp đối lập đó (Kiểm tra tính tương hiện, kiểm tra tính tương hóa, tính hướng hòa …)
Học viên: Nguyễn Thị Thu Hằng
NCS VHH, K7
TÊN Ở NHÀ CỦA NGƯỜI VIỆT DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
Trong văn hóa đặt tên, ngoài việc đặt cho con một cái tên chính, người dân Việt Nam cũng thường dùng những từ Nôm (thuần Việt như Na, Ổi, Mít, Mía, Bí Đỏ ...), hoặc xu hướng Tây hóa ngày nay thường dùng các từ nước ngoài (như Tiger, Bean, Bill...) để đặt cho con cái một cái tên khác gọi ở nhà khi còn nhỏ. Trước đây, tên này được gọi là tên tục, còn ngày nay thông thường được gọi là "tên ở nhà". Thực chất, "tên ở nhà" chính là một thứ tàn tích của "tên tục".
- Xác định các cặp phạm trù đối lập: Tên ở nhà >< tên chính
tên của nam >< tên của nữ
- Tính tương hiện:
Có những tên được đặt để gọi ở nhà nhưng lại gần như trở thành tên chính, được gọi nhiều hơn cả tên chính. Có nhiều tên ở nhà nghe có vẻ nam tính nhưng lại được dùng đặt cho nữ (như Bon, Cua ...), có nhiều tên ở nhà nghe có vẻ nữ tính nhưng lại được đặt cho nam (như Bún, Bé...)
- Tính tương hóa: Tên ở nhà gọi nhiều quá trở thành tên chính, trong khi tên chính ít được gọi quá lắm khi không được biết đến (nhiều trường hợp anh em, ban bè rất thân thiết nhau, nhưng lại chỉ biết tên ở nhà của con bạn bè anh em mà không hề biết đến hoặc lãng quên mất tên chính của chúng).
- Tính hướng hòa: Cả tên ở nhà và tên chính đều đều là cách mà các bậc cha mẹ thể hiện tình yêu thương và những ước vọng của mình đối với con cái.
