VĂN HOÁ ẨM THỰC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG TỤC NGỮ

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

VĂN HOÁ ẨM THỰC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG TỤC NGỮ

Gửi bàigửi bởi nguyenthithuyhang » Thứ 5 03/04/08 23:44

[justify]1. Phân tích đề tài
Hình ảnh
2. Sơ đồ phân tích đề tài
Hình ảnh
3. So sánh ẩm thực và đại tiện
Hình ảnh
4. Định nghĩa cụm từ “ăn uống”Bước 1: Tìm Tất cả các định nghĩa hiện có về ăn uống.
– Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê
Ăn: là cắn, nhai, nuốt thức ăn
Uống: đưa chất lỏng vào cơ thể
– Theo từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A ... B%95i):
Ăn uống là việc tiếp nhận thức ăn qua đường miệng. Các thức ăn (đặc, lỏng, nước uống...) vào trong cơ thể được tiêu hoá, hấp thụ sẽ trở thành các nguyên liệu cần thiết để cung cấp năng lượng bị tiêu hao trong quá trình hoạt động của cơ thể; tái tạo lại các phần bị phân huỷ và loại trừ khỏi cơ thể; cung cấp năng lượng cho cơ thể phát triển, tăng trưởng (trẻ em đang lớn, phụ nữ có thai phải nuôi bào thai, mẹ cho con bú, ăn giả bữa sau một cơn ốm nặng, vv.
– Theo từ điển Anh – Anh của LacViet thì ăng uống: eat and drinh: to chew and swallow as food and drinhables nghĩa là hành động nhai và nuốt thức ăn thức và đồ uống.
Bước 2: phân tích theo yêu cầu của định nghĩa
- Về hình thức:
Định nghĩa của Hoàng Phê: ngắn gọn, nhưng manh tính chất liệt kê. Định nghĩa riêng từng từ “ăn” và “uống”.
Định nghĩa của Wikipedia: quá dài dòng
Định nghĩa của LacViet: ngắn gọn

- Về nội dung: Định nghĩa thứ nhất và thứ ba tính khái quát chưa cao.
- Định nghĩa thứ hai quá dài và nội dung quá cụ thể và có phần chưa chính xác vì có người uống bằng mũi.
Bước 3: Đánh giá định nghĩa
Nhìn chung những định nghĩa trên phần nào giúp ta khu biệt được “ăn uống” với những hoạ động khác nhưng có định nghĩa thì liệt kê chưa đầy đủ, có định nghĩa thì quá dài dòng và nội dung có chỗ còn thiếu sự chính xác.
Bước 4: tìm khái niệm rộng hơn để quy khái niệm cần định nghĩa vào: “hoạt động trao đổi chất”
Bước 5: Chỉ ra đặc trưng khu biệt khái niệm được định nghĩa với khái niệm khác cùng loại: “đưa chất dinh dưỡng vào trong cơ thể” khác với đại tiện là đào thải chất cặn bã ra khỏi cơ thể.
Bước 6: Định nghĩa sơ bộ
Ăn uống là hoạt động trao đổi chất phương thức đưa chất dinh dưỡng vào trong cơ thể.
Bước 7: Kiểm tra định nghĩa
- Về hình thức: ngắn gọn (chỉ trong một câu), dễ hiểu.
- Nội dung: khu biệt được đối tượng, phản ánh bao quát được đối tượng nhưng chưa nói được chức năng của đối tượng.
Bước 8: Định nghĩa chính thức
Ăn uống là hoạt động trao đổi chất bằng phương thức đưa chất dinh dưỡng vào để cung cấp năng lượng cho cơ thể.
5.Lập đề cương sơ bộ
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Lịch sử vấn đề
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp và tư liệu
6. Bố cục
NỘI DUNG
CHƯƠNG II: ẨM THỰC SỰ TẬN DỤNG MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
1. Mùa nào thức ấy
2. Món ngon các vùng
3. Cơ cấu bữa ăn của người Việt
4. Thức uống và tập quán ăn trầu của người Việt
CHƯƠNG II: QUAN NIỆM VÀ KINH NGHIỆM CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG ẨM THỰC
1. Quan niệm của người Việt trong ẩm thực
2. Kinh nghiệm trong ẩm thực
2.1. Kinh nghiệm trong việc lựa chọn nguyên liệu
2.2. Kinh nghiệm trong việc chế biến thức ăn
3. Kinh nghiệm kết hợp ẩm thực với giữ gìn sức khoẻ
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

6. Lập đề cương chi tiết

DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài
2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3. Lịch sử nghiên cứu đề tài
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5. Bố cục

CHƯƠNG I
ẨM THỰC SỰ TẬN DỤNG MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
1. Mùa nào thức ấy
Khí hậu Việt Nam chia thành hai mùa mưa nắng rõ rệt. Từ đó cũng hình thành nên những món ăn đặc trưng của từng mùa “mùa nào thức ấy” như “chim ngói mùa thu, chim cu mùa hè”.
“Nhất cá rô tháng giêng, nhì cá tràu tháng mười”, “cá đối tháng bảy, cá gáy tháng mười” , “thà liếm môi liếm mép, còn hơn ăn cá chép mùa hè”.
2. Món ngon các vùng
2.1. Món ngon miền Bắc
“Bưởi Đoan Hùng, cam Bố Hạ”, “Chuối Tam Nông, hồng huyện Hạc”, “rau cải làng Tiếu nấu nước điếu cũng ngon”.
“Bánh đúc làng kẻ, bánh tẻ làng Diễn”, “Bằng vải, Bằng dưa, Linh cua, Tứ bún”, “thịt sơn son, dưa cuộn tròn”, “sống được miếng dồi chó, chết được bó vàng tâm”, “rượu tăm thịt chó nướng vàng, mời đi đánh chén cách làng cũng đi”, “Bánh giầy Quán Gánh, Bán rán cầu Khâu”, “Bún Mai Cương, tương Đình Tổ”, “bánh nẳng Cầu Mai, bánh chưng hàng Gát, bánh gai Cầu Dền”.
2.2. Món ngon miền Trung
Miền Trung nổi tiếng với các loại cá: “cá rô Bàu Nón kho với nước tương Nam Đàn, gạo tháng mười cơm mới đánh tràn không biết no”.
“Cá ngon là cá Cù Mông, gạo ngon là gạo ở đồng Phú Dương”.
Xứ Quảng có “chim mía Xuân Phổ, cá bống sông Trà, kẹo gương Thu Xà, mạch nha Thi Phổ”.
“nem xứ Huế, quế xứ Thanh”, “nem chả Hòa Vang, bánh tổ Hội An, khoai lang Trà Kiệu, thơm rượu Tam Kì”.
2.3. Món ngon miền Nam
“bánh tráng Mĩ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc”.
“Biên Hòa có bưởi Thanh Trà,. Thủ Đức nem nướng, điện Bà Tây Ninh”.
3. Cơ cấu bữa ăn của người Việt
3.1. Cơm
“người sống về gạo, cá bạo về nước”. “bớt gạo cạo thêm khoai”.
“cơm tẻ là mẹ ruột”
“ăn gạo tám chực đình đám mới có”.
3.2. Rau
Rau luôn được đưa lên vị trí ưu tiên “thịt ăn sau, rau ăn trước” và giữ vai trò hiển nhiên trong mỗi bữa ăn “đói ăn rau, đau uống thuốc”. “ăn cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống”, “ăn cơm không rau như đánh nhau không có người gỡ”, ăn cơm không rau như đánh nhau không chử”.
Từ rau có thể chế biến thành rất nhiều món ăn: “ăn cơm có canh, tu hành có vãi”, “già đựơc bát canh, trẻ được manh áo mới”, “canh tập tàng ngon, con tập tàng khôn”.
Trong các loại rau, người Việt thường có tập quán ăn rau muống, rau lang. Nhất.: “thứ nhất lạc rang, thứ nhì lang nướng”, “sâm nhung không bổ bằng rổ khoai lang”, “cảnh không gì bằng cảnh cau, rau không gì bằng rau khoai”.
Bên cạnh cây rau lang thì các món dưa và cà chiếm một vị trí rất đặc biệt trong bữa ăn của người Việt “tương cà là gia bản”, “cơm cà là nhà có phúc”, “thịt cá là hoa, tương cà là gia bản”, “rau lang cà quẹt húp phều phào”. “có cà thì tha gắp mắm”, “cắn miếng cà và miếng cơm” thế là đủ, là có thể no bụng, may mắm lắm rồi.
Cái cà, cái dưa gắn bó với người Việt đến nỗi cô gái vụng về trong việc bếp núc bị chê “cái dưa thì khú, cái cà thì thâm”.
3.3. Cá
Sau cơm rau thì cơm cá là thông dụng nhất, điều này phản ánh rất rõ trong tục ngữ: “ cơm với cá như mạ với con”, “có cá đổ vạ cho cơm”, “con cá đánh ngã bát cơm”, “ăn cơm với cá, cơm chó còn đâu”, “đắc cá hơn rẻ thịt”.
4. Thức uống và tập quán ăn trầu của người Việt
4.1. Thức uống
Nước chè xanh là một thức uống rất phổ biến ở các vùng quê nước ta: “nước chè xanh vừa lành vừa mát”, “đắt nước hơn rẻ chè”.
Nước trà cũng là một loại thức uống rất được ưu chuộng “thuốc lào một nạm, chè tàu một hơi”, “nước tà mè xửng là chứng không chừa”.
Trà có rất nhiều loại và nó phản ánh cuộc sống của người thưởng thức nó.:“uống nước chè Tàu, ngồi trường kỉ”, “uống nước chè Tàu, ăn trầu Cơi Thiếc”.
Sau trà, rượu cũng là một thức uống rất quan trọng đối với người Việt chúng ta: “cỗ không rượu, kiệu không cụ”.
“rượu ngon phải có bạn hiền”,“nam vô tửu như kì vô phong”.
“Có chè có rượu không thiết có anh em”.
4.2. Trầu cau
Miếng trầu tượng trưng cho tình yêu, là vật để gắn kết hai người khác giới “miếng trầu là đầu câu chuyện”,“Miếng trầu là nên dâu nhà người”.
“ăn trầu thiếu vôi, làm tôi quên chúa”, “có trầu có vỏ không có vôi”.
CHƯƠNG II
QUAN NIỆM VÀ KINH NGHIỆM CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG ẨM THỰC
1. Quan niệm của người Việt trong ẩm thực
Ăn rất quan trọng: “có thực mới vực được đạo”, “trời đánh còn tránh miếng ăn”.
Trong mối quan hệ giữa người với người thì người Việt luôn đặt tình cảm lên trên hết. Do đó mà họ luôn phê phán “miếng ăn quá khẩu thành tàn”, hay “miếng ăn là miếng tồi tàn mất đi một miếng lộn gan lên đầu”, “xem miếng ăn như vàng”, hay ăn uống một cách thô tục, hấp tấp điều này được phản ánh trong tục ngữ rất nhiều: “Ngốn như bò ngốn rơm”, “chưa để vào môi đã trôi vào ruột”.
Phải ý tứ khi ăn: “ăn tuỳ nơi chơi tuỳ chốn”, “ăn bừa ăn bãi”, “ăn trông nồi ngồi trông hướng”, “ăn cơm phải biết trở đầu đũa”.
Vì luôn trọng tình nên khi nhà có người đến thăm đón tiếp rất nồng hậu sẵn sàn “nhịn miệng thịt thết khách”, “khách đến nhà không con gà cũng bát nếp”.
Đối với ông bà tổ tiên cũng vậy, chính vì thế mà có câu phê phán “sống thì chẳng cho ăn nào, chết thì mân cao cỗ đầy”.
Trong cuộc sống “ai chẳng muốn ăn ngon mặc đồ tốt”, tuy nhiên phải tuỳ theo hoàn cảnh “liệu cơm mà gắp mắm” , “có rau ăn rau có cháo ăn cháo”, “còn ăn hết nhịn”, “ăn cho sống không phải sống mà ăn”, “cả ăn cả mặc lại càng cả lo”, “đừng ăn quá miệng đừng diện quá sang”.
Có sự phân biệt giới tính trong việc bếp núc: “con gái chỉ ăn xó bếp chết gầm chạn”, “quân tử viễn bào trù”, “quan tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an”, “nam thực như hổ, nữ thực như miêu”.
2. Kinh nghiệm trong ẩm thực
2.1. Kinh nghiệm trong việc lựa chọn nguyên liệu
“gạo đầu mùa thổi củi chùa cũng ngon”, “cần ăn cuống, muống ăn lá”, “cây rau má, lá rau, húng, cuống rau đay”.
Để chọn được cá ngon: “cá tươi xem mang”, “ rau chọn lá, cá chọn vảy”.
Còn đối với các rau loại quả:“thịt tươi thì phải xem gan, mua bầu xem cuống mới toan không lầm”, “rau xem lá, cà xem cuống”.
Khi ăn cá thì: “đầu cà trôi, môi cá mè”, “một trăm đám cưới không bằng hàm dưới cá trê”, “đầu chép, mép trôi, môi mè, lườn trắm”. Với cua là: “cua thâm càng, nàng thâm môi”.
Kinh nghiệm trong việc chọn thịt động vật: “lợn giò, bò bắp”, “bò non ít mỡ”, “cá cả, lợn lớn”, “bầy nhầy như thịt bụng”. “gà lọt dậu, chó sáu bát”, “gà cựa dài thì rắn, gà cựa ngắn thì mềm”, “gà đen chân trắng mẹ mắng cũng mua, gà trắng câhn đen mua chi giống ấy”,“bồ câu chân nhên”, “gạo tám xoan, chim ra ràng, cà cuống trứng”, “cau phơi tái, gái đoạn tang, chim ra ràng, gà mái ghẹ”.
2.2. Kinh nghiệm trong việc chế biến thức ăn
“ướp dưa phải dằn đá”.
“gà mổ đằng bụng, chim mổ đằng lưng”, “sớm chí tai, mai chí hầu”.
“thứ nhất thịt bó tái”, “cần tái cải nhừ”.
“Cơm sôi to lửa thì ngon, cháo sôi to lửa chỉ còn nồi không”.
Và trong khâu chế biến thức ăn thì người Việt luôn chú ý đến sự kết hợp các gia vị để tạo sự hài hòa âm dương trong món ăn “ trâu tỏi bò gừng”, “nem tỏi, gỏi riềng”, “ ăn thịt trâu không tỏi như gỏi không không lá mơ”.
Giữa món ăn với con người và thời tiết như: “nắng gỏi mưa cầy”, “chim ngói mùa thu, chim cu mùa hè”.
Trong tục ngữ kinh nghiệm trong việc kết hợp gia vị rất nhiều: “thịt gà chấm muối, cơm nguội trộn tương”, “cơm nắm chấm với múôi vừng,lấy Vân Đội thì đừng chê đen”, “thịt một giành không hành không ngon”, “mỡ hàng, canh mắm”, “khế xanh nấu với ốc nhồi tuy nước nó xám mà mùi nó ngon”, “ăn bún thang cả làng đòi cá cuống”, “cá bống kho tiêu, cá thiều kho ngọt”.
3. Kinh nghiệm kết hợp ẩm thực với giữ gìn sức khoẻ
Từ lâu qua thực nhiệm ông bà ta đã biết kếp hợp giữa ẩm thực và chữa một số bênh thông dụng cũng như là tạo ra các món bổ dưỡng để nâng cao sức khoẻ: “cơm thiêu tiêu cơm nguội”, “đái dắt rau ngót, đái buốt rau sam”, “ròng ròng lá mít, sin sít lá mơ”. “nhiều sữa lá mít, ít sữa lá sung” , “lụy dâu bầu sữa”, “ngã nước đu đủ, ung nhủ lá na”. “Mùa hè nấu chè lá tre”
“Đậu xanh, đu đủ, của chua có tính rã thuốc chớ cho uống cùng
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

7. Sơ đồ thuật giải việc rút tiền qua máy ATM
Hình ảnh[/justify]
Lá rơi bên song cửa
Mưa tí tách hiên nhà
Đêm, rồi đêm, đêm nữa
Nỗi buồn nhớ mẹ cha.
RANDOM_AVATAR
nguyenthithuyhang
 
Bài viết: 26
Ngày tham gia: Thứ 5 13/12/07 13:40
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: VĂN HOÁ ẨM THỰC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG TỤC NGỮ

Gửi bàigửi bởi transang » Thứ 3 22/07/08 9:10

theo toi vấn đề ẩm thục này nó không chỉ biểu hiện sự da dạng của từng vùng van hoá, từng quan điểm của mỗi con người, và bạn nên chú ý các món ăn chữa bệnh, các món an mang tính chất tôn giáo, ví dụ người Huế rât ít xài món Cầy tơ, hoặc vào những ngày Sóc, Vọng người ta thường ăn chay, và kiêng ăn cá chep...
RANDOM_AVATAR
transang
 
Bài viết: 8
Ngày tham gia: Thứ 3 15/07/08 15:48
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần


Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron