QUAN HỌ BẮC NINH DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HOÁ

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

QUAN HỌ BẮC NINH DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HOÁ

Gửi bàigửi bởi lucky89 » Thứ 6 15/05/09 19:39

[center]QUAN HỌ BẮC NINH DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HOÁ[/center]
A.Phần mở đầu
1.Lý do chọn đề tài:
Dân ca quan họ là một lọai hình văn hóa nghệ thuật đặc sắc, nó được hình thành và đi sâu vào đời sống tinh thần của người dân từ lâu đời. khác biệt với các lọai hình văn hóa nghệ thuật khác, dân ca quan họ mang một đặc thù riêng bởi các làn điệu, trang phục, âm thanh và các lễ hội trong nó. Là một nghệ thuật phi vật thể, nó thể hiện đời sống tinh thần phong phú, đa dạng của nhân dân.
Quan họ là lối hát mang đậm chất trữ tình làng xã, nó thể hiện ở trong mỗi lời hát, âm thanh là những mối quan hệ giữa người hát và người nghe, làm mối quan hệ kết giao bền chặt và thể hiện tinh thần cộng đồng làng xã mạnh mẽ.
Những năm gần đây, nền kinh tế phát triển, xạ hội có nhiều đổi mới, lọai hình nghệ thuật này cũng có từng bước phát tirển khác nhau trong từng giai đọan, có quá trình giao lưu, ảnh hưởng và có một vị trí quan trọng trong sự giao lưu với bạn bè Quốc tế, phản ánh đời sống tinh thần của con người Việt đối với các nước bạn. Điều đó thể hiện quá trình giao lưu, tiếp xúc và duy trì một lọai hình văn hóa đặc sắc.
Trong đề tài này tôi tìm hiểu về dân ca quan họ của vùng Kinh Bắc, một vùng đất không chỉ nổi tiếng bởi các chùa chiền, miếu đình mà còn là nơi khởi nguồn của những câu dân ca quan họ đậm nét trữ tình, một lối hát giao duyên đậm làng xã nông thôn Việt Nam. Tìm hiểu về nét đẹp của lối hát này cùng với sự ảnh hưởng chung của nó đến đời sống người dân và bạn bè quốc tế. bảo tồn và phát huy đời sống tinh thần của người dân Kinh Bắc trong thời đại hội nhập hiện nay.


2.Mục đích:
Tìm hiểu về đề tài này giúp tôi có cái nhìn chính xác và rõ ràng hơn về lọai hình dân ca quan họ của người dân Kinh Bắc. Đồng thời tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển cũng như sự hội nhập của làn điệu này trong thời đại mới.
Có cái nhìn tổng quát, rút ra những giá trị nghệ thuật có giá trị đối với thế hệ yêu thích làn điệu dân ca quan họ và những ai quan tâm về việc bảo tồn, phát huy giá trị của dân tộc.
Cũng có những hiểu biết còn hạn chế của bản thân xung quanh những vấn đề của đề tài, giúp có cái nhìn hòan thiện và đúng hơn, hiểu biết rõ hơn về lọai hình nghệ thuật vốn đã có từ lâu đời và gắn liền với đời sống của dân tộc.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
• Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này đi nghiên cứu, tìm hiểu về làn điệu dân ca quan họ của người Kinh Bắc.
• Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: vùng đất Kinh Bắc, là nơi hội tụ và là cái nôi của lọai hình nghệ thuật dân ca quan họ.
Đối tượng: dân ca quan họ.
Thời gian: quá trình phát triển, trong quá trình hội nhập, phát triển hiện nay.
4.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.
• Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài này giúp tôi nhìn nhận được vấn đề đúng và rõ ràng hơn. Góp phần


5.Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu.
• Phương pháp nghiên cứu:
Thực hiện đề tài này, tôi có những phương pháp sau:
Tổng hợp tài liệu: để nắm được nội dung, các lọai hình, đặc điểm của Quan họ nhằm có sự tổng kết đầy đủ và cính xác nhất để làm đề tài.
Phân tích và chia thành từng chương phù hợp: từ sự tổng hợp, cái nhìn tổng quát đó sẽ có việc đi từng cái cụ thể, chia ý và đi sâu, làm rõ từng vấn đề cụ thể để dễ nghiên cứu và có hệ thống hơn đối với các tài liệu đã tìm được.
Các nguồn tư liệu chính: chỉ yếu để thức hiện đề tài này là thông qua internet, các sách tham khảo có liên quan, báo chí, các tài liệu có trong thư viện. nhưng chủ yếu là thông qua internet.
6.Bố cục của đề tài.
Thực hiện đề tài tôi chia thành 4 chương lớn như sau:
Chương I: Giới thiệu về nguồn gốc, quá trình phát triển của dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc.
Chương II: Trang phục, làn điệu, ngôn từ trong Quan họ.
Chương III: Quan họ với các lễ hội và các hình thức sinh họat văn hóa.
Chương IV: Quan họ trong đời sống hiện nay và việc bảo tồn và phát triển.



B. Phần nội dung.
Chương I: Giới thiệu về nguồn gốc, quá trình phát triển của dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc.
I.1 Vùng đất Kinh Bắc:
Kinh Bắc là tên gọi một vùng đất rộng lớn ở phía Bắc kinh thành Thăng Long, nằm trong vùng văn hóa châu thổ sông Hồng Hà và sông Thái Bình. Vùng đất Kinh Bắc có truyền thống văn hóa và truyền thống làng nghề từ rất lâu đời. Có 645 tiến sĩ trong các khoa cử của triều đại phong kiến chiếm 1/4 cả nước, có các làng nghề truyền thống nổi tiếng như: làng tranh Đông Hồ, làng giấy Đống Cao, làng chạm khắc Phù Khê,… Kinh Bắc còn có nhiều danh lam thắng cảnh, đình, đền, chùa cổ kính. Người dân Kinh Bắc gắn bó trong tình làng nghĩa xóm, trong lao động cần cù, khát vọng yêu thương,…
Từ xưa vùng Kinh Bắc là xứ sở của quan họ. Trong thời Pháp thuộc, Kinh bắc được chia làm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Các làng quan họ đa số tập trung xung quanh thị xã Bắc Ninh, chỉ là có vài làng nằm rải rác ở Bắc Giang nên Bắc Ninh được xem là quê hương của quan họ, có 49 làng quan họ trên đất Bắc Ninh.
I.2 Nguồn gốc của Quan họ:
Về nguồn gốc của quan họ, tuy có nhiều công trình nghiên cứu nhưng vẫn chưa xác định rõ nguồn gốc về nó. Có rất nhiều truyền thuyết nói về nó như:
Theo Lê Văn Hảo trong “Bắc Ninh tỉnh khảo thí” cho rằng, nguồn gốc của quan họ là do sự kết nghĩa lâu năm giữa hai làng Viêm Xá và làng Hòai Bão. mỗi khi có dịp lễ hội, thì trai làng Hòai Bão và nữ Viêm Xá hát đối đáp với nhau để tránh những chuyện bất an, cãi cọ.
Theo Nguyễn Duy Kiện trên Việt Báo thì viết: “ thời thượng cổ nhân dân 2 làng Lũng Nhai và Tam Sơn giao hảo rất thân mật, khi làng nào có chuyện như lên lão, quan, hôn, tang, lễ,… đều có lời mời lẫn nhau. 2 làng thường họp từ 5-7 cụ ông và 5-7 cụ bà, cùng một số thanh niên nam nữ. trai bên này hát, thì gái bên kia đáp, còn các cụ thì ngồi nghe. Hai làng cứ tiếp tục từ đời này sang đời khác.
Cũng có một số người cho rằng quan họ bắt nguồn từ sự tích ông quan đi qua vùng Kinh Bắc đã rất thích thú bởi tiếng hát của các liền anh liền chị mà dừng lại thưởng thức, tuy nhiên cách lý giải này có phần mơ hồ. Một số quan điểm khác cho rằng, quan họ xuất phát do những nghi thức tôn giáo mang tính phồn thực, họ cũng cho rằng quan họ xuất phát từ “âm nhac cung đình”.
Quan họ là những sản phẩm sáng tạo nhất là những thế kỉ của thời kì phong kiến độc lập. vào thời Lý Trần ( thế kỉ XI – XIV) khi các thành tựu văn hóa, nghệ thuật dân gian nở rộ, cùng với sự am hiểu, quý trọng của các triều vua đã ảnh hưởng đến quan họ từ giao duyên cổ sơ sang lối ca hát có lề lối, quy củ rõ ràng. Tiếp đến thời Lê ( thế kỉ XV), đội ngũ trí thức đông đảo làm việc sáng tác quan họ ngày càng được bổ sung. Thế kỉ XVIII dân ca quan họ đã có những hình tượng đẹp, tế nhị, nội dung trữ tình sâu sắc, về làn điệu thì có sự giao lưu rộng rại Bắc Nam. Những năm đầu thế kỉ XX , các nghệ thuật khác của cả nước đã gia nhập vào quan họ làm nó được cải biến và phát triển đến sau này.
I.3 Quan họ truyền thống và quan họ mới.
• Quan họ truyền thống: “ chơi quan họ”, là hình thức tổ chức văn hóa với quy định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi các liền anh, liền chị phải am hiểu tiêu chuẩn, luật lệ, chỉ tồn tại ở 49 làng. Nó không có nhạc đệm, chủ yếu hát đôi giữa liền anh, liền chị. Hát đôi được gọi là hát hội, hát canh. Hát cả bọn được gọi là hát chúc, mừng, thờ.
“Chơi quan họ” truyền thống không có khán giả, người trình diễn là người thưởng thức. các bài quan họ còn ưu thích đến giờ là La rẳng, Tình tang, Cái ả, Cây Gạo.
• Quan họ mới: “ hát quan họ”, là hình thức biểu diễn trên sân khấu hoặc trong sinh họat cộng đồng, thực tế thì được trình diễn bất kì ngày nào, luôn có khán thính giả, người hát còn trao đổi tình cảm với người nghe. Quan họ mới không nằm trong không gian làng xã mà còn vươn ra nhiều nơi, ở quốc gia và cả Thế giới.
Có hình thức biểu diễn phong phú hơn, gồm hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát múa phụ họa,.. có cải biến các bài hát theo hai cách: ý thức và không ý thức. Hát quan họ có nhạc đệm là không ý thức, còn cải biên có ý thức là cải biến cả nhạc và lời của quan họ truyền thống.
Chương II: Trang phục, làn điệu, ngôn từ trong Quan họ.
II.1 Trang phục trong Quan họ:
II.1.1 Liền anh:
Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối. Thường bên trong mặc thêm một hoặc hai áo cánh, sau đó đến áo dài. Chất liệu để may áo cánh và áo dài thường là các lọai vải màu trắng như diêm bầu, vải phin, vải trúc bầu hoặc bằng sồi, lụa. Riêng áo dài bên ngòai thường màu đen, chất liệu là lương, the, người khá giả thì áo ngòai may bằng đọan màu đen, áo dài phủ ngòai may hai lần với một lần là lương, the, lần trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ, màu vàng chanh,.. gọi lả áo kép.
Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què tới mắt cá, chất liệu cũng bằng diêm bâu, phin, hoặc lụa truội màu mỡ gà.
Đầu các liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. thời rước đàn ông có nhiều búi to nên phải vấn tóc bằng khăn nhiễu, sau này thường cắt ngắn, rẽ đường ngôi nên chuyển sang dùng khăn xếp. cùng với quần, áo, khăn xếp, dép,… các liền anh thường có thêm nón chóp với dạng chóp lá thường, chóp dứa, có quai lụa màu mỡ gà. Ngòai ra còn có ô đen, các phụ kiện như khăn tay, lược, thắt lưng.
II.1.2 Liền chị:
Trang phục liền chị thường gọi là “áo mớ ba mớ bảy” (mặc ba áo ,hoặc bảy áo lồng vào nhau). Về cơ bản, trang phục gồm trong cùng là yếm có mày rực rỡ làm bằng lục truội nhộm (màu đỏ, vàng thư, xanh da trời, hồng nhạt, xanh biển,trắng,…). Yếm gồm hai lọai: yếm cổ xẻ (trung niên), yếm cổ viền (thanh nữ). bên ngòai yếm là áo cánh màu trắng, vàng, ngà, là những màu nhẹ nhàng. Ngòai cùng là áo măn thân, cách phối màu tương tự bên nam nhưng tươi hơ.
Chất liệu may áo là the, lụa. áo dài ngòai thường màu nâu già, nâu non, màu đen, màu cánh dán trong áo dài thường màu cánh sen, vàng chanh, vàng cốm,…
Bao của các liền chị xưa thường sử dụng chất liệu sồi se, màu đen, có tua bện ở hai đầu bao, khổ rộng, có thể đựng tiền mỏng ở trong bao rồi thắt gọn ngang eo. Thắt lưng là lọai bao nhỏ hơn, thường có màu hoa lựu, hoa đào, hoa hiên tươi.
Liền chị mặc váy sồi, váy lụa, váy kép với váy trong bằng lụa, vải màu, lương, the. Người mặc khe`o là không để váy hớt trước, không để váy quây tròn lấy người, phía trước rủ hình lưỡi trai xuống gần mu bàn chân, phía sau hơi hớt lên chớm tầm gót chân.
Liền chị mang ép cong bằng da trâu thuộc phương pháp thủ công, ngòai ra còn có khăn mỏ quạ, nón quai thao, thắt lưng đeo dây xà tích.
II.1.3 Trang phục giai đọan hiện nay.
Trong đời sống hiện đại thì trang phục quan họ với lọai trang phục nhiều lớp như vậy có vẻ không phù hợp với cuộc sống mới. Tuy nhiên, hiện nay trong những ngày lễ tết khi biểu diễn quan họ thì các diễn viên quan họ với trang phục vẫn giữ nguyên giá trị, đậm sắc thái vùng đất Kinh Bắc, lôi cuốn sự chú ý của người xem, để lại ấn tượng sâu đẹp với nét duyên quan họ.
Đối lập với những điều trên hiện nay cũng có không ít diễn viên đã tùy tiện đưa vào hoặc thêm bớt áo tứ thân, khăn mỏ quạ, chắp nối nhiều màu sắc, cách tân trang phục theo cổ truyền theo sự sáng tạo riêng, làm trang phục trở nên sặc sỡ, lọan màu, phi thẩm mỹ.
II.2 Làn điệu và ngôn từ trong quan họ:
II.2.1 Làn điệu:
Quan họ là thể lọai dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca việt nam. Mỗi một bài quan họ có giai điệu riêng. Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài ( giai điệu) quan họ đã được ký âm (ghi âm bằng ký hiệu âm nhạc trên giấy). Các bài quan họ được giới thiệu mới chỉ là một trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá. Kho băng ghi âm hàng nghìn bàiquan họ cổdo các nghệ nhân ở các làng quan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở văn hóa tỉnh Bắc Ninh.
Các làn điệu quan họ cổ: La rằng, Đường bạn kim loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, La hời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, Gió mát trăng thanh, Tứ quý,..
II.2.2 Ngôn từ:
Dân ca quan họ là lọai hình nghệ thuật phong phú, độc đáo. Giá trị dân ca quan họ không chỉ được thể hiện bằng lời ca, hát hay, phong cách lịch sự, trang nhã mà bằng lề lối, tập tục đặc sắc.
Trong ngôn ngữ giao tiếp, người quan họ thường dùng đại từ: anh Hai (người giỏi nhất trong bọn) và theo sự phân cấp thứ bậc thì có anh ba, anh tư, anh năm rất ít dùng anh sáu. Bên liền chị cũng được gọi như thế. Còn anh Cả và chị Cả để dành cho những người cao tuổi và đáng kính nhất trong bọn.
Về cách xưng hô, quan họ lịch sự, nhún nhường, tự xưng là em, dù đó là nam hay nữ, già hay trẻ. (vd: thưa chị hai, biết thì ca trước lên để anh em chúng em tiếp bước theo). Bên liền anh cũng như bên liền chị đều tôn trọng nhau, cho nên trong quan họ, họ thường gọi nhau là người. (vd: người ơi! Người ở đừng về, người đừng tưởng gió trông mây,…). Chữ “chàng” trong câu quan họ là do mượn trong câu ca dao vào (chăn chiếu ai trải giường này. Đêm qua chàng ngủ đêm nay chàng nằm). Đến chữ mình người ta cũng thấy suồng sã quá, khi hát quan họ đã đổi chữ mình thành chữ tình ( đêm qua ghé nón trông đình. Đình bao nhiêu ngói, thương tình bấy nhiêu).
Trong giao tiếp quan họ, ngòai việc xưng hô ý tứ, tôn trọng nhau, lời ăn ý ở cũng được nghệ nhân răn dạy chu đáo, không gặp gì nói nấy, gặp gì làm nấy. Quan họ muốn mời nhau về hát, ăn cơm cũng ý tứ, nói lễ phép, khiêm tốn. Ngôn ngữ trong quan họ mềm mại, văn hóa, khéo léo, tinh tế và đậm đà tình người. Họ không chấp nhận sự thô kệch, vụng về, coi trọng sự lịch thiệp trong cử chỉ, giao tiếp.





Chương III: Quan họ với các lễ hội và các hình thức sinh họat văn hóa.
III.1 Quan họ với các lễ hội truyền thống.
Lễ hội bao gồn phần lễ và hội. quan họ thường diễn ra cả phần lễ và phần hội. Quan họ phần lễ là để hát những làn điệu cổ, còn quan họ phần hội là để các liền anh liền chị của làng đến hát đối đáp giao lưu, mang đậm văn hóa lễ nghĩa của một vùng quê ngàn năm văn hiến. Phần lễ là thờ thần, phật phù hộ cho mùa màng, nhân dân và vật nuôi. Phần hội diễn ra các trò chơi giải trí như: tuồng, ca trù, quan họ,…
• Quan hệ phần lễ: là phần để hát các những làn điệu cổ có nội dung ca ngợi công đức của thần, phật, cầu may. Theo tục lệ thì chỉ có nam hoặc nữ của làng được hát. Trong hát thờ chỉ được hát giọng cổ như: Hừ la, La rằng, Cây gạo,.. tuyệt đối không được hát giọng vặt nội dung nam nữ yêu đương.
• Quan họ phần hội: là phần quan họ nam và nữ hát đối đáp với nhau nhằm tạo không khí vui vẻ, giải trí. Đấy là phần hấp dẫn nhát bởi các liền anh liền chị bằng những làn điệu ngọt ngào thể hiện tâm trạng yêu đương, nhớ nhung đằm thắm của lứa đôi. Các liền anh, liền chị hát từng tốp, hát đối giao duyên say sưa ở các sân đình, chùa, vạt núi, đồi, ruộng, trên ao hồ. Sau khi tham gia hát hội, quan họ chủ đưa khách về nhà để hát canh quan họ, vào canh bao giờ quan họ chủ nhà cũng mời trầu bằng cử chỉ, lời ca cung kính, tế nhị. Họ hát đôi và theo lề lối, khỏang 10 bài rồi chuyển sang giọng sổng vài câu, tiếp là giọng vặt và cuối cùng là giọng giã bạn.
Hội Lim là hội quan họ lớn nhất vùng Kinh Bắc được tổ chức vào trung tuần tháng Giêng âm lịch. Từ khỏang mùng 10 đến ngày 13, không khí lễ hội rộn rã và du khách cũng trẩy hội đông nhất. Ngòai ra, còn có hội làng Diềm (6/2 âm lịch) - có đền thờ Vua Bà, được coi là thủy tổ quan họ. Làng Diềm là nơi khai sinh ra quan họ. Ngòai ra vùng Kinh Bắc còn nổi tiếng bởi hội hát như: Bịu, Nhồi, Bùi, Bò.
III.2 Các hình thức sinh hoat văn hóa của dân ca quan họ.
Sinh họat văn hóa của các liền anh, liền chị xứ Kinh Bắc có nhiều hình thức tổ chức khác nhau. Canh hát chính thống phải tuân thủ đủ trình tự: lề lối, giọng vặt, giã bạn.
Lề lối là các bài quan họ cổ, thường hát ở nhịp độ chậm, bài bản có nhiều tiếng đệm, lời phụ. Người hát quan họ lề lối phải biết các kĩ thuật như nền, rền, nảy, vang,.. mới có thể thực hiện đúng và tốt kĩ thuật.
• Nền: là đặc điểm của tiếng đệm tạo nên mặt bằng giai điệu, qua đó làm nổi bật lời thơ, âm điệu của lời thơ. Tiếng đệm thường có giai điệu nằm trong quãng 2, 3 thỉnh thỏang có quãng 4,5, ít gặp quãng 6. Đặc điểm nền trong quan họ là nói đến đặc điểm các tiếng đệm như i, ơ, hự, rằng là, tính tình tang,… tạo nên các tiếng đệm, làm nền và kết nối lời thơ. Trong quan họ, tiếng đệm có chức năng đện hơi, đệm nhịp, đệm nghĩa, làm cho giai điệu phát triển.
Tiếng đệm trong quan họ đòi hỏi kĩ thuật tương đối khó. Để hát được nền phải giữ được hơi thở đều, liên tục, khẩu hình vừa phải, vị trí âm thanh ít thay đổi, hóa quyện, ít thay đổi, đứt quãng.
• Rền: là đặc điểm âm thanh trong câu hát có độ rung đều đều, liên tục không dứt. rền là cách hát nhấn nhá, luyến láy và rung giọng, giai điệu phát triển liên tục, vì vậy đòi hỏi người hát phải đạt trình độ tinh tế. Hát rền cần phải giữ tư thế, cổ họng thật thỏai mái, tự nhiên, khẩu hình mở vừa phải, đặt âm thanh ở hàm trên, hàm dưới rơi tự do, lấy hơi vừa đủ. Âm thanh phát ra vừa phải có độ vang, vừa có độ rung của giọng, không bị đứt quãng.
• Nảy: là đặc điểm âm thanh bị tắc ở cổ họng, sau đó được bật ra ngòai tạo thành độ nảy của âm thanh. Nảy thường rơi vào những âm ở họng hoặc tắc họng như ư, hự, í ợ, ạ. Có 2 kiểu:
+ Kiểu 1: sau khi tắc lại ở họng, âm bật ra, tiếp tục kéo dài và có độ rung giọng như trường hợp âm ơ, hự, ạ trong câu bỉ của bài gọi đò.
+ Kiểu 2:sau khi tắc giọng, âm bật ra và dừng lại đột ngộtnhư trong câu la hự, ối hự của bài tìm người, hoặc câu mía í ơ trong bài cái ả,..
Nảy là một kiểu sáng tạo nghệ thuật của dòng âm nhạc dân gian tuy nhiên mỗi thể lọai có cách nảy khác nhau. Những âm nẩy tưởng đối phong phú, thường rơi vào âm đệm như ư, hự, í ơ, ạ,… và một số trường hợp những từ thuộc phần lời thơ của bài hát.
• Vang: là đặc điểm âm thanh truyền đi mạnh và lan tỏa rộng ra xung quanh, là kết quả cộng hưởng của miệng hát để khuyếch đại âm thanh. Những yếu tố hỗ trợ vang trong hát quan họ gồm: giai điệu bài hát, sử dụng nhiều âm thêu, luyến, nốt hoa mỹ, âm đệm mở như ơ, í ơ, í a,.. với độ ngân dài.
Vang có chức năng làm cho tuyến giai điệu của bài hát phát triển ở nhiều cung bậc trầm bổng khác nhau, làm cho tác phẩm nghệ thuật thật sự sống động. Vang trong hát quan họ là nhờ tuyến giai điệu phát triển liên tục, kết hợp luyến láy và ngân những âm đệm mở. Để hát vang cần hát chậm hơi thở đầy, khẩu hình mở, vòm họng chống lên cao, phát âm phải rõ ràng và có độ sáng.
Quan họ cũng tuân thủ theo luật lệ: đối đáp nam nữ, đối giọng, đối lời và hát đôi nam đối với nữ.
Giọng vặt với số lượng bài bản phong phú, nội dung văn học cũng như ngôn ngữ âm nhạc có sức hấp dẫn nhiều đối tượng thưởng thức âm nhạc trong và ngòai nước. Chính những hình thức sinh họat quan họ này đã góp phần lưu truyền, bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc. Hát quan họ còn có nhiều hình thức khác nhau như lối hát trùm đầu ở làng viêm xá, hát hiếu ở lũng giang,… hầu như mỗi làng đều có những thêm bớt đặc thù của từng địa phương nhưng tưu chung thì vẫn cùng mục đích vui chơi hội hè đình đám trong những ngày nông nhàn và cầu mong phúc lợi cho một cuộc sống thanh bình thịnh vượng.
Chương IV: Quan họ trong đời sống hiện nay và việc bảo tồn, phát triển.
IV.1 Quan họ trong đời sống hiện nay.
Quan họ trong đời sống hiện nay có nhiều thay đổi. ngày nay, không còn nhiều nghệ nhân có thể trình diễn quan họ cổ, nguyên bản, quan họ đã và đang phát triển theo hướng hiện đại. trên thực tế hiện nay thì người dân việt biết đến về quan họ “hiện đại” nhiều hơn là quan họ cổ. đoàn quan họ bắc ninh trong gần 40 năm hoat động đã góp phần quan trọng trong việc nghiên cưu, khai thác, quảng bá dân ca quan họ và văn hóa quan họ với đồng bào trong nước và bạn bè quốc tế. trong các hội làng cũng như trong các dịp kỉ niệm lớn của đấtnước, của địa phương hoặc của từng ngành, từng cơ quan đã không thể thiếu chương trình diễn xướng quan họ. thậm chí quan họ cũng đã có mặt trong những cuộc vui chơi như chúc thọ, tân gia, cưới hỏi… điều đó không thể phủ nhận giá trị quan họ trong đời sống hiện đại.
Quan họ cũng đã có sự quan tâm đặc biệt của đoàn ngoại giao của các nước, họ đã có cái nhìn và cảm thực tế, quan họ đã để lại ấn tượng tốt đẹp đối với 45 đoàn ngoại giao vào ngày 5/5 vừa qua. Các đoàn đại biểu đã được giới thiệu làn điệu quan họ cổ không nhạc đệm, tìm hiểu văn hóa người quan họ, ẩm thực, trang phục, ca từ tình tứ của quan họ. đây là việc giao lưu văn hóa thiết thực và có ý nghĩa trong việc truyền bá và giới thiệu hình ảnh quan họ việt nam. Đó cũng chính là động lực để quan họ ngày càng phát triển và sẽ được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Bên cạnh đó, một thực tế là không gian văn hóa quan họ bắc ninh đang bị rạn nứt do chịu những tác động tiêu cực của cuộc sống hiện đại. những bài quan họ cổ xuất hiện ít hơn, trình dẫn quan họ theo lề lối cổ cũng dần mất đi, hầu như không có sự sang tạo, ứng tác trong cuộc thi, kể cả các cuộc thi tổ chức hàng năm.
IV.2 Việc bảo tồn và phát triển dân ca quan họ.
Trong bối cảnh thực tế như trên, việc bảo tồn và phát triển dân ca quan họ cần có một hướng đi đúng đắn và cần thiết. có hướng đi phù hợp với đặc thù của văn hóa quan họ, bảo tồn, khôi phục quan họ cổ và phát triển các giá trị cổ sao cho thích nghi với đời sống hiện đại. mô hình bảo tồn tốt nhất mà UNESCO đề xướng là bảo tồn trong chính môi trường diễn xướng của loại hình nghệ thuật dân gian đó. Chính cộng đồng đó phải có ý thức, giữ gìn nó, phát huy rộng rãi giá trị của nó. Không nên đưa quan họ vào trong các nhà hang, khách sạn, hoặc phục vụ khách vừa ăn uống vừa xem quan họ. đó là những hình thức dung tục văn hóa, không phù hợp với không gian văn hóa quan họ.
Tỉnh Bắc Ninh cần tập trung khôi phục một số lễ hội truyền thồng mang đúng bản sắc văn hóa của lễ hội như: hội Lim, hội làng Diềm,…, khôi phục những nét sinh hoạt văn hóa của các làng gốc, các nghi thức, lề lối chơi quan họ,…, thành lập ban chuyên nghiên cứu, sưu tầm văn hóa quan họ bao gồm các tư liệu: phim, tranh ảnh, lời ca, băng hình,…
Trong những năm gần đây, ngành Văn Hóa – Thể Thao – Du Lịch Bắc Ninh đã tăng cường quảng bá hình ảnh,các giá trị độc đáo của quan họ như: tổ chúc các hội thi hát, dạy hát cho trẻ em, thi sang tác quan họ, thi trình diễn trang phục, giới thiệu quan họ trên các phương diện truyền thông đại chúng,… nhằm giới thiệu và có những hoạt động thiết thực trong việc bảo tồn và phát triển quan họ.




C. Phần tổng luận:
Dân ca quan họ là một loại hình dân ca nổi tiếng của người Việt, là niềm tự hào của người dân vùng Kinh Bắc, dân ca quan họ là một nghệ thuật được hợp thành bởi nhiều yếu tố như: âm nhạc, lời ca, phục trang, lễ hội,… dân ca phản ánh cuộc sống muôn màu và là nét vă hóa tiêu biểu của người dân vùng này. Những khúc ca như:người ơi người ở đừng về, giã bạn, mời trầu,… càng hát, càng nghe lại càng thấy ngấm cái nghệ thuật diễn tả cảm xúc của cha ông ta ngày xưa
Tài liệu tham khảo:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_h%E1%BB%8D
http://vietnamcayda.com/diendan/showthread.php?t=9455
http://vietbao.vn/Van-hoa/Nguoi-cach-ta ... 10754/181/
http://chocho244.multiply.com/journal/item/70
http://suckhoedoisong.vn/20081027165557 ... n-loai.htm
http://svkinhbac.net/forumdislay.php?f=45
http://www.cinet.gov.vn/?ctl=usc_NewsVe ... wsid-41440
http://www.danangpt.vn.vn
http://vanhoahoc.com/site/index.php?opt ... Itermid=77
Hình đại diện của thành viên
lucky89
 
Bài viết: 6
Ngày tham gia: Thứ 6 21/03/08 20:15
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến5 khách

cron