Kiến trúc đô thị Hội An dưới góc nhìn văn hóa

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Kiến trúc đô thị Hội An dưới góc nhìn văn hóa

Gửi bàigửi bởi nhohien » Thứ 4 27/05/09 13:49

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Hội An là một không gian văn hóa đặc biệt – nơi hội tụ văn hóa Đông Tây từ ngàn năm trước. Đặc biệt trong thời kỳ đô thị thương cảng phát triển thịnh đạt ( thế kỷ XVI- XIX ).Hội An là nơi tiếp nhận một cách cởi mở các nền văn hóa trong nước và quốc tế . Lịch sử ấy đã được phản ánh trong toàn bộ các di sản văn hóa ở Hội An.Cũng chính vì thế mà Phố cổ Hội An được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ năm 1999.
Ai trong số chúng ta cũng đã từng nghe hay may mắn được đến thăm phố hội đều biết nơi đây là một khu phố với những ngôi nhà cổ.Thế nhưng ít có ai lại hiểu biết nhiều về kiến trúc đặc thù nơi đây.Đến với phố cổ ta sẽ bắt gặp những ngôi nhà mái ngói cổ kính,mảng tường rêu phong rủ cành hoa giấy cùng những chiếc lồng đèn lung linh giữa phố đêm Hội An .Có thể nói Hội An mang vẻ cổ kính rất riêng biệt với nhiều làng quê khác của Việt Nam.
Tuy nhiên , do nhiều nguyên nhân ( chủ quan cũng có và khách quan cũng có ),nhiều kiến trúc phố cổ đã bị xuống cấp, mai một đi rất nhiều . Mặt khác do chịu sự tác động từ nhiều mặt của quá trình đô thị hóa và điều kiện tự nhiên mà nhiều công trình kiến trúc ở Hội An hiện nay đang đứng trước nguy cơ bị suy thoái , biến dạng . Vì vậy , đề tài nghiên cứu “ Kiến trúc đô thị Hội An dưới góc nhìn văn hóa “ là mang tính cấp thiết , bởi mục tiêu mà đề tài đặt ra quan tâm trực tiếp đến việc giữ gìn , bảo vệ và phát triển những giá trị văn hóa ở Hội An.
2 . Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu kiến trúc đô thị Hội An dưới góc nhìn văn hóa chính là tìm hiểu về những điều kiện tự nhiên xã hội và quá trình hình thành cảng thị Hội An cũng như phong cách kiến trúc đô thị Hội An.Thông qua đặc điểm kiến trúc của phố cổ mà ta có thể biết được lịch sử hình thành và phát triển đời sống văn hóa tinh thần của người dân phố hội xưa và nay.Về những nét kiến trúc được xem là bản sắc văn hóa của dân tộc,đồng thời cũng thấy được sự giao thoa văn hóa giữa nền văn hóa bản địa với các nền văn hóa trong khu vực .
Với việc tìm hiểu kiến trúc đô thị Hội An giúp ta hiểu thêm về lịch sử văn hóa dân tộc,làm giàu thêm niềm tựu hào dân tộc trên những thành tựu văn hóa.Qua đó chúng ta càng thấy sự cần thiết phải gìn giữ,bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc.
3 . Lịch sử vấn đề :
Hội An là di sản văn hóa thế giới đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như cuốn “ Văn hóa phi vật thể ở Hội An “ của Bùi Quang Thắng ( chủ biên ) ,” Địa lý du lịch “ của PGS.Nguyễn Minh Tuệ , PGS.PTS Vũ Tuấn Cảnh , PTS.Lê Thông , PTS.Phạm Xuân Hậu – PTS.Nguyễn Kim Hồng.Ngoài ra còn có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu khác.
4 . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là kiến trúc đô thị Hội An dưới góc nhìn văn hóa.Phạm vi giới hạn với chủ thể văn hóa là người dân phố cổ , không gian văn hóa là thị xã Hội An và trong thời gian ở hiện tại.
5 . Ý nghĩa của đề tài:
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề lý luận và thực tiễn về kiến trúc và văn hóa đô thị ở các trường đại học và cao đẳng , các cơ quan nghiên cứu và hoạch định chủ trương , biện pháp đối với vấn đề đô thị ( giữ gìn và phát huy nét văn hóa truyền thống )
6 . Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu:
Đề tài tiếp cận từ góc độ văn hóa học , tức là nghiên cứu đối tượng từ nhiều giác độ khác nhau và bằng nhiều phương pháp khác nhau:
- Tiếp cận , tìm kiếm thông tin từ sách , báo , internet…
- Thống kê về mặt số lượng những công trình kiến trúc: kiến trúc nhà cổ, kiến trúc chùa , đình làng , giếng nước , lăng miếu , hội quán…
- Trên cơ sở các số liệu thống kê , kết hợp với những tiêu chí định tính.
7 . Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu , kết luận và tài liệu tham khảo , đề tài gồm hai chương :
- Chương I : Những điều kiện tự nhiên xã hội và quá trình hình thành cảng thị Hội An
o - I.1 Vị trí địa lý
o - I.2 Qúa trình hình thành đô thị Hội An
- Chương II : Phong cách kiến trúc đô thị Hội An dưới góc nhìn văn hóa
o - II .1 Kiến trúc chùa
o - II .2 Kiến trúc nhà cổ
o - II .3 Kiến trúc Hội Quán
o - II .4 Kiến trúc nhà thờ
o - II .5 Kiến trúc đình
CHƯƠNG I : NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CẢNG THỊ HỘI AN
I.1 Vị trí địa lý:
Hội An trở thành thành phố vào năm 2008 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Hội An, với 6.146,88 ha, 121.716 nhân khẩu.Khi thành lập thành phố, Hội An có 13 đơn vị hành chính, gồm 9 phường: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Nam, Cẩm Phô, Thanh Hà, Tân An, Cẩm Châu, Cẩm An, Cửa Đại; 4 xã là Cẩm Hà, Cẩm Thanh, Cẩm Kim và xã đảo Tân Hiệp.Địa giới hành chính của thành phố Hội An: phía Đông giáp biển Đông, tây giáp huyện Điện Bàn và huyện Duy Xuyên, nam giáp huyện Duy Xuyên, bắc giáp huyện Điện Bàn.
I.2 Qúa trình hình thành đô thị Hội An:
Trước thế kỷ thứ II
Theo kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I,II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú : Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiêm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hóa Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh.
Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng... bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thuỷ tinh. Đặc biệt còn có cả những tiền đồng Trung Quốc,Vương Mãng cùng với các đồ trang sức mã não, thủy tinh có gốc gác từ Nam Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Đông, chứng tỏ cách đây 2000 năm, dân cư ở đây đã có nghề trồng lúa nước, khai thác thủy sản và làm các nghề thủ công. Đồng thời cũng thể hiện rõ mối quan hệ giao lưu văn hóa trong nước cùng các hoạt động buôn bán với nước ngoài
Thế kỉ thứ II - Thế kỉ XIV
Kế tiếp dân cư Sa Huỳnh cổ là dân cư Champa với nền văn hoá rực rỡ, mở đầu thời kì vàng son cho một Cảng-Thị hưng thịnh. Những cái tên Chiêm Bất Lao (Cù Lao Chàm), Đại Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại), Cachiam cùng với những tượng đá, giếng gạch và dấu vết nền tháp, đặc biệt trong các di chỉ khảo cổ học với các hiện vật gốm sứ Champa, Ả Rập, Trung Quốc; các đồ trang sức từ Trung Đông, Ấn Độ và nhiều tài liêu, thư tịch cổ Trung Quốc, Ả Rập, Ấn Độ, Ba Tư xác nhận vùng Cửa Đại xưa kia là hải cảng chính của nước Champa. Vùng Lâm Ấp phố là nơi các chiến thuyền ngoại quốc thường ghé lấy nước ngọt từ những giếng Champa rất ngon và trong; trao đổi sản vật như trầm hương, quế, ngọc ngà, thuỷ tinh, tơ lụa, đồi mồi, xà cừ.
Thế kỉ XIV - Thế kỉXIX
Tiếp nối thời Champa, khoảng cuối thế kỉ XV, Hội An đã có dân cư Đại Việt tới sinh sống. Trong buổi đầu cùng với việc khai hoang, lập làng, người Việt còn sáng tạo ra một số ngành nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội nơi đây. Từ cuối thế kỉ XVI - thế kỉ XVII, có thêm nhiều người Hoa và người Nhật đến định cư, giúp thương nghiệp Hội An phát triển. Kết hợp với vị trí địa lý phù hợp, Hội An nhanh chóng trở thành một thương cảng phồn thịnh trong nhiều thế kỉ.
Đến giữa thế kỉ 19, nền kinh tế Hội An nhanh chóng suy thoái do nhiều nguyên nhân bất lợi: sự bồi cạn, sông chuyển dòng, chính sách kinh tế hạn chế của triều đình phong kiến. Ngay gần đó, thương cảng Đà Nẵng hiện đại do người Pháp lập nên đã lấn át hết vai trò của Hội An.
1858 đến nay
Trong suốt 117 năm kháng chiến, nhân dân Hội An đã kiên cường chiến đấu cho độc lập và thống nhất của Việt Nam; tiêu biểu là phong trào Nghĩa Hội của Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo. Sau đó, có nhiều cuộc nổi dậy,như phong trào Duy Tân, phong trào chống thuế, Đông Du.
Ngày 22 tháng 8 năm 1998 Hội An được nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".
Ngày 4 tháng 12 năm 1999 taị kì họp thứ 23 tổ chức tại Marrakesh, (Maroc), Ủy ban Di Sản thế giới của UNESCO đã công nhận Hội An là di sản văn hóa thế giới.
CHƯƠNG II : PHONG CÁCH KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ HỘI AN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA
Với mật độ di tích dày đặc (844 di tích trên hai km vuông), với 529 ngôi nhà phố và nhà rường, 23 ngôi chùa Phật, 11 ngôi đình làng, 24 giếng nước của Chăm, Hoa, Việt, 30 lăng miếu, 5 hội quán, Hội An đã quy tụ được rất nhiều giá trị về văn hoá. Vẻ đẹp không trùng lặp, chứa đựng trong các phố phường lịch sử, sự phong phú của các thể dạng kiến trúc, sự hoàn hảo của nghệ thuật chạm khắc trong nội thất các di tích kiến trúc tạo nên cho phố cổ Hội An những đặc điểm nổi bật trong một không gian riêng biệt. Những đặc điểm này đưa quần thể di tích phố cổ lên vị trí hàng đầu trong danh mục các di tích văn hoá của Việt Nam và cả trong kho tàng văn hoá nhân loại.
Kiến trúc là một ngành nghệ thuật và khoa học về sắp xếp không gian, thiết kế các công trình kiến trúc. Từ những vật liệu sẵn có và những tri thức kinh nghiệm chắt lọc được, mỗi một nền văn hóa tạo ra cho mình một phong cách kiến trúc riêng ở mỗi một thời kỳ lịch sử.
II .1 Kiến trúc chùa:
Ngôi chùa gắn chặt với cộng đồng dân cư thành một phần hữu cơ , tổng thể của thiết chế văn hóa tín ngưỡng dân gian làng – xã . Và như vậy hầu như mỗi làng đều có một ngôi chùa , ở đây không có sự xuất gia mà cư sĩ tại gia trông coi hương khói và nghi lễ cầu , cúng . Sự phối tự thờ cúng ở đây cũng khá phong phú: thờ Phật có Tam Thế Phật , Quan Thế Âm Bồ Tát , Văn Thù Bồ Tát , Bồ Đề Đạt Ma , …thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế hai bên có Nam Tào , Bắc Đẩu , Thập Điện Diêm Vương . Thờ thánh có Quan Thánh Đế Quân hai bên có Châu Thương và Quan Bình , thờ Thánh Thiên Yana với hai vị công tử Hiển Tài và Hiển Qúy . Bên ngoài có cổ Kim Cang , Hộ pháp và Tiêu Diện đại sĩ … Vào những ngày lễ quan trọng tại đình , từ đường của làng thì đều phải có bái Phật , Thánh tại chùa làng.
Một số ngôi chùa ở Hội An
Chùa cầu
Biểu tượng của đô thị cổ Hội An
Chùa Cầu, còn có tên gọi là Lai Viễn Kiều được xem như là một trong những biểu tượng của phố cổ Hội An. Chùa Cầu bắt qua con lạch chảy ra sông Thu Bồn, được các thương nhân Nhật Bản xây dựng từ những ngày đầu vào khoảng thế kỷ XVI, XVII,đây không chỉ là một cây cầu hay một ngôi chùa, nó còn là nơi hội họp của xóm làng ngày trước, với ước mơ về một cuộc sống giao hòa tương thân,tương ái của cộng đồng.
Chiếc cầu dài khoảng 18 m, có mái che, vắt cong qua lạch nước chảy ra sông Thu Bồn. Chùa Cầu là một trong những di tích có kiến trúc khá đặc biệt. Mái chùa lợp ngói âm dương che kín cả cây cầu. Trên cửa chính của Chùa Cầu có một tấm biển lớn chạm nổi 3 chữ Hán là Lai Viễn Kiều. Chùa và cầu đều bằng gỗ sơn son chạm trổ rất công phu, mặt chùa quay về phía bờ sông. Hai đầu cầu có tượng thú bằng gỗ đứng chầu, một đầu là tượng chó, một đầu là tượng khỉ, (có lẽ được xuất phát từ nghĩa cây cầu xây từ năm thân, xong năm tuất). Tương truyền đó là những con vật mà người Nhật sùng bái thờ tự từ cổ xưa. Tuy gọi là chùa nhưng bên trong không có tượng Phật. Phần gian chính giữa (gọi là chùa) thờ một tượng gỗ Bắc Đế Trấn Võ - vị thần bảo hộ xứ sở, ban niềm vui hạnh phúc cho con người, thể hiện khát vọng thiêng liêng mà con người muốn gửi gắm cùng trời đất nhằm cầu mong mọi điều tốt đẹp.
Sau nhiều lần trùng tu, các yếu tố kiến trúc Nhật Bản đã dần mất đi, thay vào đó là kiến trúc mang đậm phong cách Việt Nam và Trung Quốc.Chùa Cầu là tài sản vô giá và đã được chính thức chọn làm biểu tượng của đô thị cổ Hội An. Hình Chùa Cầu được in trên tờ giấy bạc
Chùa Ông
Chùa Ông được xây dựng năm 1653, đã qua 6 lần trùng tu vào các năm: 1753, 1783, 1827, 1864, 1904, 1906. Chùa Ông có kiến trúc uy nghi, hoành tráng, tại đây thờ tượng Quan Vân Trường (một biểu tượng về trung - tín - tiết - nghĩa) nên còn có tên gọi là Quan Công Miếu. Chùa Ông đã từng là trung tâm tín ngưỡng của Quảng Nam xưa, đồng thời cũng là nơi các thương nhân thường lưu đến để cam kết trong việc vay nợ, buôn bán, làm ăn và xin xăm cầu may.
Ngoài ra còn có Quan âm Phật tự Minh Hương.Đây là ngôi chùa thờ Phật duy nhất còn lại giữa khu phố cổ, có kiến trúc và cảnh quan xinh đẹp đồng thời còn lưu giữ gần như nguyên vẹn các tác phẩm điêu khắc gỗ đặc sản do các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng thực hiện. Chùa thờ Quan Thế Âm Bồ Tát và một số chư vị Phật, Bồ Tát khác, vì vậy trong những ngày lễ, ngày rằm thường có rất nhiều người đến.
II .2 Kiến trúc nhà cổ:
Nhà cổ Hội An là sự hoà trộn khá hài hoà giữa kiến trúc Việt - Hoa - Nhật, nhưng nổi bật nhất vẫn là đặc trưng cơ bản của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Ngôi nhà lợp ngói âm dương, không quá thấp như nhà của người Nhật, không quá rộng và phô trương như nhà của người Hoa. Cũng như nhiều nhà cổ Hội An khác, nó có quy mô khiêm tốn, phong cách giản dị phù hợp với khí hậu nhiệt đới đảm bảo mùa đông ấm, mùa hè mát.
Nhà cổ Hội An thường quay ra mặt phố nên ngôi nhà thường là nơi kết hợp giữa nơi cư trú - nơi sản xuất - dịch vụ kinh doanh... Dẫu vậy ngôi nhà lại tiếp thu được những tiện ích trong kiến trúc Hoa - Nhật như có sân trời, có nhà cầu (tức là nhà nối giữa nhà chính và nhà bếp qua sân trời); có gian gác dùng làm phòng ở và phòng đọc sách...
Điều làm ta thích thú ngạc nhiên là các ngôi nhà cổ ở Hội An đều được cấu trúc đa dạng, rất khác nhau về tổ chức không gian cũng như về nghệ thuật điêu khắc, trang trí, nghệ thuật bài trí sân vườn trồng hoa và cây cảnh. Trên đất nước ta có lẽ Hội An là nơi chứa đựng cái hình mẫu đầu tiên của ngôi nhà rường với mái vỏ cua (còn gọi là mái thừa lưu), một biện pháp mở rộng diện tích nội thất rất thông minh, tưởng chỉ thấy ở Phú Xuân (Huế), nhưng chính trong những ngôi nhà cổ ở Hội An lại được sử dụng phổ biến. Ở đây ta có thể thấy được ảnh hưởng qua lại của văn hóa Hội An với văn hóa Phú Xuân xưa, cụ thể là giữa kiến trúc Hội An với kiến trúc cung đình Huế, và thông qua Hội An là ảnh hưởng của kiến trúc Á Đông (Trung Hoa, Nhật Bản) mà nghệ nhân Việt Nam đã tiếp nhận trong những thế kỷ giao lưu văn hóa trước đây.
Nhà cổ Tấn Ký:
Là một trong những ngôi nhà cổ đầu tiên và đẹp nhất của Hội An. Trải qua hơn 200 năm, ngôi nhà vẫn giữ được lối kiến trúc cổ xưa với sự kết hợp hài hòa của ba nền văn hóa Nhật, Trung, Việt. Ngôi nhà nổi tiếng với đôi liễn bách điểu (có khắc bài thơ mà mỗi nét chữ là một con chim đang dang rộng cánh bay) và chén Khổng Tử.
Nhà cổ Quân Thắng
Là một trong những nhà cổ được đánh giá là đẹp nhất Hội An hiện nay. Ngôi nhà có niên đại hơn 150 năm, mang phong cách kiến trúc vùng Hoa Hạ Trung Hoa. Qua năm tháng, ngôi nhà vẫn được bảo tồn khá nguyên trạng về kiểu dáng kiến trúc và các bài trí nội thất, giúp ta hình dung được phần nào lối sống của các thế hệ chủ nhân, những người thuộc tầng lớp thương gia ở thương cảng Hội An trước đây. Được biết, toàn bộ phần kiến trúc và điêu khắc gỗ rất sinh động, tinh tế của ngôi nhà này đều do các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng thực hiện.
Nhà cổ Phùng Hưng
Với tuổi thọ hơn 100 năm, nhà Phùng Hưng có kết cấu độc đáo với phần gác cao bằng gỗ và các hành lang rộng bao quanh, thể hiện sự phát triển về kiến trúc và sự giao lưu giữa các phong cách kiến trúc Á Đông tại Hội An trong các thế kỷ trước đây. Ngôi nhà chứa đựng nhiều thông tin về lối sống của tầng lớp các thương nhân ở thương cảng Hội An xưa. Mặc dù cũng được thực hiện bằng chất liệu quý nhưng nhà Phùng Hưng không chạm trổ, điêu khắc cầu kỳ mà được giữ thô một cách cố ý.
Nhà Phùng Hưng được cấp bằng di tích lịch sử - văn hoá quốc gia vào tháng 6 năm 1993.
II .3 Kiến trúc Hội Quán:
Hội Quán với chức năng trước hết là tôn thờ vị thần linh phù hộ cho cộng đồng mình theo tín ngưỡng của từng Bang , thờ các bậc tiền hiền , hậu hiền sáng lập bang , phát triển bang ở trên quê hương hay vùng đất mới . Và đây là một điểm sinh hoạt của bà con trong cộng đồng Bang nhằm động viên , giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống , nhất là lúc ban đầu mới nhập cư tại Hội An . Cụ thể có các Hội Quán sau : Hội quán Phúc Kiến ,Hội Quán Triều Châu,Hội Quán Quảng Đông,Hội Quán Ngũ Bang , Hội Quán Hải Nam ,…
Hội Quán Hội quán Phúc Kiến
Tương truyền, tiền thân của Hội quán là một gian miếu nhỏ thờ pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu (bà chúa phù hộ cho thương nhân vượt sóng gió đại dương) vớt được tại bờ biển Hội An vào năm 1697. Qua nhiều lần trùng tu, với sự đóng góp chủ yếu của Hoa kiều bang Phúc Kiến, hội quán càng trở nên rực rỡ, khang trang góp phần tô điểm diện mạo kiến trúc đô thị cổ Hội An. Thông qua cách bài trí thờ phụng các hình nhân: 6 vị tiền hiền (lục tánh), bà mụ, thần tài ... hội quán thể hiện sâu sắc triết lý Á Đông về hạnh phúc con người. Hàng năm, vào các ngày Nguyên Tiêu (15 tháng Giêng âm lịch), Vía Lục Tánh (16 tháng 2 âm lịch), vía Thiên Hậu (23 tháng 3 âm lịch) ... tại hội quán Phúc Kiến diễn ra nhiều hoạt động lễ hội thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham gia.Hội quán Phúc Kiến đã được cấp bằng di tích lịch sử - văn hoá quốc gia ngày 17 tháng 2 năm 1990.
Hội quán Triều Châu
Được Hoa kiều bang Triều Châu xây dựng năm 1845, hội quán thờ Phục Ba tướng quân Mã Viện một vị thần chế ngự sóng gió giúp cho việc buôn bán trên biển được thuận lợi. Hội quán có kết cấu kiến trúc đặc biệt với bộ khung gỗ trạm gỗ chạm trổ tinh xảo, cùng những họa tiết, hương án trang trí bằng gỗ và những tác phẩm đắp nổi bằng sành sứ tuyệt đẹp.
Hội quán Quảng Đông
Hội quán được Hoa kiều bang Quảng Đông xây dựng vào năm 1885, thoạt đầu để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và đức Khổng Tử, sau năm 1911 chuyển sang thờ Quan Công và Tiền Hiền của bang.
Với nghệ thuật sử dụng hài hoà các chất liệu gỗ, đá trong kết cấu chịu lực và hoạ tiết trang trí đã đem lại cho hội quán vẻ đẹp đường bệ, riêng có. Hàng năm, vào ngày Nguyên Tiêu (15 tháng Giêng Âm lịch), vía Quan Công (24 tháng 6 Âm lịch) tại đây diễn ra lễ hội rất linh đình, thu hút nhiều người tham gia.
Hội Quán Ngũ Bang
Còn gọi là Dương Thương Hội Quán . Đây là Hội Quán chung cho cả năm Bang người Hoa Kiều ở Hội An – Tức là một điểm sinh hoạt và tín ngưỡng chung cho tất cả kiều cư người Hoa ở Hội An . Hội Quán thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu cùng hai vị thần “ Thiên Lý Nhãn ”,”Thuận Phong Nhĩ” và thờ các bậc tiền nhân của cả năm Bang người Hoa tại Hội An.
Hội Quán Hải Nam
Hội Quán được xây dựng bởi người Hải Nam , và Bang người Gia Ứng , do dân cư quá ít đồng thời Bang này có quan hệ gần gũi với người Hải Nam nên cũng sinh hoạt tín ngưỡng chung ở đây và thờ Chiêu Ứng Công – gồm 108 vị người Hải Nam theo truyền thuyết bị chết oan trên biển vào thời Tự Đức , sau được minh oan cho lập miếu thờ , và cũng được xem như là bậc tiền hiền của cả hai Bang này.
II .4 Kiến trúc nhà thờ:
Tiêu biểu có nhà thờ tộc Trần
Do một vị quan họ Trần (một dòng họ lớn từ Trung Hoa di cư đến Hội An vào những năm 1700) xây dựng năm 1802 theo những nguyên tắc phong thuỷ truyền thống của người Trung Hoa và người Việt. Toạ lạc trên một khu đất rộng khoảng 1500 m², có nhiều hạng mục: nhà thờ tự ông bà và trưng bày các di vật liên quan đến dòng họ, nhà ở ... Đây là nơi tụ họp con cháu vào dịp lễ bái, tri ân tổ tiên và giải quyết những vấn đề trong dòng tộc.Nhà thờ tộc Trần là một trong những điểm tham quan được nhiều du khách quan tâm
II .5 Kiến trúc đình:
Ngoài chức năng chung của một ngôi đình ở Việt Nam là điểm sinh hoạt cộng đồng , nơi giải quyết mọi việc trong làng , nơi các bô lão , chức sắc và dân đình hội họp , bàn việc công.Có thể nói đình còn là một thiết chế đóng vai trò quan trọng bậc nhất đối với tín ngưỡng dân gian trong cộng đồng cư dân làng xã ở Hội An . Các vị thần được thờ ở đình là thổ thần , thủy thần . Các vị thổ thần , thủy thần này đều được nhà nước phong kiến sắc phong co thờ tự , xếp hạng từ hạ đẳng thần trung dẳng đến thượng đẳng thần . Vào cuối thế kỷ XIX , đầu thế kỷ XX , khi dân cư phát triển đông , một làng có thể tách ra thành hai đến ba làng khác thì mỗi làng đều được xây dựng một ngôi đình riêng . Đặc biệt dưới làng , các ấp cũng xây dựng ngôi đình riêng – gọi là đình ấp.
KẾT LUẬN:
Nếu như Huế với di sản kiến trúc cung điện, lăng tẩm là tiêu biểu cho tài nghệ sáng tạo của văn hóa bác học, cung đình, cổ điển thì Hội An chính là một trong những cái nôi của văn hóa dân dã, nền tảng của tính cách dân tộc và bản sắc nhân dân. Đô thị cổ Hội An xứng đáng được hồi sinh để tiếp đón tất cả những ai muốn tìm về cái hài hòa lắng đọng của tâm hồn Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. http://www.hoianonlinetravel.com
2. Theo vnexpress.net
3. http://vietbao.vn/Van-hoa/Dien-mao-nguo ... 7016/181/4
4. http://www.simplevietnam.com/article/view/id/3805.
5. http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/Kien- ... oi-An.html
6.http://vi.wikipedia.org/wiki/Ki%E1%BA%BFn_tr%C3%BAc
7. PTS. Nguyễn Minh Tuệ , PGS.PTS Vũ Tuấn Cảnh , PTS.Lê Thông , PTS.Phạm Xuân Hậu – PTS.Nguyễn Kim Hồng.Địa lý du lịch – NXB TP.HCM,1996
8. Bùi Quang Thắng ( chủ biên ). Văn hóa phi vật thể ở Hội An – NXB Thế giới 46 Trần Hưng Đạo , Hà Nội , 2005
RANDOM_AVATAR
nhohien
 
Bài viết: 2
Ngày tham gia: Thứ 6 13/02/09 13:38
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến6 khách

cron