Đề tài: Thương mại điện tử trong kinh doanh du lịch ở Đà Lạt hiện nay dưới góc nhìn văn hóa học.
Bài tập 1
1. Xác định (các) cặp phạm trù đối lập (các mâu thuẫn) trong đề tài nghiên cứu
Thương mại điện tử (TMĐT) là một hình thức thương mại mới, đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế hiện nay. Việc triển khai ứng dụng hoạt động TMĐT trong lĩnh vực kinh doanh du lịch (KDDL) tại Việt Nam hiện nay nói chung đang tồn tại nhiều vấn đề về kết quả thu được (thiên về tính kém hiệu quả, chưa phát huy được hết thế mạnh của TMĐT), đề tài giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu là “TMĐT trong kinh doanh du lịch ở Đà Lạt hiện nay từ góc nhìn văn hóa học” để phần nào làm rõ hơn vấn đề trên.
Qua việc tìm hiểu sơ bộ, mang tính khái lược, có thể thấy rằng một trong nhiều nguyên nhân của tính kém hiệu quả trong hoạt động này là do nó tồn tại một số mâu thuẫn thuộc về tính cách văn hóa truyền thống của người Việt Nam thuộc loại hình văn hóa trọng tĩnh - đặt trong mối tương quan với tính cách văn hóa của phương Tây (nơi TMĐT đã được triển khai và đem lại nhiều lợi thế cho công việc kinh doanh) thuộc loại hình văn hóa trọng động. Xác định mâu thuẫn thuộc về tính cách văn hóa truyền thống của người Việt Nam do trong hoạt động kinh doanh của người Việt Nam thì tính cách văn hóa truyền thống giữ vai trò tác động, chi phối không nhỏ. Có thể liệt kê một vài mâu thuẫn như sau:
(a) Âm tính >< dương tính => ổn định >< đổi mới; bền vững >< phát triển.
(b) Tính tổng hợp >< tính phân tích => khái quát, hệ thống kiến thức nhiều lĩnh vực (CNTT, TMĐT, kinh doanh du lịch, kinh tế thị trường,…) >< chuyên môn hóa sâu (hoặc về CNTT, hoặc về TMĐT, hoặc về KDDL…).
(c) Tính cộng đồng >< tính cá nhân => DNDL triển khai TMĐT theo trào lưu chung >< theo quyết đoán của cá nhân DNDL.
(d) Tính linh hoạt >< tính nguyên tắc => DNDL tùy tiện ứng dụng TMĐT >< cứng nhắc trong ứng dụng
2. Vận dụng phương pháp dịch lý để nghiên cứu (từng) cặp đối lập đó.
(a) Âm tính >< dương tính
* Kiểm tra tính tương hiện
- Ứng xử trong hoạt động KDDL nói chung và trong hình thức TMĐT nói riêng đều tồn tại hai mặt: âm tính và dương tính.
- Trong âm có dương và ngược lại, trong dương có âm: trong sự đổi mới, phát triển (dương) chứa đựng sự bền vững, ổn định (âm); và ngược lại trong sự bền vững, ổn định (âm) chứa đựng yếu tố đổi mới, phát triển (dương).
* Kiểm tra tính tương hóa
- Hoạt động TMĐT là sự đổi mới (dương tính) trong KDDL, góp phần hướng tới sự phát triển bền vững (âm tính) của hoạt động du lịch.
- Âm dương chuyển hóa cho nhau, ổn định (âm) -> phát triển (dương), phát triển (dương) -> bền vững, ổn định (âm). Hoạt động KDDL tồn tại ổn định (âm) theo theo thời gian sẽ nảy sinh nhu cầu đổi mới, phát triển (dương) để thích ứng với nhu cầu của thị trường; và ngược lại sự đổi mới, phát triển (dương) theo thời gian sẽ nảy sinh nhu cầu bền vững (âm) của doanh nghiệp.
*Kiểm tra tính hướng hòa
- Vì vậy, âm dương nên hòa hợp với nhau. DNDL không nên bảo thủ giữ lối kinh doanh truyền thống; mà phải thay đổi, tiếp cận những hình thức kinh mới mới như TMĐT để thích ứng kịp thời với sự thay đổi của thị trường, nhu cầu của khách hàng cũng như của đối tác kinh doanh.
- Tuy nhiên sự thay đổi phải từ từ, cần tránh nóng vội. Đổi mới phải dựa trên nền tảng nhận thức đầy đủ về bản chất, vai trò và tầm quan trọng của việc áp dụng mô hình thương mại điện tử trong kinh doanh du lịch.
(b) Tính tổng hợp >< tính phân tích
* Kiểm tra tính tương hiện
- KDDL (vốn là một ngành kinh doanh mang tính tổng hợp cao). Kiến thức từ nhiều ngành (kinh tế, văn hóa, chính trị…) được hệ thống thành kiến thức của lĩnh vực KDDL.
- Việc triển khai và ứng dụng TMĐT trong KDDL cũng mang tính chất đó. TMĐT hình thành do sự phát triển bùng nổ về CNTT, và nhu cầu kinh doanh xuyên lãnh thổ. TMĐT có thể ứng dụng vào nhiều lĩnh vực kinh doanh (hàng hóa tiêu dùng, tác phẩm văn – nghệ thuật, du lịch…); hay nói cách khác nhiều lĩnh vực kinh doanh nếu muốn tiếp cận được nền kinh tế toàn cầu, bắt kịp xu hướng của người tiêu dùng thì ứng dụng TMĐT là một trong những giải pháp có thể thực hiện.
* Kiểm tra tính tương hóa
- Phát triển KDDL không chỉ đem lại lợi nhuận trong lĩnh vực du lịch mà còn đem lại lợi nhuận cho nhiều lĩnh vực khác (kinh tế, giao lưu văn hóa, sự phát triển của xã hội…). Sự phát triển của những lĩnh vực kể trên cũng tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động du lịch.
- Việc triển khai ứng dụng TMĐT trong KDDL cũng sẽ đem lại lợi nhuận cho nhiều lĩnh vực khác (CNTT & truyền thông, tài chính ngân hàng, sự phát triển của xã hội…); và ngược lại sự phát triển của những lĩnh vực trên cũng tác động, ảnh hưởng đến việc ứng dụng TMĐT như: việc triển khai có thực hiện được hay không, mang lại kết quả như thế nào…
* Kiểm tra tính hướng hòa
- Vì vậy việc ứng dụng TMĐT trong KDDL phải mang tính chuyên môn hóa sâu, hiểu biết về hoạt động TMĐT một cách đầy đủ, tránh cách hiểu nửa vời, đại khái, tránh việc tiến hành triển hành và ứng dụng nó một cách theo trào lưu.
- Đồng thời nếu muốn áp dụng mô hình thương mại điện tử trong lĩnh vực kinh doanh du lịch đạt hiệu quả cao thì cần có sự hiểu biết tổng thể về kinh doanh du lịch, công nghệ thông tin (thương mại điện tử), hội nhập kinh tế, kinh tế thị trường, nhu cầu tiêu dùng mới…
(c) Tính cộng đồng >< tính cá nhân
*Kiểm tra tính tương hiện
- Trong KDDL hiện nay TMĐT đã trở thành một hình thức kinh doanh được nhiều DNDL lựa chọn vì những lợi ích mà nó đem lại. Góp phần tạo được nền tảng cho xu hướng chung ấy là do có không ít DNDL đã mạnh dạn đổi mới tư duy kinh doanh, đi tiên phong trong triển khai ứng dụng TMĐT trong KDDL.
- Và trong sự phát triển của phong trào này, cũng không ít doanh nghiệp có tư duy dựa dẫm, ỷ lại, trông chờ phong trào chung, không tự lực thay đổi.
* Kiểm tra tính tương hóa
- Trong thực tế, một khi có một vài doanh nghiệp đi đầu trong việc ứng TMĐT trong KDDL đạt hiệu quả -> sẽ hình thành một trào lưu chung.
- Để khẳng định mình trong trào lưu chung ấy đòi hỏi sự nỗ lực của chính bản thân doanh nghiệp.
* Kiểm tra tính hướng hòa
- Như vậy để việc ứng dụng TMĐT trong KDDL đạt hiệu quả cao -> DNDL không nên có tư duy ỷ lại, dựa dẫm vào sự đổi mới của người khác, theo phong trào, trông chờ người ta làm mình mới làm; mà phải mạnh dạn thay đổi tư duy, tự lực thay đổi. Đặc biệt là những doanh nghiệp nhà nước không nên trông chờ vào chính sách từ trên xuống trong việc triển khai mà phải năng động, tự bản thân DNDL đưa ra những quyết định thay đổi kịp thời.
- Lối tư duy người VN chịu sự ảnh hưởng của lối tư duy tiểu nông, địa phương cục bộ nên tầm nhìn hạn hẹp. Vì vậy DNDL nên có tầm nhìn xa hơn, nhìn thấy được những lợi ích lâu dài mà TMĐT đem lại.
- Tuy nhiên bản thân DNDL không thể quyết đoán thay đổi mà không xem xét những động thái chung của thị trường, đến thói quen tiêu dùng chung của cộng đồng: việc tìm hiểu thông tin để quyết định đi du lịch, việc thanh toán trong du lịch…
(d)Tính linh hoạt >< tính nguyên tắc
* Kiểm tra tính tương hiện
- Trong việc triển khai TMĐT trong KDDL đòi hỏi nguyên tắc triển khai khoa học, bài bản.
- Tuy nhiên dựa vào thực tế thị trường DNDL đang hướng đến mà phải linh hoạt thay đổi nguyên tắc cho phù hợp với thói quen tiêu dùng của thị trường
* Kiểm tra tính tương hóa
- Phải linh hoạt triển khai TMĐT cho nhiều thị trường khách hàng khác nhau, nhưng có thể phân loại thị trường theo những tiêu chí cụ thể: mức độ chi tiêu, khả năng thu nhập, khả năng tiếp cận CNTT,… để dễ dàng phản ứng phù hợp -> từ đó hình thành những nguyên tắc chung mới.
- Tuy nhiên những nguyên tắc chung này cần có những sự điều chỉnh nhất định để phù hợp hơn với thị trường (vì nhu cầu du lịch của từng thị trường khách hàng rất đa dạng).
* Kiểm tra tính hướng hòa
- Vì vậy, trong ứng dụng TMĐT trong KDDL cần tránh thói tùy tiện, làm việc xuề xòa đại khái -> triển khai ứng dụng mô hình thương mại điện tử theo kiểu “làm cho có” -> thiếu hẳn sự bài bản, tính khoa học trong việc triển khai.
- Tuy nhiên không cứng nhắc trong việc triển khai việc áp dụng mô hình thương mại điện tử trong kinh doanh du lịch, ví dụ:
+ Đối với hoạt động du lịch nội địa: không áp dụng rập khuôn kiểu triển khai mô hình thương mại điện tử kiểu phương Tây -> không phù hợp với thị trường Việt Nam.
+ Đối với hoạt động du lịch quốc tế: bám sát, theo kịp mô hình triển khai hình thức thương mại điện tử trong kinh doanh -> phù hợp với đối tượng khách quốc tế, phù hợp với những đối tác quốc tế.
=> Tóm lại
Cần phải phân tích, giải quyết được tất cả các mâu thuẫn trên thì mới có hiểu được tại sao thực trạng hiệu quả trong việc triển khai ứng dụng TMĐT trong KDDL của DNDL chưa đạt hiệu quả thực sự. Hơn nữa cần có sự phân tích tổng hợp các cặp mâu thuẫn trên vì tùy vào không gian, thời gian và chủ thể (khách hàng) mà DNDL hướng đến để triển khai TMĐT các mâu thuẫn trên luôn đi liền với nhau.







