Bài tập 6: Định nghĩa TIỀN LƯƠNG
1.
Tìm tất cả các định nghĩa hiện có: - K.Mark: tiền lương là giá trị hay giá cả của sức lao động, nhưng biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của lao động.
- Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền lương là giá cả của lao động, được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường lao động.
- Bộ luật lao động, 1994, điều 55: Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
- Tổ chức lao động quốc tế (ILO): Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiên và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp qui quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng, cho một công nhân đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm.
2. Phân tích từ định nghĩa theo yêu cầu của định nghĩa
3. Phân loại các định nghĩa, xác định các nét nghĩa chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai hoặc thiếu cần phải bổ sung, sửa chữa.
Có thể tiếp thu các nét nghĩa chung như sau: Tiền lương là sự trả công bằng tiền, được ấn định bằng thoả thận giữa người sử dụng lao động và người lao động (tổ chức lao động quốc tế ILO), được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc (bộ luật lao động 1994)
4. Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả để điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng, cùng nội dung cụ thể của chúng
- Ở Pháp: sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, các khoản phụ khác được trả trực tiếp hay gián tiếp, bằng tiền hay hiện vật, mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động
- Ở Đài Loan: Tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận được do
làm việc; bất luận là dùng tiền lương, lương bổng, phụ cấp có tính chất lương, tiền
thưởng hoặc dùng mọi danh nghĩa khác để trả cho họ theo giờ, ngày tháng, theo sản
phẩm.
- Ở Nhật Bản: Tiền lương, bất luận được gọi là tiền lương, lương bổng, tiền được chia
lãi hoặc những tên gọi khác là chỉ thù lao cho lao động mà người sử dụng lao động chi trả cho công nhân
Như vậy, khoản tiền mà người lao động nhận được do làm việc đều được gọi là tiền lương. Có khác là có nơi như pháp là có thể trả công bằng hiện vật.
5. Xác định đặc trưng giống (khái niệm rộng hơn cùng loại)
Thu nhập
6. Xác định các đặc trưng loài (khu biệt khái niệm được định nghĩa với các khái niệm khác cùng bậc)
- Là tiền (không phải là hiện vật)
- Do người sử dụng lao động trả cho người lao động (không phân biệt nhà nước hay tư nhân)
- Trả theo lao động, theo hiệu quả công việc (không làm không được hưởng)
7. Lập sơ đồ kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu về hình thức và nội dung, chỉnh sửa lại

Thay chữ “ấn định bằng” bằng “theo”.
Sản phẩm cuối:
Tiền lương là sự trả công bằng tiền theo thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, dựa trên năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.