BÀI TẬP 5: LẬP BẢNG VÀ LẬP MÔ HÌNH
VẤN ĐỀ BẠO HÀNH TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY.
Tình trạng bạo hành trong gia đình ở Việt Nam ngày càng xảy ra nhiều, nó không chỉ xảy ra ở những vùng nông thôn hẻo lánh mà ngay tại các thành phố lớn thì hành vi này cũng diễn ra hàng ngày. Bạo hành xảy ra không phân biệt lứa tuổi (già hay trẻ), trình độ học vấn cao hay thấp, có nghề nghiệp hay không.
1/ Nguyên nhân của bạo hành là do sự bất bình đẳng giới, do quan niệm phong kiến “trọng nam khinh nữ”, tư tưởng gia trưởng, gia quyền còn nặng ở các vùng nông thôn ở nước ta. Ngoài ra, nó còn xuất phát từ những thói quen, lối sống, cách tư duy khác nhau, trình độ học vấn, năng lực nghề nghiệp khác nhau ở thành phố… nên khi xảy ra bất hòa, không ai chịu nhượng bộ ai.
2/ Hình thức bạo hành:
Bạo hành về thể xác: là họ sử dụng vũ khí đánh, véo, vả, ném đồ đạc vào người, nắm tóc, bóp cổ, hay nhiều cách tấn công về thể xác. Có hành vi hăm dọa, gây sợ hãi, cưỡng dâm, cố tình không cho thỏa mãn các nhu cầu cơ bản như ăn uống, tiếp xúc với người khác …
Bạo hành về tinh thần là họ sử dụng những hành vi như hạ nhục, chửi bới, dùng những câu châm ngôn ví von để hành hạ người khác nhằm thỏa mãn những cơn giận của chính họ.
3/ Nguyên tắc ứng xử:
Người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến nay sẵn có trong mình tư tưởng chịu đựng, nhẫn nhịn, miễn sao gia đình êm ấm. Nhất là ở nông thôn, khi bạo hành gia đình xảy ra, người phụ nữ phải chịu bạo hành cả về mặt thể xác lẫn tinh thần, nhưng do trình độ hiểu biết, trình độ dân trí ở nông thôn chưa cao, người phụ nữ nông thôn lại ít nhiều phụ thuộc chồng về mặt kinh tế nên họ không dám nói ra vì sợ nói ra sẽ bị bao vây về kinh tế, mọi người sẽ chê cười, sợ gia đình, họ hàng nhà chồng dè bỉu, con cái phải xấu hổ với bạn bè… Còn ở thành thị, phần lớn có sự bình đẳng giới, cả vợ và chồng đều là người có học thức, độc lập về tài chính. Nhưng trong cuộc sống vợ chồng không thể tránh khỏi nảy sinh những mâu thuẫn sau một khoảng thời gian chung sống với nhau. Tuy nhiên, do là những người “có học”, có bằng cấp, chịu sức ép của danh tiếng nên họ không dám thổ lộ hoặc xin ý kiến của những người khác có kinh nghiệm để giải quyết mâu thuẫn. Thông thường họ chọn giải pháp cam chịu, nhẫn nhịn, chấp nhận. Đến khi không đủ kiên nhẫn để chịu đựng thì họ lặng lẽ đưa nhau ra toà li dị.
a/ Lập bảng

b/ Lập mô hình

Bài tập 6: ĐỊNH NGHĨA GIA ĐÌNH
1/ Tìm tất cả định nghĩa hiện có:
* Nguyễn Như Ý chủ biên (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Văn hóa Thông tin, TPHCM, (tr. 719): Gia đình là tập hợp những người có quan hệ hôn nhân và huyết thống sống trong cùng một nhà.
* Viện KHXH Việt Nam, (2002), Từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa, Hà Nội. (tr.84) : Gia đình là thiết chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hoá, xã hội, tín ngưỡng... Khi GĐ đã có con cái, thì các thành viên trong gia đình được liên kết với nhau vừa bằng quan hệ hôn nhân (không cùng huyết thống) vừa bằng quan hệ huyết thống (theo dòng mẹ hoặc dòng bố).
* Theo Wikipedia: Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục.
2/ Phân tích từng định nghĩa theo yêu cầu của định nghĩa:

3/ Phân loại các định nghĩa, xác định những nét chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/ thiếu cần bổ sung, sửa chữa.
+ Đặc trưng giống: Ở định nghĩa (Đại từ điển tiếng Việt) đưa ra đặc trưng gia đình là “tập hợp những người …sống trong cùng một nhà ”; ở định nghĩa Wikipedia đưa ra đặc trưng gia đình là “một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau”; Ở định nghĩa (Từ điển bách khoa việt Nam) đưa ra đặc trưng gia đình là “thiết chế xã hội”. Loại thứ 3 này không chính xác. Tựu chung lại ta có thể chọn gia đình “là những người sống chung cùng một nhà ”
+ Đặc trưng loài: cả 3 định nghĩa trên đều có 2 tiêu chí là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống.
Như vậy, ta có thể tiếp thu đặc trưng giống là những người sống chung với nhau, và đặc trưng loài là có quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống.
4/ Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả (3) để điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng.
* Ở Châu Âu xem gia đình như là một nhóm xã hội, một đơn vị cơ sở của xã hội.
* Ở Châu Á xem gia đình là tế bào xã hội.
5/ Xác định các đặc trưng giống (khái niệm rộng hơn cùng loại)
Là những người sống chung một nhà
6/ Xác định các đặc trưng loài, (khu biệt khái niệm được định nghĩa với những khái niệm khác cùng bậc).
+ Quan hệ hôn nhân (để phân biệt với những người sống chung với nhau nhưng không kết hôn với nhau)
+ Quan hệ huyết thống (để phân biệt những người ngoài huyết thống)
+ Quan hệ nuôi dưỡng (để phân biệt những người là con nuôi với con đẻ).
Sản phẩm sơ bộ: Gia đình là những người sống chung một nhà có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng.
7/ Lập sơ đồ, kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu về hình thức và nội dung chỉnh sửa lại:

Từ “có” thiếu tính thuật ngữ. Thay “có” = “được gắn kết với nhau bởi”.
Sản phẩm cuối cùng:
Gia đình là những người sống chung một nhà được gắn kết với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng.