Để tiện theo dõi, Linh Giang xin phép post lại 4 bài tập (từ bài tập 5 đến bài tập 8- có sữa chữa), xin lỗi vì hơi dài dòng
Bài tập 5: Lập bảng các thành tố:

Mô hình1:

Mô hình 2:

Bài tập 6:1. Các định nghĩa hiện có
Định nghĩa của FAO 2002: Rừng là những diện tích đất lớn hơn 0.5ha, có cây gỗ bao phủ ít nhất 10% diện tích, mà trước đây không phải là đất nông nghiệp hoặc đô thị.
Luật bảo vệ phát triển rừng Việt Nam 2004: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Wikipedia: Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn. Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác.

Theo giống:
- Rừng là quần xã sinh vật (1)
- Rừng là những diện tích đất lớn hơn 0.5 ha (2)
- Rừng là một hệ sinh thái (3)
Trong đó (2) không rõ ràng, không phân biệt được một số vườn cây công nghiệp có thể trên 0.5 ha nhưng không thể được gọi là rừng.
3. Phân loại các định nghĩa, xác định những nét nghĩa chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/thiếu cần bổ sung, sửa chữa
Theo đặc trưng giống, có 2 loại: là hệ sinh thái (Luật bảo vệ phát triển rừng Việt Nam 2004) và là quần xã sinh vật (Wikipedia).
Theo đặc trưng loài, cả ba đều có 2 tiêu chí là thành phần cơ bản và tiêu chuẩn (cây gỗ là thành phần chủ yếu, diện tích trên 0,5 ha).
Như vậy, có thể tiếp thu: đặc trưng giống “là quần xã sinh vật”, phạm trù của 2 đặc trưng loài (thành phần cơ bản và tiêu chuẩn)
Cần chỉnh sửa, khái quát hóa và chính xác hóa nội dung 2 đặc trưng loài.
4. Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả (3) để điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng
Theo định nghĩa của UNFCCC (2001): “Rừng” là một khu vực có diện tích tối thiểu là 0.5ha (hoặc quần thể tương đương) mà ít nhất 10-30% diện tích được bao phủ bởi những cây (gỗ) có khả năng đạt đến chiều cao từ 2-5m trở lên khi thành thục. Rừng có độ che phủ của tầng cây gỗ và thảm tươi cao được gọi là rừng kín, các rừng còn lại gọi là rừng mở.
Morozov, 1930: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khi quyển.
M.E. Tcachenco, 1952: Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật
I.S. Mê lê khôp, 1974: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu.
5. Xác định đặc trưng giống (khái niệm rộng hơn cùng loại)
Là quần xã sinh vật
6. Xác định các đặc trưng loài (khu biệt khái niệm được định nghĩa với những khái niệm khác cùng bậc)
1) Có thành phần cây gỗ hoặc tre nứa chiếm ít nhất 10%. (phân biệt với biển, thảm thực vật,...)
2) Có diện tích lớn hơn 0,5 ha.
7. Lập sơ đồ, kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu về hình thức và nội dung, chỉnh sửa lại
bài tập 7: lập bảng so sánh
bài tập 8:Chọn nội dung thích hợp trong đề tài của mình để vận dụng PP loại hình nhằm phát hiện những tri thức mới

Dù trong cùng một loại hình văn hóa là văn hóa trọng tĩnh. Tuy nhiên, khi ta tiếp tục phân chia thành những tiểu văn hóa thì ta sẽ dễ dàng nhận ra những đặc trưng khu biệt từng không gian dựa trên những đặc tính tĩnh hơn hay động hơn.
Cụ thể: người Chăm và người Stieng dù ở trong loại hình lớn là văn hóa gốc nông nghiệp điển hình nhưng đi sâu vào các tình tiết ta vẫn có thể nhận thấy dù là nông nghiêp nhưng nếu người Chăm gắn liền với nông nghiệp biển (trồng trọt, đánh bắt) thì người Stiêng lại gắn liền với nông nghiệp rừng (trồng trọt và săn bắn).
Chính những điều này làm cuộc sống người Stieng ngoài những nét chung thì có vẻ động hơn người Chăm (họ sống định cư nhưng du canh chuyển rẫy theo từng mùa). Vì sống trong rừng, gắn liền với rừng nên việc săn bắt được coi trọng và hệ quả là nam và sức mạnh được coi trọng.