
Kết luận:
Như vậy, do xuất phát từ hai loại hình văn hóa khác nhau nên hiện tượng ly hôn ở Việt Nam và các nước phương Tây có những điểm rất khác nhau.
Ở Việt Nam gia đình thực sự là nền tảng của xã hội, đặc biệt gia đình mở rộng nhiều thế hệ vẫn chiếm ưu thế hơn. Trong khi đó, ở phượng Tây, mô hình gia đình chủ yếu là gia đình hạt nhân, chủ nghĩa cá nhân. Ở Việt Nam cho đến nay, vẫn còn phổ biến quan niệm cho rằng, chuyện đổ vỡ trong hôn nhân (ly dị) là bất thường, do đó những người ly hôn thường bị dư luận đánh giá, xét nét và đàm tiếu. Trong khi đó, với phương Tây, việc ly hôn là chuyện bình thường như “cơm bữa”. Mặt khác, quan hệ hôn nhân (kết hôn) ở Việt Nam ngoài xuất phát từ tình yêu cá nhân, còn liên quan đến 2 gia đình (lợi ích tập thể), trong khi đó ở phương Tây, chuyên kết hôn đa phần do mỗi cá nhân tự quyết định (ít quan hệ đến 2 bên gia đình).
Ngoài ra, ở Việt Nam cho đến nay, dù hôn nhân không hạnh phúc, nhiều cặp vợ chồng vẫn cố làm ra vẻ bề ngoài tưởngchừng như hạnh phúc, cố tạo ra một hiện tượng giả, mang vỏ bọc để che đậy cái rạn nứt bên trong. Cái tôi cá nhân của họ lúc này hy sinh cho sự nên người của con cái: họ sống vớinhau chỉ vì trách nhiệm, mối quan hệ chỉ tồn tại trên cơ sở pháp lý... Vì vậy, mọi mâu thuẫn trong gia đình đều được giải quyết ổn thõa, đặc biệt người phụ nữ giữ vai trò điều hoà. Người phụ nữ sống trong khuôn phép của lễ giáo, ngay từ nhỏ, được giáo huấn cách đối nhân xử thế, đạo tam tòng tứ đức... Họ chịu sự chi phối bền chặt của những qui định khắt khe, dần dần thấm nhuần và ăn sâu vào tiềm thức. Họ trở thành những "nội tướng"trong gia đình phục vụ chồng, con, hy sinh đến mức nhẫn nhục, cam chịu. Vì vậy, mặc dù nhiều người sống trong tình trạng đau khổ cũng chưa mạnh dạn bày tỏ ý chí thoát ly cuộc sống "cơm không lành, canh chẳng ngọt"…
Tất cả đều là do 2 loại hình văn hóa khác nhau mà ra.
