SỬA LẠI NHỮNG BÀI TẬP CHƯA ĐẠTBài tập 1: (12 Tháng 4 2011 17:26)
- Tìm đề tài và xác định mâu thuẫn
- Vận dụng PP dịch lý để nghiên cứu đề tài
1. Mâu thuẫn của đề tài:
Mâu thuẫn giữa mục đích nâng cao lợi nhuận trong việc bỏ vốn kinh doanh giáo dục với mục đích đảm bảo chất lượng giáo dục trong kinh doanh giáo dục hiện nay. => MÂU THUẪN ĐƯỢC BỔ SUNG, CHỈNH SỬA
Mâu thuẫn giữa quan niệm về giáo dục ngày xưa chỉ mang đến giá trị nhân văn, nâng tầm hiểu biết của con người, không phải là một mặt hàng kinh doanh buôn bán với quan điểm về giáo dục ngày nay không chỉ mang lại giá trị nhân văn mà còn là một thứ hàng hóa mang lại giá trị kinh tế cao, lợi nhuận mang lại không hề thua kém bất cứ loại hình kinh doanh nào.
2. Phân tích đề tài theo Phương pháp dịch lý
- Kiểm tra tính tương hiện: Từ xưa đến nay, giáo dục được coi là một phúc lợi xã hội, là quyền của một con người trong xã hội. Giáo dục hiện nay vẫn được Nhà nước xem là một trong những chính sách xã hội được ưu tiên hàng đầu, tuy nhiên giáo dục hiện nay được tổ chức dưới các hình thức rất đa dạng: ngoài các trường công lập với mức học phí được Nhà nước quy định thì có các trường dân lập, các trung tâm, cơ sở dạy học tư nhân… có mức học phí và mức đóng góp của người học rất cao. Mặc dù vậy, chưa hẳn tất cả các trường có mức học phí cao đều đảm bảo được chất lượng tốt. Việc này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, tuy nhiên thường có một mối liên hệ giữa lợi nhuận kinh doanh và chất lượng giáo dục như sau: chú trọng vào việc thu lợi nhuận sẽ làm xao nhãng việc kiểm soát chất lượng và ngược lại.
- Kiểm tra tính tương hóa: Trong hoàn cảnh nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu “tự do thương mại hóa các ngành nghề kinh tế”, kinh doanh giáo dục trở thành một loại hình kinh doanh mang lại lợi nhuận rất cao, các hoạt động giáo dục được tổ chức một cách rộng rãi và dễ tiếp cận hơn trước rất nhiều, nội dung và hình thức của giáo dục trở nên đa dạng và phong phú, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của người dân. Ngược lại, giáo dục mở rộng, dễ tiếp cận đối với người dân là điều kiện thuận lợi cho giáo dục có thể trở thành một lợi ích công, một giá trị phổ cập đến mọi đối tượng trong xã hội.
- Kiểm tra tính hướng hòa: Sự phát triển của xu hướng kinh doanh giáo dục cũng là điều tất yếu phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại mới. Khi những nhu cầu cơ bản của con người được đáp ứng thì con người bắt đầu suy nghĩ đến việc tích lũy cho tương lai, nhu cầu học không ngừng mở rộng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Giáo dục lúc này vừa là một ngành nghề đào tạo nhân tài cho xã hội theo đúng nghĩa mang lại các giá trị nhân văn cho con người; vừa là một ngành nghề kinh doanh thực thụ với hệ thống sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của xã hội.
- Kiểm tra hướng mở rộng: Khuyến khích giáo dục phát triển theo hướng thương mại hóa một cách tự nhiên dưới sự kiểm soát của Nhà nước; tận dụng sự phát triển sâu rộng của giáo dục để phổ cập giáo dục, để tăng khả năng mang các giá trị và lợi ích của giáo dục đến mọi tầng lớp trong xã hội, mọi vùng miền của đất nước.
Bài tập 6: (13 Tháng 4 2011 23:26)
Chọn một khái niệm cơ bản (chìa khóa) trong đề tài NC
- Định nghĩa và trình bày 7 bước
- Lập sơ đồ định nghĩa
Định nghĩa khái niệm Kinh doanh
Bước 1: Tìm tất cả những định nghĩa Kinh doanh hiện có
- Từ điển thường
“Kinh doanh là các hoạt động sản xuất, bán, mua và cung cấp hàng hóa và dịch vụ nhằm mục đích kiếm tiền” (Oxford Advanced Learner’s Dictionary, OUP 2011)
- Từ điển bách khoa
Theo Wikipedia: “Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ...) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất.” (
http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_doanh)
Theo Business Dictionary: “An economic system in which goods and services are exchanged for one another or money, on the basis of their perceived worth. Every business requires some form of investment and a sufficient number of customers to whom its output can be sold at profit on a consistent basis.”
Tạm dịch là: “Kinh doanh là một hệ thống kinh tế trong đó hàng hóa và dịch vụ được trao đổi trên cơ sở giá trị nhằm đổi lấy một thứ khác hoặc đổi lấy tiền. Mọi hoạt động kinh doanh đòi hỏi các hình thức đầu tư và một số lượng khách hàng nhất định để sản phẩm của kinh doanh được bán ra với mức lãi dựa trên giá trị vốn có của nó.”
(
http://www.businessdictionary.com/defin ... iness.html)
- Tài liệu chuyên luận
Theo Luật Doanh nghiệp 1999: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”
- Tìm trên mạng
“Kinh doanh là kiếm tiền bằng cách phụng sự xã hội, bằng cách dùng sản phẩm hay dịch vụ như là phương tiện để giải quyết những vấn đề của xã hội và làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.” (Nguyễn Đình Phú)
(
http://www.hoclamgiau.vn/clubs/content/ ... oanh-la-gi)
Bước 2: phân tích yêu cầu của định nghĩa, lập bảng
Xem trong bài trước
Bước 3: Phân loại: có các đặc trưng về mục đích, hoạt động, đối tượng tác động, quá trình, quy luật.
Có tính hệ thống: các thành tố trên và mối quan hệ giữa chúng
Tính giá trị: tạo ra thặng dư xã hội, thúc đẩy quá trình tái sản xuất hàng hóa
Tính nhân sinh: hệ thống hoạt động của con người từ sản xuất đến tiêu thụ và cung ứng sản phẩm
Tính lịch sử: có thể tồn tại ở bất cứ quá trình nào trong hệ thống trên
Đặc trưng về mục đích, hoạt động, đối tượng tác động, quá trình, quy luật cần được khái quát, không liệt kê dài dòng
Bước 4: Tìm các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu bổ sung, điều chỉnh các đặc trưng
- Trong các cách sử dụng khái niệm “kinh doanh” ở cả phương Đông và phương Tây, thường nói đến kinh doanh khi nói đến việc người ta làm điều gì đó để sinh lợi. Việc sinh lợi ở đây không chỉ hạn chế ở việc kiếm tiền, mà được mở rộng ra các biểu hiện cho tiền, hoặc các hàng hóa và dịch vụ khác trên cơ sở trao đổi.
- Những người kinh doanh là thuật ngữ dùng để nhắc đến những người tự thuê chính mình, những ông chủ, những người thầu khoán và thậm chí là những người được thuê làm quản lý…
- Hiện nay có rất nhiều loại hình, hình thức mua và bán sản phẩm hàng hóa vật chất và tinh thần, và người ta cũng dùng thuật ngữ kinh doanh để chỉ các hoạt động này, như kinh doanh cho thuê người yêu, kinh doanh đa cấp… Tuy nhiên loại hình và hình thức kinh doanh rất đa dạng nên không phù hợp để đưa vào khái niệm tổng quát. Cơ sở của các loại hình và hình thức kinh doanh này vẫn dựa trên sự thuận mua vừa bán, trao đổi hàng hóa dựa trên giá trị được định sẵn mà các phía đều đồng thuận.
- Kinh doanh hiện nay không chỉ được dùng để nói đến hoạt động kinh doanh có đăng ký kinh doanh theo luật pháp Nhà nước mà còn được dùng để nói đến việc trao đổi, mua bán không có đăng ký kinh doanh, hợp pháp hoặc bất hợp pháp. Thông thường, những từ được sử dụng là: buôn, buôn bán…
- Kinh doanh thường được hiểu đi liền với thương mại là bất cứ hoạt động nào nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Bước 5: Xác định đặc trưng hệ thống kinh doanh, tìm cấp độ zero, để quy Kinh doanh vào khái niệm lớn hơn
Kinh doanh là một hoạt động của xã hội, nhưng cũng có các đặc trưng của văn hóa. Vậy có thể xếp Kinh doanh vào một lĩnh vực nghiên cứu của văn hóa, tạm gọi là văn hóa kinh doanh.
Bước 6: Xác lập đặc trưng cho phép khu biệt với những khái niệm khác cùng bậc
1) Hệ thống hoạt động đáp ứng nhu cầu của con người (cả nhu cầu vật chất và tinh thần)
(2) Tạo ra thặng dư xã hội, thúc đẩy tái sản xuất hàng hóa (khu biệt hoạt động không tạo ra thặng dư xã hội)
3) sự trao đổi giữa người mua và người bán dựa trên quy luật giá trị của hàng hóa (khu biệt với sự trao đổi giữa con người dựa trên các quy luật kinh tế, xã hội khác)
4) hoạt động kinh doanh có thể nằm ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình từ sản xuất đến cung ứng sản phẩm (khu biệt với hoạt động gắn với cả quá trình sản xuất đến cung ứng sản phẩm)
Bước 7: Lập sơ đồ cấu trúc giúp kiểm tra chặt chẽ sự đáp ứng hình thức, nội dung và điều chỉnh, thêm bớt.

Từ những phân tích và nhận định như trên, có thể định nghĩa “kinh doanh” như sau:
Kinh doanh là hệ thống hoạt động của con người nhằm tạo ra thặng dư xã hội và thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội, hoạt động kinh doanh dựa trên quy luật giá trị của hàng hóa và có thể tồn tại ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình hoạt động.Bài tập 8: (2 Tháng 5 2011 18:09)
Chọn nội dung thích hợp trong đề tài của mình để vận dụng PP loại hình nhằm phát hiện những tri thức mới.
