bài tập 4: sau khi chỉnh sửa lần 1.
Bài tập 4: chọn một khái niệm cơ bản trong đề tài của mình để xây dựng định nghĩa.
Bước 1: tìm tất cả các định nghĩa hiện có về khái niệm:
1. Định nghĩa của Silke Von Lewinski
“Cư dân bản địa là một tập thể những người được thống nhất bởi một nền văn hóa, truyền thống chung , và bởi quan hệ họ hàng ; thường có cùng ngôn ngữ , thiết chế , và niềm tin, và thường tạo thành một nhóm có tổ chức chính trị”
(Silke Von Lewinski, Indigenous Heritage and Intellectual Property: Genetic Resources, Traditional Knowledge, and Folklore, Kluwer Law International, 2004, tr.130-131, dẫn theo
http://en.wikipedia.org/wiki/Indigenous_peoples)
Định nghĩa miêu tả, thiếu tính khái quát, chưa đầy đủ dữ kiện để phân biệt “cư dân bản địa” với “cư dân phi bản địa”. Nếu phân tích theo định nghĩa này thì người Anh ở Úc cũng là cư dân bản địa (tập thể những người được thống nhất bởi một nền văn hóa truyền thống chung; có cùng ngôn ngữ; thiết chế , và niềm tin; tạo thành một nhóm có tổ chức chính trị). -> thiếu yếu tố lịch sử tộc người (gắn liền với vùng đất cư trú).
2. Định nghĩa của tổ chức Ngân hàng Thế giới (World Bank)
“Cư dân bản địa có thể được xác định trong khu vực địa lý cụ thể bởi sự hiện diện (ở mức độ khác nhau) của các đặc điểm sau:
- Gắn chặt với lãnh thổ của tổ tiên và các tài nguyên thiên nhiên tại lãnh thổ đó.
- Tự công nhận và được công nhận bởi những người khác là thành viên của một nhóm văn hóa riêng biệt
- Có ngôn ngữ bản địa, thường khác với ngôn ngữ quốc gia.
- Có các thể chế phong tục xã hội và chính trị.
- Sống dựa vào nền kinh tế tự nhiên”
Đây cũng là định nghĩa miêu tả. Tuy đã cố gắng liệt kê ra các đặc trưng để khu biệt cư dân bản địa với các cộng đồng cư dân khác nhưng chắc chắn không thể đảm bảo tính chính xác khi đối tượng định nghĩa thay đổi.; thiếu tính khái quát.
http://en.wikipedia.org/wiki/Indigenous_peoples)
3. định nghĩa của Martinéz Cobo
Về khái niệm “cư dân bản địa”, cho đến nay các cơ quan Liên Hiệp Quốc vẫn chưa chấp nhận chính thức một định nghĩa nào về khái niệm. Tuy nhiên trong số những định nghĩa về “cư dân bản địa”được biết đến nhiều nhất và được sử dụng phổ biến nhất trong các cơ quan này là định nghĩa để làm việc (working definition) được đưa ra bởi Martinéz Cobo trong báo cáo của ông gửi đến Tiểu Ban Về Ngăn Chặn Nạn Phân Biệt Đối Xử Với Các Cộng Đồng Thiểu Số của Liên Hiệp Quốc năm 1986:
“Những cộng đồng, dân tộc, quốc gia bản địa là những cộng đồng, dân tộc, quốc gia có lịch sử gắn bó liên tục với những xã hội tiền thuộc địa được phát triển trên lãnh thổ của họ, tự xem mình khác biệt so với những cộng đồng xã hội khác đang áp đảo trong những lãnh thổ, hoặc một phần lãnh thổ này. Họ hình thành ở hiện tại những cộng đồng xã hội yếu thế; họ quyết tâm gìn giữ, phát triển và trao truyền cho những thế hệ sau những lãnh thổ của tổ tiên họ, cùng với bản sắc dân tộc như là cơ sở cho sự tồn tại của dân tộc mình, tuân thủ những khuôn mẫu văn hóa, thiết chế xã hội và hệ thống luật pháp của riêng mình.”
http://www.un.org/esa/socdev/unpfii/doc ... ground.doc4. Định nghĩa của nhà nhân học Conrad Phillip Kottak
“Cư dân bản địa là những cư dân đầu tiên sống trên một lãnh thổ nhất định; thường là hậu duệ của những cư dân bộ lạc và hiện đang sống trong xã hội với tư cách những người bị thuộc địa hóa với một nền văn hóa đặc thù; phần nhiều trong số đó mong muốn quyền tự trị.”
(Conrad Phillip Kottak (university of Michigan) 2002: Anthropology-The exploration of human diversity.-The Mcgraw-Hill Higher Education, tr. 566)
Bước 2: phân tích định nghĩa
Các định nghĩa trên đều là định nghĩa miêu tả, do đó thiếu tính khái quát và không đầy đủ. Không đủ giúp phân biệt khái niệm. ví dụ:
Định nghĩa của Silke Von Lewinski
“Cư dân bản địa là một tập thể những người được thống nhất bởi một nền văn hóa, truyền thống chung , và bởi quan hệ họ hàng ; thường có cùng ngôn ngữ , thiết chế , và niềm tin, và thường tạo thành một nhóm có tổ chức chính trị”
(Silke Von Lewinski, Indigenous Heritage and Intellectual Property: Genetic Resources, Traditional Knowledge, and Folklore, Kluwer Law International, 2004, tr.130-131, dẫn theo
http://en.wikipedia.org/wiki/Indigenous_peoples)
Định nghĩa miêu tả, thiếu tính khái quát, chưa đầy đủ dữ kiện để phân biệt “cư dân bản địa” với “cư dân phi bản địa”. Nếu phân tích theo định nghĩa này thì người Anh ở Úc cũng là cư dân bản địa (tập thể những người được thống nhất bởi một nền văn hóa truyền thống chung; có cùng ngôn ngữ; thiết chế , và niềm tin; tạo thành một nhóm có tổ chức chính trị). -> thiếu yếu tố lịch sử tộc người (gắn liền với vùng đất cư trú).
Khi đối tượng “cư dân bản địa” thay đổi thì những định nghĩa trên sẽ không còn phù hợp. Ví dụ định nghĩa của Ngân hàng Thế giới “Cư dân bản địa có thể được xác định trong khu vực địa lý cụ thể bởi sự hiện diện ở mức độ khác nhau của các đặc điểm sau:
- Gắn chặt với lãnh thổ của tổ tiên và các tài nguyên thiên nhiên tại lãnh thổ đó.
- Tự công nhận và được công nhận bởi những người khác là thành viên của một nhóm văn hóa riêng biệt
- Có ngôn ngữ bản địa, thường khác với ngôn ngữ quốc gia.
- Có các thể chế phong tục xã hội và chính trị.
- Sống dựa vào nền kinh tế tự nhiên”
Định nghĩa miêu tả này khá đầy đủ. Tác giả của định nghĩa đã cố gắng khắc phục nhược điểm sự thay đổi của đối tượng dẫn đến định nghĩa không còn chính xác bằng cách sử dụng cụm từ “(sự hiện diện) ở mức độ khác nhau”.
http://www.un.org/esa/socdev/unpfii/doc ... ground.docmột điểm chung nữa ở các định nghĩa trên là đều xem cư dân bản địa là những người sống trong xã hội thuộc địa và hiện tại là bộ phận yếm thế trong xã hội. Nếu định nghĩa như thế thì thích hợp cho những cộng đồng cư dân bản địa đã và đang sống trong xã hội thực dân, không bao gồm được những cộng đồng bản địa không trãi qua, hoặc hiện tai không sống trong xã hội thực dân.
bước 3: xác định các nét nghĩa chung của các định nghĩa:
các định nghĩa trên đều hướng đến việc miêu tả, liệt kê những đặc trưng của cư dân bản dịa. Các đặc trưng tổng hợp được từ các định nghĩa trên là:
- Gắn bó với một lãnh thổ trước và sau khi bị xâm lược thuộc địa.
- Mang những đặc trưng văn hóa (phong tục , tập quán, ngôn ngữ, tôn giáo….) riêng biệt, khác biệt với văn hóa của các nhóm xã hội chủ đạo.
- Tự công nhận và được công nhận là thuộc về cộng đồng bản địa.
Bước 4: tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành:
Hiện nay, khái niệm “cư dân bản địa” chủ yếu được sử dụng nhằm phân biệt những cư dân đầu tiên, sinh sống lâu dài trên một lãnh thổ nhất định trước khi lãnh thổ đó bị xâm lược và biến thành thuộc địa với những người đến từ thời điểm xâm chiếm thuộc địa trở về sau (ví dụ thổ dân Australia với người Anh tại Australia, hay người Maori với người Anh ở New Zealand). Do đó cần thiết có sự phân biệt về mặt lịch sử sinh sống trước- sau của hai nhóm cộng đồng cư dân (bản địa vs phi bản địa) ở trên cùng lãnh thổ đó. Do các vấn đề về mặt phúc lợi xã hội chi phối, tiêu chí “công nhận” và “tự công nhận” cũng thường được bao gồm trong các định nghĩa về cư dân bản địa. Bởi lý do có khả năng có nhiều người tự nhận là (có nguồn gốc) cư dân bản địa để nhận phúc lợi xã hội dành riêng cho cư dân bản địa. Nhưng nếu những người đó không được cộng đồng của mình và những cộng đồng khác trong xã hội thừa nhận là người bản địa thì anh ta cũng không thể có tư cách là người bản địa. Tuy nhiên như thế sẽ bỏ sót những cộng đồng cư dân bản địa không trãi qua thời kì thực dân hoặc không đang sống trong xã hội thực dân, không phải là cộng đồng cư dân yếm thế. Do đó để đưa ra một định nghĩa về cư dân bản địa thì cần phải loại trừ cách định nghĩa theo khuynh hướng nêu trên.
Bước 5: xác định đặc trưng giống:
nhóm cộng đồng xã hội
bước 6: xác định các đặc trưng loài:
- Cư trú ngay từ đầu
- Mang tính lịch sử
- Văn hóa tại chỗ
Sản phẩm sơ bộ:
Cư dân bản địa là cộng đồng cư trú ngay từ đầu trên một lãnh thổ nhất định, có sự gắn bó mang tính lịch sử đối với lãnh thổ đó và sở hữu một nền văn hóa tại chỗ.
Bước 7: lập sơ đồ cấu trúc
[URL=http://s1373.photobucket.com/user/nguyenlytrongtin28101710/media/S1A0011001ED2REVISED_zps3b5c3451.jpg.html]
Kết luận:
Định nghĩa cư dân bản địa:
Cư dân bản địa là cộng đồng cư trú ngay từ đầu trên một lãnh thổ nhất định, có sự gắn bó lâu dài nhất đối với lãnh thổ đó và sử hữu một nền văn hóa tại chỗ.