SO SÁNH PHONG TRÀO “VĂN MINH HÓA” Ở NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM CUỐ

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Re: SO SÁNH PHONG TRÀO “VĂN MINH HÓA” Ở NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM

Gửi bàigửi bởi Kỳ Vũ » Thứ 6 24/10/14 22:20

Hồ Ngọc Diễm Thanh đã viết:Ah, theo chị được biết trong Danh mục Tài liệu tham khảo, trong từng ngôn ngữ mình phải sắp xếp theo thứ tự chữ cái A B C ..... Kỳ xem lại nhé (bài tập 3) ;)


Nàng Th biết cách tiểu xảo tăng com. quá hen...hehe...tài liệu có sắp xếp theo Alphabet đó nàng!
RANDOM_AVATAR
Kỳ Vũ
 
Bài viết: 49
Ngày tham gia: Thứ 5 09/10/14 1:07
Cảm ơn: 5 lần
Được cám ơn: 8 lần

Re: SO SÁNH PHONG TRÀO “VĂN MINH HÓA” Ở NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM

Gửi bàigửi bởi Kỳ Vũ » Thứ 6 24/10/14 22:23

Hồ Ngọc Diễm Thanh đã viết:Chị cũng đồng ý với ý kiến của Huyền, sao chương 1 Kỳ lại đặt tên là Dẫn nhập. Theo cách giải thích của Kỳ về ý kiến của Huyền ở trên thì chị không đồng ý lắm, tức nội dung của "Cơ sở lý luận và thực tiễn" và "Dẫn nhập" khác nhau (theo phản hồi của em ở trên là giống nhau). Quan điểm cá nhân của chị thì Dẫn nhập là một trong những thành tố phụ của cấu trúc bài nghiên cứu bên cạnh Mục lục, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục. Dẫn nhập bao gồm Lí do chọn đề tài, Mục đích nghiên cứu, Lịch sử nghiên cứu vấn đề, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu, Nguồn tư liệu, Ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Theo chị nghĩ tên chương 1 là "Khái quát về Phong trào văn minh hóa ở Nhật Bản và Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX" Em nghĩ sao?


Cảm ơn kiều nữ xứ Phạm, nhưng K có sửa tổng quát ở bài đăng trên ág.hiii. do chút trục trặc kĩ thuật nên nhầm lẫn tí!
RANDOM_AVATAR
Kỳ Vũ
 
Bài viết: 49
Ngày tham gia: Thứ 5 09/10/14 1:07
Cảm ơn: 5 lần
Được cám ơn: 8 lần

Re: SO SÁNH PHONG TRÀO “VĂN MINH HÓA” Ở NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM

Gửi bàigửi bởi Mỹ Hạnh » Thứ 2 27/10/14 17:22

Bài tập 4, Hạnh thấy Kỳ nên đưa ra đối chiếu so sánh các khái niệm dưới dạng bảng, sau đó lập thêm sơ đồ cấu trúc làm rõ nghĩa khái niệm. Với lại Thầy yêu cầu mình cần trình bày rõ các bước, Kỳ xem điều chỉnh lại rõ hơn nhé!
No pain no gain
Hình đại diện của thành viên
Mỹ Hạnh
 
Bài viết: 51
Ngày tham gia: Thứ 3 07/10/14 21:24
Cảm ơn: 8 lần
Được cám ơn: 14 lần

Re: SO SÁNH PHONG TRÀO “VĂN MINH HÓA” Ở NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM

Gửi bàigửi bởi Kỳ Vũ » Thứ 4 29/10/14 22:36

Bài tập số 5: Chọn 1 khái niệm/sự vật/hiện tượng trong đề tài và 1 số hiện tượng có liên quan, tiến hành so sánh tìm các điểm tương đồng và khác biệt, lập bảng

SO SÁNH CUỘC VẬN ĐỘNG CẮT TÓC NGẮN DANPATSU Ở NHẬT BẢN VÀ CUỘC VẬN ĐỘNG CẮT TÓC NGẮN Ở VIỆT NAM

1. Nét giống nhau giữa hai phong trào
Cuộc vận động cắt tóc ngắn danpatsu cuối thế kỉ XIX ở Nhật Bản và cuộc vận động cắt tóc ngắn ở Việt Nam đầu thế kỉ XX tuy được tiến hành ở hai quốc gia khác nhau nhưng cả hai phong trào cùng mang một nội dung nên có những điểm tương đồng rõ nét.

Thứ nhất, về bối cảnh, đến những năm 50 của thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản trở thành hệ thống thế giới. Các cường quốc tư bản Âu – Mĩ bắt đầu mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình ra khắp các châu lục trên thế giới bằng các cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa. Phương Đông nói chung và Nhật Bản – Việt Nam nói riêng cũng không nằm ngoài tầm ngắm của các nước tư bản phương Tây. Cùng với quá trình đó, văn hóa – văn minh phương Tây cũng thâm nhập vào phương Đông và lan rộng tầm ảnh hưởng kéo theo sự tự ý thức của các nước phương Đông về khả năng yếu kém của đất nước mình trên nhiều lĩnh vực trước sức mạnh phương Tây. Lúc này đã làm dấy lên ở châu Á phong trào duy tân đất nước, học tập những thành tựu của văn minh phương Tây. Thời kì này, giao thoa văn hóa Đông – Tây đã diễn ra nhanh và mạnh, biến chuyển nhiều giá trị trong đời sống vật chất và tinh thần các nước phương Đông và khoảng thời gian này cũng thường được gọi là Bunmei kaika – Văn minh khai hóa. Nhật Bản – Việt Nam là các quốc gia phương Đông nên không nằm ngoài trào lưu trên. Cuộc vận động cắt tóc ngắn ở hai nước là một bộ phận nhỏ trong cao trào văn minh khai hóa, học tập cắt tóc ngắn kiểu phương Tây – một biểu hiện được coi là tượng trưng cho văn minh.

Thứ hai, trong bối cảnh chung của phong trào văn minh khai hóa, các nhà lãnh đạo phong trào khi đề xướng cuộc vận động cũng chịu nhiều luồng ảnh hưởng tư tưởng bên ngoài. Cuộc vận động cắt tóc ngắn ở Nhật Bản cuối thế kỉ XIX là một mắt xích nằm trong chuỗi các cải cách của chính quyền Minh Trị với phương châm học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt qua phương Tây, tiến tới xây dựng một nước Nhật “phú quốc cường binh”. Chính điều đó đã làm cho các chính sách cải cách mang nhiều ảnh hưởng từ phương Tây. Cụ thể hơn, cuộc vận động cắt tóc ngắn ở Nhật Bản là một bộ phận trong phong trào văn minh khai hóa, cổ vũ học tập và truyền bá tư tưởng phương Tây mà các đại diện tiêu biểu ở Nhật Bản lúc bấy giờ là những thành viên hội trí thức Meirokusha. Hay nói cách khác, cuộc vận động này là một biểu hiện của tư tưởng phương Tây ở Nhật Bản thời kì này. Tại Việt Nam, đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đang tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở Đông Dương thì trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây cũng truyền bá vào Việt Nam. Thông qua các tân thư, tân văn Trung Quốc, các học thuyết về nhân quyền và dân quyền của Rousseau, Mongtesquieu, Voltaire... đã đến với các sĩ phu yêu nước Việt Nam. Những tác phẩm đó cùng với ảnh hưởng của sự kiện Minh Trị Duy tân ở Nhật Bản, chiến thắng của Nhật Bản trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật (1901 - 1905) và phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở Trung Quốc với đỉnh cao là cách mạng Tân Hợi (1911) đã tác động mạnh mẽ đến phong trào cách mạng và tình hình tư tưởng Việt Nam. Phong trào Duy tân của Việt Nam diễn ra sau nên có điều kiện học hỏi, tiếp thu thành tựu cũng như hạn chế của những sự kiện trước đó. Những sự kiện bên ngoài như một làn gió mát thổi vào trong nước làm “khai thông” tư tưởng các sĩ phu yêu nước đang khao khát tìm kiếm một con đường cứu nước mới. Cuộc vận động cắt tóc ngắn tại Việt Nam đầu thế kỉ XX là một bộ phận của Phong trào Duy tân nên cũng chịu ảnh hưởng từ những tư tưởng đó.

Thứ ba, đối với các nhà lãnh đạo các cuộc vận động cắt tóc ngắn ở hai nước, khi tiếp thu văn minh bên ngoài họ chủ trương tiếp thu những cái mới. Họ cho rằng, trên bước đường tiến lên văn minh hiện đại phải học tập phương Tây và theo kịp để sánh vai ngang hàng với các nước phương Tây, muốn vậy trước hết phải giống người phương Tây về hình thức bên ngoài để tránh cái nhìn trọng thị, khinh miệt của người phương Tây. Hơn nữa, mái tóc dài có búi tóc phía sau được xem là cái cũ, cái cũ luôn đi kèm với không tiến bộ, điều đó đồng nghĩa với việc tượng trưng cho sự thấp kém, chưa được khai hóa, chưa văn minh. Nói cách khác, để trở nên văn minh không cách nào khác hơn là phải cắt bỏ búi tóc, cắt đi biểu tượng của lạc hậu, kém phát triển. Đó còn là cuộc cách mạng của bản thân, tự thay đổi mình, hướng tới cuộc sống mới mà trước đây mỗi người chưa được biết đến. Cắt bỏ đi mái tóc đồng nghĩa với việc cắt đi những suy nghĩ cũ kĩ, lạc hậu, bế tắc, nhờ đó đầu óc mới được khai sáng, thanh thoát và có thể suy nghĩ được những điều tiến bộ, mới mẻ. Khi đó con người mới có thể hướng tới và thực hiện được những mục tiêu cao cả hơn, to lớn hơn, sâu xa hơn. Ý nghĩa sâu xa của việc cắt tóc ngắn là như thế nhưng thực tế khi triển khai vào quần chúng không phải là điều đơn giản. Bởi lẽ như những ý trước đã từng phân tích, mái tóc đối với người dân hai nước Nhật Bản – Việt Nam đến thời bấy giờ đã được gắn liền với những ý nghĩa to lớn về truyền thống, mái tóc dài là đại diện cho cả một hệ tư tưởng. Chính điều đó đã làm cho thực tế triển khai cuộc vận động cắt tóc ngắn ở hai nước không phải lúc nào cũng phát triển theo chiều hướng thuận lợi, lí tưởng mà luôn vấp phải tư tưởng chống đối, sự kháng cự từ quần chúng.

2. Những điểm khác nhau giữa hai phong trào
Bất cứ một dân tộc nào trong quá trình phát triển đều có sự tiếp nhận thành tựu văn minh bên ngoài. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử và những yếu tố văn hóa tiềm ẩn trong mỗi quốc gia nên quá trình tiếp nhận đó có những dị biệt cụ thể. Ở Nhật Bản và Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX cũng không ngoại lệ, tuy cùng nằm trong cao trào văn minh khai hóa nhưng phong trào học tập phương Tây cắt tóc ngắn ở hai quốc gia có những khác biệt hết sức đặc thù. Những yếu tố khác biệt đó không tồn tại riêng lẻ mà có mối quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau.

Thứ nhất, về bối cảnh, nếu xét trên phạm vi toàn cầu, phong trào cắt tóc ngắn ở Nhật Bản cuối thế kỉ XIX và cuộc vận động cắt tóc ngắn ở Việt Nam đầu thế kỉ XX tuy cùng hình thành, phát triển trong lúc chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ và trở thành hệ thống thế giới, các nước Âu – Mĩ bắt đầu mở rộng phạm vi ảnh hưởng và truyền bá nền văn minh của mình ra khắp các châu lục; nhưng khi xét trong giới hạn mỗi quốc gia thì điều kiện hoàn toàn không giống nhau. Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng và quyết định rất nhiều đến mục đích, tính chất, qui mô và ý nghĩa của sự kiện ở hai nước.

Nhật Bản là đất nước tiếp cận với văn minh phương Tây khá sớm và từng bước đã tiếp nhận nền văn minh ấy một cách chừng mực. Giữa thế kỉ XIX, khi người phương Tây ồ ạt đến các nước phương Đông, khác với các quốc gia khác, Nhật Bản nhận thức rõ được yếu kém hiện tại của mình và chủ động thực hiện “mở cửa” thông thương, tiếp thu những thành tựu tiến bộ của các nước tư bản phát triển. Sau khi lật đổ chính quyền Tokugawa và lên nắm chính quyền, Thiên Hoàng Minh Trị với chủ trương học tập phương Tây để “cận đại” hóa đất nước đã tiến hành hàng loạt cải cách nhằm xoá bỏ chế độ phong kiến và những tàn tích của nó, xây dựng một nước Nhật Bản mới – tư bản chủ nghĩa, phát triển và hiện đại. Với những chính sách đúng đắn và toàn diện, Nhật Bản đã giữ được nền độc lập của mình; chính vì thế phong trào văn minh khai hóa nói chung và phong trào cắt tóc ngắn nói riêng có điều kiện diễn ra trong hoàn cảnh hết sức thuận lợi, văn hóa được tiếp thu trong điều kiện hòa bình không chiến tranh nên ôn hòa, dễ tiếp thu; hơn nữa đó là những biện pháp nhằm tăng cường thành quả của công cuộc Duy tân nên dễ đi vào cuộc sống của quần chúng nhân dân, mang lại những kết quả rất khả quan. Không dừng lại ở đó, nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, Nhật Bản trở thành một nước “phú quốc cường binh”, tiến hành mở cửa Triều Tiên (1876), giành chiến thắng trong chiến tranh Nhật – Thanh (1894 – 1895) rồi chiến thắng trong chiến tranh Nga – Nhật (1904 – 1905), với những thành công liên tiếp và vang dội như thế Nhật Bản đã giành được ngôi Minh chủ châu Á từ tay Trung Quốc, thoát Á thành công, ngày càng củng cố vị trí vững chắc ở châu Á và vững bước trên con đường phấn đấu thành một cường quốc trên thế giới. Thắng lợi nối tiếp thắng lợi càng giúp cho Nhật Bản có cơ sở để củng cố niềm tin và phát huy hơn nữa thành quả các cuộc cải cách, tiếp thu văn minh phương Tây.

Ở Việt Nam, tình hình cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đầy biến động, tháng 8 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, chia nước ta thành ba khu vực với ba chế độ cai trị khác nhau. Nhân dân Việt Nam lâm vào tình cảnh “một cổ hai tròng” bị bóc lột hết sức nặng nề, đời sống vô cùng cơ cực. Tất cả những cuộc kháng chiến chống Pháp, từ phong trào Cần vương do vua Hàm Nghi lãnh đạo năm 1885 đến các cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám kéo dài qua đầu thế kỷ XX đều hoàn toàn thất bại. Tuy vậy, thực dân Pháp vẫn ra sức ổn định tình hình an ninh, đánh dẹp tàn dư của các cuộc khởi nghĩa còn sót lại, thực thi những biện pháp đàn áp, khủng bố hết sức dã man; điều đó càng làm cho tình cảnh nhân dân ta trước đây đã cơ cực thì nay càng bi đát. Các phong trào đã bị dập tắt, nhưng tinh thần diệt thù cứu nước trong nhân dân ta vẫn không thể bị khuất phục, tiếng vang từ các cuộc đấu tranh trước đó vẫn còn ảnh hưởng lớn và vang vọng mãi, vẫn thôi thúc mọi người cầm vũ khí đứng lên đấu tranh. Điều kiện lịch sử không thuận lợi như thế nên việc tiếp nhận văn hóa ở Việt Nam thời bấy giờ bị kiềm hãm, hạn chế. Hơn nữa, cuộc vận động cắt tóc ngắn lại học tập văn hóa phương Tây – văn hóa của kẻ “đô hộ, xâm lược” nên không thể tránh khỏi những định kiến của người dân, và lẽ tất nhiên kết quả đạt được không thể mỹ mãn như phong trào cắt tóc ngắn danpatsu ở Nhật Bản cuối thế kỉ XX – nơi có điều kiện hòa bình, ổn định và phát triển với những cải cách hiệu quả.

Thứ hai, về lực lượng lãnh đạo và hình thức tiến hành, những cải cách học tập phương Tây trong thời kỳ Meiji ở Nhật Bản đã được đánh giá là quá trình “cận đại hóa từ trên xuống”, bởi vì các chính sách được tiến hành bằng sự chỉ đạo và áp đặt của chính phủ. Phong trào cắt tóc ngắn danpatsu cũng không ngoại lệ, nó được khởi xướng và tiến hành bởi chính quyền Minh Trị – bộ phận đại diện cho giai cấp phong kiến cầm quyền. Còn ở Việt Nam, khởi xướng và lãnh đạo cuộc vận động cắt tóc ngắn không phải là giai cấp phong kiến đang thống trị mà là bộ phận những sĩ phu cấp tiến nhận thức được thời cuộc, tuy xuất thân từ chế độ khoa bảng phong kiến cũ nhưng có tư tưởng tiến bộ, biết quí trọng học thức phương Tây và mong muốn được áp dụng những tiến bộ đó vào công cuộc canh tân đất nước.

Chính điểm khác nhau này đã tạo được những điều kiện hết sức cần thiết cho phong trào cắt tóc ngắn ở Nhật Bản cuối thế kỉ XIX có thể đi sâu vào quần chúng và lan tỏa được trên một bình diện rộng lớn khác với cuộc vận động cắt tóc ngắn ở Việt Nam đầu thế kỉ XX. Chính phủ Minh Trị đã ban hành các văn bản pháp lý qui định cụ thể, bắt buộc thực hiện việc cắt tóc nhằm tạo cho phong trào có được hành lang pháp lý và thực thi đồng bộ trong cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương song song với các chế tài cứng rắn để hỗ trợ việc thi hành những chính sách được hiệu quả. Ngược lại, cuộc vận động cắt tóc ngắn ở Việt Nam không có được những thuận lợi đó. Ở Việt Nam cuộc vận động cắt tóc ngắn đầu thế kỉ XX không phải do giai cấp phong kiến cầm quyền hay lực lượng phương Tây lãnh đạo. Những kẻ xâm lược phương Tây tự cho mình là văn minh và núp dưới bóng khai hóa văn minh để đi xâm lược nước ta. Với âm mưu rõ ràng như thế nên các nước đế quốc phương Tây không thể nào thực hiện các biện pháp khai hóa như họ đã hứa. Cuộc vận động cắt tóc ở Việt Nam do tầng lớp sĩ phu lãnh đạo nên không có những biện pháp chỉ đạo cụ thể, rõ ràng. Phương thức lãnh đạo để cuộc vận động thực thi chủ yếu là hình thức tuyên truyền và vận động quần chúng nhân dân làm theo với mục đích thay đổi tư duy dân chúng nhằm thực hiện những việc to lớn hơn. Cuộc vận động này không những không được giai cấp phong kiến lãnh đạo, ủng hộ mà còn bị phản đối và đàn áp, bởi lẽ liên quan đến tính chất, mục đích của cuộc vận động cũng nhằm chống lại sự thống trị của giai cấp phong kiến hủ lậu, bạc nhược đương thời (sẽ được phân tích ở sau). Những hạn chế về quyền hạn của giai cấp lãnh đạo đã kéo theo những đặc điểm và kết quả thực tế của cuộc vận động trong lịch sử.

Thứ ba, về mục đích, phong trào văn minh khai hóa nói chung và phong trào cắt tóc ngắn danpatsu nói riêng ở Nhật Bản được thúc đẩy bởi tinh thần và ý thức quốc gia về nhu cầu tiếp thu những yếu tố tiên tiến của văn minh Tây phương nhằm canh tân đất nước với mục đích tối hậu là bảo vệ nền độc lập của Nhật Bản, cuộc vận động cắt tóc ngắn là một mắt xích trong chuỗi các cải cách được chính phủ Minh Trị thực thi hướng tới mục tiêu trên. Ngược lại ở Việt Nam, phong trào học tập văn minh phương Tây mà tiêu biểu là Phong trào Duy tân gồm tổng hợp các cuộc đấu tranh trên các lĩnh vực chính trị (đấu tranh đòi giảm thuế), kinh tế (lập các hội buôn, thương điếm), giáo dục (mở trường, cải cách giáo dục), văn hóa (vận động học tập văn minh phương Tây thay đổi cách ăn, mặc, ở)… để mở mang dân trí, khai hóa trí tuệ, thúc đẩy xã hội tiến bộ, mong muốn thay đổi, thức tỉnh được ý thức dân chúng về lòng tự hào dân tộc và tinh thần đấu tranh nhằm hướng đến mục đích cao nhất là đấu tranh đánh đuổi thực dân Pháp và xóa bỏ ách thống trị của phong kiến tay sai, tạo nền tảng xây dựng đất nước giàu mạnh, có thể sánh vai cùng các cường quốc tiến bộ khác. Mục đích của sự kiện khác nhau khiến cho bản chất vấn đề ở hai quốc gia cũng mang những màu sắc khác biệt rõ nét.

Thứ tư, về lực lượng tham gia, qua những nội dung cụ thể đã được phân tích trong phần diễn biến của phong trào cắt tóc danpatsu ở Nhật Bản cuối thế kỉ XIX và cuộc vận động cắt tóc ngắn ở Việt Nam đầu thế kỉ XX, chúng ta có thể nhận thấy rằng, lực lượng tham gia ở hai sự kiện cũng có những điểm khác biệt rõ rệt cả về thành phần và số lượng tham gia. Nếu trong phong trào cắt tóc danpatsu ở Nhật Bản thu hút nhiều thành phần, nhiều tầng lớp xã hội tham gia với số lượng đông đảo, thì yếu tố đó trong cuộc vận động cắt tóc ngắn tại Việt Nam chỉ tập trung ở một vài bộ phận giai cấp nhỏ lẻ.

Tại Nhật Bản, khi tiến hành các cải cách trong đó có việc cắt tóc ngắn để “khai hóa” đầu óc trong phong trào văn minh khai hóa, Thiên Hoàng Minh Trị đã chủ động học tập và thực hiện giống phương Tây để vận dụng vào các chính sách thực tế. Sau đó chính phủ lại áp đặt việc thực thi từ trên xuống – trong đó có các văn bản qui định bắt buộc cắt tóc ngắn danpatsu và chế tài xử lý những người không thực hiện cắt tóc – nên các chính sách đã đi sâu vào quần chúng một cách tự nhiên theo qui định luật pháp, có điều kiện lan rộng hợp pháp trong cả hệ thống từ Trung ương đến địa phương, từ quan lại đến mọi tầng lớp dân chúng. Ngay cả chính Thiên Hoàng lại là người làm gương, đi tiên phong trong việc cắt tóc ngắn danpatsu, mặc Âu phục phương Tây, đó là biểu tượng hết sức ý nghĩa trong việc vận động quần chúng thực hiện phong trào. Tóm lại, cuộc vận động ở Nhật Bản nằm trong chuỗi các chính sách cải cách đất nước nên diễn ra thuận chiều. Thêm vào đó, tư tưởng xã hội Nhật Bản giai đoạn này lại chịu ảnh hưởng tư tưởng khai sáng của hội trí thức Meirokusha cổ vũ phong trào văn minh khai hóa và giáo dục ý thức văn minh hoá, khuyến khích các tầng lớp nhân dân học tập phương Tây mà phong trào cắt tóc ngắn theo kiểu phương Tây lại nằm trong số đó. Điều này như một nguồn khích lệ tinh thần và đả thông tư tưởng dân chúng chấp nhận và làm theo những cải cách học tập văn minh phương Tây của chính quyền. Nói cách khác, do xuất phát từ một nguồn “chính thống”, có hệ thống luật lệ qui định cụ thể nên phong trào cắt tóc ngắn danpatsu ở Nhật Bản cuối thế kỉ XIX có sức lan tỏa mạnh mẽ trong quần chúng, thu hút đông đảo quần chúng tham gia, tạo ra sự thay đổi rõ nét đối với đời sống vật chất của người dân Nhật Bản.

Ở Việt Nam, lực lượng lãnh đạo phong trào là bộ phận sĩ phu yêu nước, vận động cắt tóc ngắn để hưởng ứng phong trào Duy tân, hưởng ứng cuộc vận động tân văn hóa, tân sinh hoạt. Hình thức mà họ lựa chọn và áp dụng để tiến hành chỉ có thể là tuyên truyền, vận động quần chúng, từ người này rồi lan sang người khác, rồi từ từ lan rộng ra trong phạm vi có thể, cứ thế mọi người “rủ rê” nhau (hình thức hát vè trong cuộc vận động cắt tóc ở Quảng Nam là một ví dụ điển hình). Hình thức tiến hành này đôi khi không thể mang lại hiệu quả bởi những hạn chế về mặt địa lý hay hạn chế về khả năng của chính những người trực tiếp đi tuyên truyền vận động. Chính do lực lượng lãnh đạo và biện pháp tiến hành như thế nên cuộc vận động cắt tóc ngắn ở Việt Nam không thể thu hút đông đảo quần chúng như phong trào cắt tóc ngắn danpatsu ở Nhật Bản – nơi phong trào được chính nhà nước đề ra chủ trương và khuyến khích nhân dân làm theo. Thêm vào đó, chính bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX cũng tác động không nhỏ đến bộ phận tham gia phong trào. Đầu thế kỉ XX, song song với chính sách “bảo hộ” và áp dụng những biện pháp cai trị hà khắc đối với đất nước ta, thực dân Pháp vẫn duy trì chế độ phong kiến vốn có nhằm thi hành chính sách cai trị “dùng người Việt trị người Việt”. Nói cách khác, tàn tích phong kiến vẫn còn tồn tại và nhân dân Việt Nam phải trong tình cảnh “một cổ hai tròng”. Như đã phân tích ở trên, cuộc vận động cắt tóc ngắn tiến hành song song các cuộc vận động khác và được “vẽ” trên nền tổng thể của “bức tranh” phong trào Duy tân nhằm xây dựng đời sống văn hóa mới, khai dân trí, chấn dân trị, hậu dân sinh để cuối cùng thực hiện mục đích tối hậu là đánh đuổi thực dân Pháp và lật đổ chế độ phong kiến tay sai, đem lại độc lập cho dân tộc. Do cuộc vận động mang yếu tố “phản phong” rõ nét như thế nên chắc chắn không thể nhận được sự đồng thuận của chính quyền phong kiến và của bộ phận những tầng lớp mang nặng suy nghĩ bảo tồn giá trị phong kiến truyền thống mà ngược lại còn tìm cách ngăn chặn, bắt bớ, đàn áp những người thực hiện cắt tóc ngắn. Số lượng, thành phần tham gia cuộc vận động cũng theo đó mà không thể tránh khỏi giảm sút.

Thứ năm, tính chất, qui mô của hai sự kiện cũng có điểm khác nhau cơ bản.
Tại Nhật Bản, cuộc vận động cắt tóc ngắn diễn ra vào cuối thế kỉ XIX. Về phía chính quyền thì năm 1871, lệnh cắt tóc ngắn bắt buộc đối với nam giới đã được chính phủ Meiji ban hành trên cả nước. Sau đó chính quyền các địa phương cũng dựa theo đó mà ra các chỉ thị phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của khu vực mình quản lý. Còn với các tầng lớp dân chúng, về mặt chủ động ý thức cũng háo hức đón nhận trào lưu văn hóa bên ngoài truyền vào và mặt bị động thì được thụ hưởng các chính sách từ trên ban xuống. Tuy xem xét vấn đề từ nhiều khía cạnh, có thể từ chính quyền hay thứ dân bình thường nhưng nếu xét trên tổng thể ý thức của một dân tộc thì phong trào cắt tóc ngắn danpatsu ở Nhật Bản cuối thế kỉ XIX cũng là phong trào mang tính chất tự giác, bởi lẽ nó được khởi phát trên tinh thần tự ý thức về nhu cầu tiếp thu những yếu tố tiên tiến của văn minh bên ngoài nhằm thực hiện nhiều mục đích. Hội đủ nhiều yếu tố, nhiều điều kiện thuận lợi về điều kiện lịch sử, lực lượng lãnh đạo và cách thức tiến hành, về mục tiêu, số lượng và thành phần tham gia cùng nhiều yếu tố khác, cuộc vận động cắt tóc ngắn cuối thế kỉ XIX ở Nhật Bản phát triển rộng khắp và có qui mô của một phong trào riêng lẻ, độc lập, một bộ phận phong trào văn minh khai hóa.

Còn ở Việt Nam, cuộc vận động cắt tóc ngắn đầu thế kỉ XX để hưởng ứng các phong trào vận động tân văn hóa, tân sinh hoạt, thực hiện nếp sống mới để tiến hành canh tân, đổi mới đất nước và thực hiện mục tiêu đấu tranh dân tộc dân chủ cao cả. Chính vì thế nên khi ý thức dân chúng lên cao, tư tưởng thay đổi theo hướng tích cực mà lại thiếu lãnh đạo liền bộc phát thành dân biến và dân biến cúp (cắt) tóc và dân biến xin xâu (dân quyền) là biểu hiện rõ nét của phong trào khi đi sâu vào quần chúng thực tế. Qua đó có thể nói rằng, cuộc vận động cắt tóc ngắn ở Việt Nam đầu thế kỉ XX mang tính chất tự phát. Thêm vào đó, khi xem xét lãnh đạo và cách thức tiến hành của sự kiện chủ yếu bằng hình thức tuyên truyền, vận động, “rủ rê” người khác làm theo – như cách mà các thanh niên Quảng Nam vẫn làm là cầm theo một chiếc kéo và đi khắp nơi, đến các nhà người quen để lôi kéo, kêu gọi cắt tóc ngắn – chúng ta có thể hiểu rõ hơn tính tự phát của phong trào. Những yếu tố khác của cuộc vận động như không có hệ thống luật lệ qui định chặt chẽ, thực hiện không đồng bộ ở các địa phương hay người cắt tóc cũng cắt theo cảm tính không cần kiểu cách như Nguyễn Văn Xuân đã chỉ rõ “…chỉ biết vanh tóc cho ngắn, cho gọn,…có khi phải hớt những năm bảy trăm cái đầu cho kịp gia nhập đoàn xin xâu” cũng là những biểu hiện rõ nét của tính chất tự phát. Do những hạn chế trên mà cuộc vận động cắt tóc ngắn đầu thế kỉ XX ở Việt Nam chỉ dừng lại ở qui mô của một cuộc vận động làm động lực thúc đẩy các phong trào khác – cuộc vận động cắt tóc ngắn trong tổng thể Phong trào Duy tân nằm trong cao trào văn minh khai hóa.

Thứ sáu, chính yếu tố văn hóa và gốc tư tưởng truyền thống trong nội tại mỗi quốc gia đã làm cho do phong trào ở hai quốc gia mang những màu sắc chuyên biệt.
Nhật Bản là quốc gia luôn nhạy bén với cái mới, không ngừng học hỏi và tiếp thu văn minh bên ngoài. “Có thể nói rằng không có dân tộc nào nhạy bén về văn hóa nước ngoài cho bằng người Nhật. Họ không ngừng theo dõi những diễn tiến trên thế giới bên ngoài, đánh giá và cân nhắc ảnh hưởng của những trào lưu và xu hướng chính đối với Nhật Bản. Một điều đáng chú ý khác là khi họ biết trào lưu nào đang thắng thế thì họ có khuynh hướng chấp nhận, học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó, không để mất thời cơ” . Thời cận đại, khi làn sóng văn minh phương Tây tràn vào một cách ồ ạt, tuy ban đầu thực hiện biện pháp “đóng cửa” nhưng người Nhật vẫn không đoạn tuyệt với thế giới bên ngoài, vẫn để hé mở đủ để họ có thể tiếp thu văn minh Tây phương; và đó cũng không phải là lần đầu Nhật Bản chủ động tiếp thu văn minh bên ngoài để phát triển đất nước. Vào thế kỉ VII, VIII, khi nền văn hóa Tùy – Đường phát triển rực rỡ, Nhật Bản cũng không ngừng học hỏi những tinh hoa để làm giàu thêm cho nền văn hóa bản địa. Tới thời hiện đại, thêm một lần nữa người Nhật lại tích cực thâu lượm các thành tựu khoa học kĩ thuật của nhân loại, vươn lên thành một trong những cường quốc hàng đầu thế giới trên nhiều lĩnh vực. Học cái gì, học như thế nào cũng là nét độc đáo khi nghiên cứu cách thức người Nhật tiếp cận với văn minh bên ngoài. Họ luôn xem xét cẩn trọng và không nhất thiết phải học “những cái hơn” mà chỉ chú ý đến “những cái nhất”, sau đó lại cải tiến, bồi bổ và biến nó thành của mình, chính điều đó đã làm cho Nhật Bản sở hữu được những giá trị độc đáo luôn khiến cho thế giới ngưỡng mộ. Do đó, khi nghiên cứu Nhật Bản thời kì văn minh khai hóa, chúng ta cũng không quá ngỡ ngàng khi phong trào cắt tóc ngắn danpatsu đạt được những kết quả như trên.

Ở Việt Nam thì khác, giai đoạn đầu thế kỉ XX chế độ phong kiến cùng những giá trị tích lũy lâu dài của nó vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm và ăn sâu vào tâm tưởng, cách nghĩ, cách sống của mỗi người dân Việt. Chế độ phong kiến cùng hệ tư tưởng Nho giáo đã cấu kết vững chắc thành một ý thức hệ – ý thức về những giá trị truyền thống, để rồi chúng được biểu hiện rõ nét qua những điều bình thường nhất trong đời sống hàng ngày như cách ăn, mặc, ở, thói quen sinh hoạt…, búi tóc dài cũng không nằm ngoài những giá trị đó. Đối với người Việt Nam, mái tóc dài là sự gắn kết nhiều giá trị trong một biểu tượng. Trước hết, để có được một mái tóc dài là cả một quá trình lâu dài về thời gian nuôi dưỡng, chăm sóc, nó tồn tại và phát triển cùng với quãng đời con người sinh sống. Chính điều đó đã tự tạo ra cho nó những giá trị gần gũi, thân thuộc. Sau nữa, mái tóc – đầu tóc là nơi để thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, là biểu tượng đi kèm với tư tưởng “trung – hiếu”. Mái tóc với người dân Việt Nam đã vượt qua giới hạn của một bộ cơ thể thông thường. Cuộc vận động cắt tóc ngắn đầu thế kỉ XX do tầng lớp sĩ phu tiến bộ khởi xướng và lãnh đạo, chính họ là những người được đào tạo từ khoa cử phong kiến mà đi ngược lại cách nghĩ, cách làm phong kiến. Họ đề xướng, vận động cắt bỏ đi mái tóc dài chính là đòn đánh trực tiếp nhằm giáng thẳng vào chế độ phong kiến cùng những suy nghĩ thủ cựu, lạc hậu. Đối với nhiều cách nghĩ, điều đó lại đồng nghĩa với việc phản lại dân tộc, phản lại chính cội nguồn của bản thân. Vì cách nghĩ đó nên thực tế cuộc vận động cắt tóc ngắn đã vấp phải những kháng cự từ những lực lượng yêu chuộng phong kiến. Hay nói cách khác, mái tóc dài có một “tấm bình phong” hậu thuẫn về tư tưởng là hệ tư tưởng phong kiến nên những giá trị đó càng khó bị phá vỡ. Khi cuộc vận động đi vào quần chúng sự tiếp nhận cũng khá dè dặt bởi hệ thống pháp luật phong kiến khắt khe.

LẬP BẢNG
Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
Kỳ Vũ
 
Bài viết: 49
Ngày tham gia: Thứ 5 09/10/14 1:07
Cảm ơn: 5 lần
Được cám ơn: 8 lần

Re: SO SÁNH PHONG TRÀO “VĂN MINH HÓA” Ở NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM

Gửi bàigửi bởi tranthimongcam » Thứ 5 30/10/14 18:15

trong bài tập đưa ra định nghĩa,Anh vẫn chưa đầy đủ hết thì phải,mình phải đưa ra sơ đồ cấu trúc và lập bảng đối chiếu.Anh bổ sung thêm nha.
RANDOM_AVATAR
tranthimongcam
 
Bài viết: 56
Ngày tham gia: Thứ 5 09/10/14 10:09
Cảm ơn: 5 lần
Được cám ơn: 4 lần

Re: SO SÁNH PHONG TRÀO “VĂN MINH HÓA” Ở NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM

Gửi bàigửi bởi Nguyễn Thị Thu Hằng » Thứ 5 30/10/14 22:09

Bài tập 5 hình như chỉ cần lập bảng thôi hay cần phải ghi bài cụ thể ra vậy cả nhà? Thấy bạn Kỳ làm kỳ công ghê. Nhưng bài 4 chọn khái niệm văn minh khai hoá rồi sao bài 5 không chọn luôn khái niệm đó cho có sự thống nhất K?
Hình đại diện của thành viên
Nguyễn Thị Thu Hằng
 
Bài viết: 21
Ngày tham gia: Thứ 3 07/10/14 23:33
Cảm ơn: 9 lần
Được cám ơn: 2 lần

Re: SO SÁNH PHONG TRÀO “VĂN MINH HÓA” Ở NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM

Gửi bàigửi bởi THANH THỦY » Thứ 6 31/10/14 22:51

Chị nghĩ là lập bảng thôi, vì khi lập bảng là đã có sự so sánh.
Chắc bạn Kỳ làm cho kỹ hơn đó mà.
RANDOM_AVATAR
THANH THỦY
 
Bài viết: 29
Ngày tham gia: Thứ 4 08/10/14 12:29
Cảm ơn: 9 lần
Được cám ơn: 2 lần

Re: SO SÁNH PHONG TRÀO “VĂN MINH HÓA” Ở NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM

Gửi bàigửi bởi Kỳ Vũ » Thứ 7 01/11/14 1:19

Nguyễn Thị Thu Hằng đã viết:Bài tập 5 hình như chỉ cần lập bảng thôi hay cần phải ghi bài cụ thể ra vậy cả nhà? Thấy bạn Kỳ làm kỳ công ghê. Nhưng bài 4 chọn khái niệm văn minh khai hoá rồi sao bài 5 không chọn luôn khái niệm đó cho có sự thống nhất K?


Thấy như yêu cầu là tiến hành so sánh á Hằng, đề tài K là so sánh nên mần luôn. còn khái niệm thì thấy cái nào cảm thấy hay là làm á Hằng, với lại so sánh bài tập này là tập trung vô trọng tâm của mình luôn, thêm nữa là văn mình khai hóa là phong trào rộng lớn nên bị dàn trải á!
RANDOM_AVATAR
Kỳ Vũ
 
Bài viết: 49
Ngày tham gia: Thứ 5 09/10/14 1:07
Cảm ơn: 5 lần
Được cám ơn: 8 lần

Re: SO SÁNH PHONG TRÀO “VĂN MINH HÓA” Ở NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM

Gửi bàigửi bởi Kỳ Vũ » Thứ 7 01/11/14 1:22

THANH THỦY đã viết:Chị nghĩ là lập bảng thôi, vì khi lập bảng là đã có sự so sánh.
Chắc bạn Kỳ làm cho kỹ hơn đó mà.


hì, cái bài tập so sánh của em có vẻ khiến dân tình phân vân về cách làm quá...e đọc đề thấy thế nên làm rõ ra luôn á chị Thủy ơi, đề tài em là so sánh mà, nên phân tích hơi kĩ tí!hì.. :) :idea:
RANDOM_AVATAR
Kỳ Vũ
 
Bài viết: 49
Ngày tham gia: Thứ 5 09/10/14 1:07
Cảm ơn: 5 lần
Được cám ơn: 8 lần

Re: SO SÁNH PHONG TRÀO “VĂN MINH HÓA” Ở NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM

Gửi bàigửi bởi Kỳ Vũ » Thứ 7 08/11/14 2:17

Bài tập số 6: Chọn 1 nội dung thích hợp trong đề tài để lập bảng, một nội dung khác để lập mô hình

Lập bảng
Hình ảnh

Lập mô hình
Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
Kỳ Vũ
 
Bài viết: 49
Ngày tham gia: Thứ 5 09/10/14 1:07
Cảm ơn: 5 lần
Được cám ơn: 8 lần

Trang trướcTrang kế tiếp

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến7 khách