Văn tự Việt Nam qua các thời kì

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Văn tự Việt Nam qua các thời kì

Gửi bàigửi bởi PhanDuocThao » Thứ 6 15/05/09 16:21

[center]Văn tự Việt Nam qua các thời kì
( Đề cương chi tiết )





I. Mở đầu[/center]



1. Lí do chọn đề tài

- Lí do khách quan : Ngôn ngữ và chữ viết là một trong những phương tiện quan trọng nhất lưu lại và truyền bá văn hóa từ thời này qua thời khác, từ nơi này sang nơi khác; giúp cho lịch sử xã hội và lịch sử văn minh thế giới được phát triển liên tục và giúp cho thế hệ sau học tập được những kinh nghiệm của thể hệ đi trước, kể cả những thất bại để không giẫm phải vết xe đổ. Tìm hiểu quá trình phát triển chữ viết cũng chính là tìm hiểu nền văn hóa tinh hoa của một dân tộc.

- Lí do chủ quan : Chỉ là bản thân người tìm hiểu đề tài muốn biết Việt Nam từ xưa đến nay đã sử dụng những loại văn tự nào.

2. Mục đích, nhiệm vụ

- Hệ thống lại quá trình hình thành các loại chữ viết ở Việt Nam, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu những tài liệu cổ được dễ dàng hơn.

- Chữ viết thể hiện trình độ phát triển, là một tiêu chí để thể hiện văn minh. Một đất nước càng phát triển thì chữ viết lại càng có nhiều ý nghĩa, vì thế, qua đề tài này có thể giúp mọi người hiểu rõ hơn về văn hóa Việt Nam.

3. Phương pháp nghiên cứu

Chủ yếu là theo phương pháp lịch sử-logic. Dùng không gian làm trục quan sát chính, đứng trên phương diện lịch sử văn hóa để phân tích vấn đề.

4. Hướng tiếp cận tư liệu

- Thông qua Internet : Các diễn đàn về văn hóa Việt Nam, văn học và ngôn ngữ, lịch sử phát triển văn hóa,…

- Thông qua sách vở : Các công trình nghiên cứu về văn hóa-lịch sử Việt Nam từ thời thượng cổ.

- Tìm hiểu các hiện vật, bút tích còn lưu lại hiện nay.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Cung cấp một cái nhìn tổng quan và đầy đủ hơn về các loại văn tự chính
thống đã từng lưu hành ở Việt Nam, qua đó làm nổi bật hơn sức sáng tạo trong nền văn hóa dân tộc.

- Góp phần nâng cao kiến thức văn hóa và tăng khả năng tìm hiểu, phân tích một chủ đề cùng những vấn đề liên quan của người thực hiện. Giúp nhận thức rõ vai trò của chữ viết trong lịch sử.

6. Bố cục của đề tài

- Phần mở đầu : Gồm sáu phần ( Như trên )

- Phần nội dung : Gồm ba vấn đề chính

+ Chương I : Các giả thuyết về nguồn gốc

+ Chương II : Quá trình phát triển tiếng Việt

+ Chương III : Các loại chữ viết

- Phần kết luận.





[center]II. Nội dung[/center]



1. Lời dẫn

- Trên đất Việt có năm mươi bốn dân tộc anh em. Mỗi dân tộc có tiếng nói riêng, chữ viết riêng. Tuy nhiên do dân tộc Việt (Kinh) chiếm trên 80% dân số, nên tiếng nói và chữ viết của dân tộc Việt được sử dụng rộng rãi nhất, trở thành tiếng nói, chữ viết phổ thông và là ngôn ngữ chính thức của Việt Nam.
- Tiếng Việt, còn gọi là Việt ngữ, là ngôn ngữ chính thức của dân tộc Việt (còn gọi là dân tộc Kinh) và cũng là ngôn ngữ quốc gia của nước Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85%-90% dân số Việt Nam, cùng với hơn hai triệu Việt Kiều ở hải ngoại, mà phần lớn là người Mỹ gốc Việt.


2. Nội dung

2.1. Các giả thuyết về nguồn gốc chữ viết

- Tiếng nói là nhịp cầu cảm thông để trao đổi tư tưởng trong sinh hoạt xã hội giữa con người cùng dòng giống xứ sở. Có con người là có ngôn ngữ. Ngôn ngữ văn tự có ảnh hưởng rất lớn và quan hệ mật thiết đến sự hưng vong của giống nòi. Dân tộc có một trình độ văn hóa cao, càng văn minh thì họ lại càng chú trọng đến ngôn ngữ văn tự.

- Dân tộc ta, ngót năm ngàn năm lịch sử, có cùng chung một gốc, cùng chung một tiếng nói. Từ Bắc chí Nam, ngoại trừ một số dân thiểu số còn dùng thổ âm và một số địa phương dùng phương ngữ hay phát âm có đôi chút sai biệt, chúng ta đều nói, nghe và hiểu một thứ tiếng, đó là tiếng Việt Nam. Vậy tiếng Việt có tự bao giờ!?

2.1.1. Nguồn gốc từ thần thoại và truyền thuyết

Theo truyền thuyết, chữ viết đầu tiên của nước ta có từ thời Hùng Vương mà giới học giả gọi là chữ khoa đẩu. Mà nguồn gốc dân tộc Việt trong Hồng Bàng thị đã ghi rõ dân tộc Việt và dân tộc Hán vốn từ một gốc mà ra, đều là con cháu của Thần Nông. Chữ viết thời bấy giờ ( nếu có ) có lẽ là một loại văn tự tượng trưng cũng như chữ giáp cốt của Trung Hoa cổ. Đây là sự tương đồng của nền văn hóa nông nghiệp phương Đông.

2.1.2. Các giả thiết khác

- Người Việt là một chủng trong tộc Bách Việt của người Hoa Hạ cũ, di cư về phương Nam và định cư ở Đông Nam Á.

- Vốn là người bản địa ở Đông Nam Á, do điều kiện tự nhiên khiến khu vực này trở thành nơi xuất hiện dấu tích người tiền sử sớm nhất thế giới. Khi nhắc đến nguồn gốc của Việt ngữ, ông Phạm Thế Ngũ cũng có nêu giả thuyết là người Việt có cùng tông tổ với người Mường, vì các nhà khảo cổ, khi xét về phong tục, lịch sử cũng như ngôn ngữ của người Việt, đã thấy có rất nhiều điểm giống với người Mường. Hiện nay, trong tiếng Việt có rất nhiều tiếng tương tự với tiếng Mường, và có thể xem đó là hình thức tối cổ của tiếng Việt tương đương.

- Về vấn đề nguồn gốc dân Việt, ngôn ngữ Việt, từ lâu đã có những nhà bác học Pháp thuộc viện Bác Cổ Viễn Ðông, các sử gia, ngữ học gia, giáo sư Việt Pháp khổ công tìm tòi nghiên cứu, nhưng vẫn chưa tìm được một giải đáp thoả đáng. Và họ đã đưa ra một số ức thuyết khá hỗn loạn : Kari Himy cho rằng tiếng ta có bà con với tiếng Môn, H. Maspe'so bỏ Việt Ngữ vào chung với Thái ngữ, E. Souvignet cho rằng tiếng Việt có liên hệ với Mã Lai, Bs. Reynand nhấn mạnh về ngữ vựng Miên Việt giống nhau quá nhiều, riêng Gs. Lê Ngọc Trụ và Sử gia Nguyễn Phương khẳng định tiếng ta là tiếng Tàu, Sg. Phạm Văn Sơn kết luận Việt ngữ với Việt chủng là một chủng tộc, một ngôn ngữ riêng biệt.

 Muốn nói cho chính xác nguồn gốc của một dân tộc cũng như sự ra đời chữ viết của nó thì cũng thật là khó, nhưng dựa theo trình độ văn hóa từ thời tiền cổ, mà đỉnh cao là nền văn hóa Đông Sơn thì có khả năng chữ viết cũng đã phát triển ở nước ta từ rất sớm.

2.2. Quá trình phát triển tiếng Việt

2.2.1. Tiếng Việt-Mường

- Tiếng Việt Mường như nhiều người đã biết, được hình thành cách đây gần ba ngàn năm do kết quả của quá trình cộng cư giữa người Môn-khmer với người Tày cổ, hình thành một cộng đồng dân cư mới ở tam giác châu thổ sông Hồng, sông Mã.

- Ngôn ngữ Việt-Mường chung gồm hai phương ngữ chính là tiếng kẽ chợ ở đồng bằng và tiếng miền ngược ở trung du miền núi. Khi nhà Hán đặt ách thống trị ở Giao Chỉ (đồng bằng Bắc bộ) vào năm 111 sau Công Nguyên, cư dân ở đồng bằng đã tiếp xúc với văn hóa Hán thông qua bộ máy cai trị của các quan thái thú. Với chính sách đồng hóa và nô dịch, họ đã mở trường học chữ nho, bắt người Việt sống theo điển chế Trung Hoa... do ảnh hưởng một ngàn năm đô hộ của người Trung Hoa mà tiếng kẻ chợ đã trở thành tiếng Việt và tiếng miền ngược trở thành tiếng Mường ngày nay.

2.2.2. Sự phát triển chữ viết trong thời Bắc thuộc và thời phong kiến

- Vào thế kỷ X, khi người Việt giành được độc lập và dựng nên quốc gia Đại Việt thì tiếng Việt trở thành tiếng phổ thông và tách khỏi tiếng Mường. Suốt mười thế kỷ độc lập, các triều đại quân chủ Việt Nam tự nguyện tiếp nhận mô hình văn hóa Hán một cách chủ động và thống nhất trong cả nước.

- Chữ Hán được dùng làm quốc tự trong triều đình, trong thi cử, trong văn chương bác học. Đó là thứ chữ của giai tầng thống trị được suy tôn trọng vọng và là chữ viết chính thống.

- Song song với chữ Hán, tiếng Việt tồn tại trong quảng đại quần chúng và là quốc ngữ. Do đó dẫn đến một nghịch lý: quốc tự của triều đình không phải để ghi quốc ngữ. Vì vậy người Việt phải mượn ký tự chữ Hán để ghi tiếng Việt, đánh dấu sự ra đời của chữ Nôm.

- Tiếng Việt thời đó hình thành hai lớp từ mượn Hán và lớp Hán Việt là những từ mượn Hán và chưa Việt hóa triệt để.Chữ Nôm do vậy chưa bao giờ được thống nhất về cách ghi, mỗi người có thể ghi khác nhau. Điều đó lý giải tại sao cùng một tác phẩm chữ nôm lại có nhiều cách "luận" và hiểu khác nhau.

2.2.3. Chữ viết tiếng Việt thời hiện đại

- Đến thế kỷ thứ XVII, với mục đích du nhập Thiên Chúa giáo vào Việt Nam, các giáo sĩ người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha được sự giúp đỡ của các giáo sĩ người Việt đã La tinh hóa chữ viết để truyền giáo (thường thì chữ viết gắn liền với tôn giáo), đồng thời tách người Việt ra khỏi khuôn viên của chữ vuông và văn hóa Khổng giáo.

- Quá trình xây dựng chữ viết trên cơ sở chữ La tinh mà ngày nay gọi là chữ quốc ngữ đã lặp lại quy trình sáng tác chữ nôm. Alexandre de Rhodes (Bá Đa Lộc) và các giáo sĩ người Âu phải giải quyết hai vấn đề: một là thêm những dấu phụ để phù hợp với cách đọc của người Việt khác với tiếng La tinh, tiếng Bồ Đào Nha..., hai là (khác với chữ nôm) phải ghi riêng biệt từng tiếng khác với cách viết liền như tiếng châu Âu đa tiết. Quá trình này được phản ánh qua ba cuốn từ điển
An Nam - Bồ Đào Nha (Gaspar de Amaral), Bồ Đào Nha - An Nam (Antoine de Barbosa) và An Nam - Bồ Đào Nha - La tinh (A. de Rhodes - 1651).

2.2.4. Kết luận

- Chính vì địa vị không chính thức và tính không chuẩn hóa của chữ nôm mà chữ quốc ngữ dễ dàng thay thế. Hơn nữa hệ chữ La tinh lại rất dễ đọc và tiện lợi. Vì vậy, lúc đầu các cụ đồ Nho đã hết sức sỉ vả, coi nó là thứ chữ con giun, con dế của đế quốc. Sau này khi thấy nó tiện lợi, học nhanh, dễ chuyển tải các nội dung yêu nước thì chính các cụ Đông kinh Nghĩa thục trong khi chống "cựu học", cổ vũ "tân học" đã phát động việc truyền bá chữ quốc ngữ và văn minh châu Âu"Mở tân giới xoay nghề tân học.

- Trong bối cảnh quốc tế hóa hiện nay, tiếng Việt được đánh giá như một trong những nhân tố quan trọng, đóng vai trò tích cực vào quá trình hội nhập của Việt Nam với thế giới.


2.3. Các loại chữ viết

2.3.1 Chữ Khoa Đẩu

- Theo truyền thuyết và dã sử, từ thời xa xưa người Việt cổ đã có chữ viết riêng. Sử sách Trung Quốc đã mô tả hình dạng thứ chữ viết này trông như "đàn nòng nọc đang bơi".

- Với trình độ phát triển của quốc gia Văn Lang-Âu Lạc, việc người Việt cổ có thể sử dụng một hệ thống chữ viết riêng trong lĩnh vực quản lí, điều hành xã hội là một điều hợp lí. (trang 38, Ngữ văn 10, tập II, NXB Giáo dục, 2006)

- Gần đây người ta đã tìm được nhiều bằng chứng chứng tỏ chữ khoa đẩu là có thật, thậm chí nhiều người còn cho rằng chữ quốc ngữ ngày nay là La-tinh hóa chữ khoa đẩu nhưng điều này chưa được kiểm nghiệm chắc chắn.

2.3.2. Chữ Hán

- Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên thứ nhất trước công nguyên. Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ được số hiện vật như đỉnh cổ có khắc chữ tượng hình (chữ Hán cổ).

- Ðến thế kỷ VII-XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc. Do Việt Nam bị ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán.

- Từ sau thế kỷ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc.

2.3.3. Chữ Nôm

- Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt. Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi.

- Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn.

+ Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật... xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán. Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ VI).

+ Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt.

- Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh. Theo sử sách đến nay còn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn Thiền Tông Bản Hạnh.

- Ðến thế kỷ XVIII - XIX chữ Nôm đã phát triển tới mức cao, át cả địa vị chữ Hán. Các tác phẩm như Hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm bằng chữ Nôm. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ.

 Như vậy, có thể thấy chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về văn hóa.

2.3.4. Chữ Quốc Ngữ

- Việc chế tác chữ Quốc Ngữ là một công việc tập thể của nhiều linh mục dòng tên người châu Âu, trong đó nổi bật lên vai trò của Francesco de Pina, Gaspar d'Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre de RHODES (Avignon, 1591 - Perse, 1660 ).

+ Trong công việc này có sự hợp tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu). Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ. Ðặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức in ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt Nam - Bồ Ðào Nha - La Tinh (trong đó có phần về ngữ pháp tiếng Việt) và cuốn Phép giảng tám ngày.

+ Xét về góc độ ngôn ngữ thì cuốn từ điển đã diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài (in chung trong từ điển) có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp. Còn cuốn Phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII.

- Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt Nam - Bồ Ðào Nha - La Tinh đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến từ điển Việt Nam - Bồ Ðào Nha - La Tinh (1772), tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Behaine ( Bá Ða Lộc) thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay.




[center]III. Kết luận[/center]


- Chữ viết Việt Nam có một lịch sử phát triển lâu đời, thể hiện một nền văn hóa đã sớm phát triển từ thời xa xưa, mà đỉnh cao văn hóa cổ đại là nền văn hóa Đông Sơn.

- Thể hiện sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa Trung Quốc lên Việt Nam.

- Không có một tài liệu thực sự chính xác nào cho thấy sự tồn tại rõ ràng của thời đại Hùng vương, cũng như nguồn gốc chữ viết từ thời xa xưa đó; tuy nhiên, các loại chữ viết Việt Nam kể từ sau thời Bắc thuộc đến nay cũng đã thể hiện một nền văn hóa vô cùng phát triển của dân tộc Việt Nam. Một nền văn hóa có sức sáng tạo và biết tiếp thu một các chọn lọc các tinh hoa văn hóa thế giới, mà chữ quốc ngữ là một ví dụ điển hình.








Nguồn tư liệu

1. Wikipedia.org.vn
2. Việt Nam Quốc Sử Diễn Ca, Lê Ngô Cát và Phạm Ðình Toái.
3. Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim.
4. Việt Nam Tinh Hoa, Thái văn Kiểm.
5. Nguồn gốc dân tộc Việt Nam, Ðào Duy Anh, 1950.
6. Vườn Địa Đàng phương Đông ( Eden in the East : The Drowned Continent of the Southeast Asia, Stephen Oppenheimer )
RANDOM_AVATAR
PhanDuocThao
 
Bài viết: 15
Ngày tham gia: Thứ 3 25/03/08 12:41
Đến từ: Ngôi nhà trên ngọn đồi hoa đỏ giữa những cánh rừng tuyết phương Bắc
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron