LỄ HỘI NGHINH ÔNG-NÉT VĂN HÓA NGƯỜI HOA
TẠI PHAN THIẾT- BÌNH THUẬN
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài
Văn hóa dân tộc, đó là cả một niềm tự hào lớn lao của mỗi người con đất Việt, Bình Thuận cũng vậy, nơi đây được thiên nhiên ưu đãi, ban cho các điều kiện tự nhiên thuận lợi về đất đai, khí hậu, tài nguyên. Bình Thuận không có bề dày văn hóa truyền thống như những địa phương khác, nhưng bù lại diện mạo văn hóa nơi đây khá phong phú và đa dạng, biết cách dung nạp tinh hoa văn hóa của các vùng, miền trên cả nước, để làm giàu cho diện mạo văn hóa bản địa.
vùng đất Bình Thuận với khá nhiều dấu ấn về phong tục tập quán của các dân tộc với sự đa dạng của các lễ hội cả về quy mô lẫn giá trị văn hóa. Hầu hết các lễ hội địa phương đều gắn liền với phong tục tập quán, tín ngưỡng, đời sống tâm linh của các dân tộc trong tỉnh như lễ hội Kate của người Chăm theo đạo Balamon, lễ hội Ranuwan của người Chăm theo đạo Bà Ni, lễ hội cầu ngư của người Kinh… Và song song với nhiều lễ hội truyền thống của các dân tộc anh em khác trên đất nước ta, thì lễ hội Nghinh Ông của người Hoa sống tại thành phố Phan Thiết- Bình Thuận cũng là một lễ hội như thế.
Lễ hội Nghinh Ông là nét sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng người Hoa cư trú tại Phan Thiết–Bình Thuận nói riêng và của cộng đồng người Hoa cư trú khắp mọi miền đất nước ta nói chung. Thường niên, cứ hai năm lễ hội lại đáo lệ một lần, được tổ chức ngày càng rộng rãi và quy mô hơn. Đây là một trong những nét văn hóa tinh thần quý báu của người Hoa được gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Hiện nay, các đề tài nghiên cứu về người Hoa, nhưng hầu hết chưa có nhiều đề tài nghiên cứu chuyên sâu về lễ hội này. Vì vậy,tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài và với đề tài này sẽ giúp mọi người có cái nhìn toàn diện và hệ thống về các nghi thức, nghi lễ, các nội dung cũng như các giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội Nghinh Ông của người Hoa tại Phan Thiết-Bình Thuận.
Đề tài còn góp phần phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội, làm cho lễ hội không chỉ là nét sinh hoạt văn hóa của người Hoa mà còn góp phần thông qua lễ hội còn nhằm quảng bá hình ảnh và du lịch tỉnh Bình Thuận và hình ảnh văn hóa Việt Nam.
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Hoa. Phần lớn các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu về lịch sử phát triển, quá trình di dân, các hoạt động kinh tế, thương mại, văn hóa, tổ chức đời sống xã hội. Nghiên cứu về văn hóa bao gồm rất nhiều nghiên cứu về phong tục tập quán, tín ngưỡng tâm linh…
Trong khi đó lễ hội Nghinh Ông là lễ hội tập trung gần như đầy đủ những phong tục tập quán, tâm linh tín ngưỡng, biểu hiện rõ rệt và cụ thể nhất những đặc trưng về văn hóa của cộng đồng người Hoa thì hầu như chưa có một đề tài nào tập trung nghiên cứu và tiếp cận.
Nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam có :
“Người Hoa ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Huy, năm 1993 có đề cập đến nhiều vấn đề cơ bản như: nhập cư, quốc tịch, dân số, chính sách đối với người Hoa qua các thời kỳ và vị trí của người Hoa trong nền kinh tế Việt Nam.
“Góp phần tìm hiểu văn hóa người Hoa ở Nam Bộ” của Phan An (chủ biên,năm 2006) cung cấp cho người đọc những hiểu biết cơ bản về nhiều khía cạnh văn hóa của dân tộc Hoa ở Nam Bộ.
“Văn hóa người Hoa ở Tp.Hồ Chí Minh” của Trần Hồng Liên (chủ biên, năm 2007) nghiên cứu đặc trưng văn hóa của người Hoa qua các dạng thức văn hóa vật thể và phi vật thể bao gồm các lĩnh vực: Văn hóa-văn nghệ, tín ngưỡng- tôn giáo, hội họa, thể thao.
“Chùa Hoa ở Tp. HCM” của Phan An và các tác giả (1990) nghiên cứu về quá trình hình thành, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc và các hình thức thờ cúng cộng đồng.
“Người Hoa ở Nam Bộ” của Phan An (2005) nêu tổng quan sự hình thành cộng đồng người Hoa ở Tp.HCM, tổ chức bang, hội và chủ yếu là đi sâu vào các tín ngưỡng, tôn giáo của người Hoa.
“Văn hóa người Hoa ở Nam Bộ-tín ngưỡng và tôn giáo” của Trần Hồng Liên (2005) tập trung nghiên cứu các tín ngưỡng tôn giáo, giao lưu văn hóa tín ngưỡng- tôn giáo, các văn khắc và các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa.
“Những đóng góp của đồng bào người Hoa tại Tp.HCM trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa ở Thành phố” của Trần Thị Thanh Huyền (2007) tác giả đánh giá cao vai trò, những đóng góp của các hội quán trong các lĩnh vực.
Tác phẩm “Đạo thánh ở Việt Nam” của Vũ Ngọc Khánh, Nxb văn hóa-Thông tin, năm 2006 đã khái quát sơ lược về tục thờ các vị thánh ở Việt Nam, đó là những người có công lao to lớn đối với đất nước và nhân dân, được nhân dân suy tôn thành các vị thánh che chở cho cuộc sống của họ. Ở mỗi nơi nhân dân đều có vị thánh riêng của mình. Ngoài các vị thần, thánh có nguồn gốc từ Việt Nam, còn có các vị thần, thánh được truyền tụng từ bên ngoài vào theo những luồng di cư văn hóa, tiêu biểu nhất là Thánh Đế Quân (Trung Quốc) được nhân dân ta thờ tự ở khắp nơi và hầu hết ở mỗi gia đình đặc biệt là trong tín ngưỡng của người Hoa, Thánh Đế Quân giữ một vai trò rất quan trọng.
Đối với người Hoa, quan thánh Đế có vai trò và vị trí lớn trong đời sống tinh thần của họ. Ông là người thể hiện cho lòng trung nghĩa, trọng chữ tín, thờ Ông người ta luôn nhắc nhở mình sống sao cho có đạo đức, lẽ phải, hợp tình hợp lý vì nó chính là lẽ sống, là thước đo chuẩn mực của mỗi con người, hướng con người đến những giá trị sống cao đẹp hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của đề tài là nghiên cứu các giá trị văn hóa đặc sắc trong lễ hội Nghinh Ông để qua đó xác định rõ vai trò và tầm quan trọng của các giá trị văn hóa văn hóa truyền thống của người Hoa trong cộng đồng 54 dân tộc anh em tại Việt Nam.
Thứ nhất: làm sáng tỏ những vấn đề triết lý văn hóa dân gian biểu hiện trong lễ hội thông qua những nét văn hóa đặc sắc, đặc trưng mà lễ hội đem lại.
Thứ hai: làm sáng tỏ vai trò và ảnh hưởng của lễ hội đối với đời sống tinh thần của cộng đồng người Hoa ở Phan Thiết- Bình Thuận nói riêng và ở Việt Nam nói chung, thông qua đó đúc kết khái quát hóa để hiểu thêm về tư tưởng đời sống tinh thần và nét văn hóa đặc trưng riêng của họ.
Thứ ba: nêu lên các vấn đề còn tồn đọng trong lễ hội, những nét văn hóa mang tầm ảnh hưởng sâu sắc đến thực tiễn tinh thần.
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu về lễ hội Nghinh Ông.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các nét văn hóa đặc sắc biểu hiện trong lễ hội về phong tục tập quán, đời sống tâm linh tín ngưỡng, về trang phục, về văn hóa văn nghệ, về cách thức tổ chức lễ hội của cộng đồng người Hoa sống tại Phan Thiết-Bình Thuận.
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu này dựa trên việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu đề tài như sau: phương pháp phân tích – tổng hợp tư liệu, phương pháp mô tả, phương pháp quan sát (quan sát trực tiếp để có cái nhìn chính xác và toàn diện về vấn đề nghiên cứu), phương pháp phỏng vấn, phương pháp so sánh – đối chiếu.
6. Đóng góp của đề tài
Với việc nghiên cứu lễ hội, đề tài của chúng tôi sẽ góp phần giới thiệu lễ hội Nghinh Ông của người Hoa tại Phan Thiết – Bình Thuận. Thông qua lễ hội giúp mọi người hiểu được những nét đẹp trong phong tục tập quán cũng như đời sống tâm linh tín ngưỡng của người Hoa ở Bình Thuận nói riêng và của người Hoa ở Việt Nam nói chung.
Qua đó đánh giá về vai trò của lễ hội Nghinh Ông trong đời sống tinh thần của con người. Và nhằm đưa ra những phương pháp gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa trong lễ hội.
7.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần làm sáng tỏ các vấn đề triết lý văn hóa dân gian trong tín ngưỡng văn hóa đời sống tinh thần của cộng đồng người Hoa tại Phan Thiết – Bình Thuận.
Và với đề tài này còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực văn hóa tinh thần của người Hoa.
8.Cấu trúc của đề tài
Gồm 2 chương và 6 tiết
Chương 1
Lễ hội Nghinh Ông- nét văn hóa đặc sắc của người Hoa tại Phan Thiết-Bình Thuận
1.1 Lễ hội và mối quan hệ giữa lễ và hội
1.2 Những nét văn hóa đặc sắc của lễ hội
1.3 triết lý văn hóa dân gian của lễ hội
Chương 2
Lễ hội nghinh Ông trong đời sống hiện đại của người dân Bình Thuận
2.1 Vai trò và vị trí
2.2 Bảo tồn và phát huy
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
LỄ HỘI NGHINH ÔNG- NÉT VĂN HÓA ĐẶC SẮC CỦA NGƯỜI HOA TẠI PHAN THIẾT – BÌNH THUẬN
1.1 Lễ hội và mối quan hệ giữa lễ và hội
Lễ hội là nét sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống, được lưu truyền từ đời này sang đời khác nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời cũng là nơi tỏ lòng tôn kính của con người đối với các vị thần thánh hoặc những anh hùng dân tộc đã ngã xuống vì độc lập, tự do của đất nước.
Lễ hội mang đậm chất tâm linh, sùng bái và đậm chất văn hóa dân gian. Đồng thời cũng là nơi để mọi người gặp gỡ, trao đổi, giao lưu và thực hiện những mục đích khác nhau thông qua các nghi thức tế lễ, các trò chơi.
"Lễ" và "hội" là hai phần gắn bó chặt chẽ với nhau. Khi có sự hiểu đúng về "lễ", người ta mới có thể xác định được ý nghĩa của nó và không chạy theo việc tăng cường "hội" mà giảm "lễ". Không chỉ tôn vinh các vị thần linh, phần "lễ" cũng có rất nhiều giá trị khác.
Lễ có thể tạm coi là cách ứng xử truyền thống của người Việt Nam đối với tự nhiên và vũ trụ, mà đại diện lớn nhất là các thần linh.
Tuy nhiên, việc kính cẩn thần linh trong lễ hội không có nghĩa là nịnh bợ thần linh, mà là muốn dùng hành động thực tế để nhắc thần linh hiểu và thể theo ước vọng của con người.
Lễ và hội luôn đi kèm song song với nhau. Lễ là nghi thức, những tập tục được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Lễ là nội dung, hội là biểu hiện của lễ, hội là những trò chơi. Hai phần này không thể tách rời nhau.
Lễ hội có vai trò kéo người ta quay lại mối quan hệ hàng xóm láng giềng theo kiểu "bán anh em xa, mua láng giềng gần". Láng giềng gần ở đây được quy định bởi hương ước. Lễ hội, với những hương ước của nó, là dịp để người ta trở thành một cộng đồng thống nhất.
1.2 Những nét văn hóa đặc sắc của lễ hội
1.2.1 Sơ lược về vùng đất Bình Thuận
Nằm ở miền duyên hải Nam Trung Bộ, với hơn 192 km bờ biển, Bình Thuận được xem là một điểm đến hấp dẫn đối với du khách nhờ những bãi cát trắng hoang sơ, cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, không khí bình yên, trong lành. Ngoài những điểm du ngoạn vùng biển nổi tiếng như Phan Thiết, Cà Ná, Hàm Tân, Mũi Né, Đồi Dương…, du lịch Bình Thuận còn có sức hút đặc biệt nhờ cảnh núi đồi hùng vĩ, thác ghềnh, sông suối nên thơ cùng những danh thắng như khu di tích Dục Thanh, dinh Vạn Thủy Tú, tháp Chàm Pôshanư, chùa Núi Cà Tú… Với dân số khoảng 1,2 triệu người, gồm những dân tộc anh em Kinh, Chăm, Hoa, K’ho… sinh sống và tạo nên một nền văn hóa đa dạng, lâu đời.
Từ lễ hội đua thuyền truyền thống hàng năm trên sông Cà Ty, lễ hội Trung Thu, lễ hội Katê, Ramưwan của người Chăm đến lễ hội Dinh Thầy Thím… Đặc biệt, Bình Thuận trở thành một điểm đến lý tưởng của du khách khi Lễ hội Nghinh Ông của người Hoa (tổ chức vào trung tuần tháng 7 Âm lịch, 2 năm 1 lần) đã được nâng lên tổ chức trên quy mô lớn. Lễ hội Nghinh Ông không dừng lại ở một nét tín ngưỡng, mà đã được nâng lên thành một ngày hội du lịch lớn và khi đến, mọi người còn được sống trong không khí hiền hòa, mến khách của Bình Thuận.
bên cạnh đó, còn được chìm đắm trong rì rào sóng biển, được chinh phục những đồi cát bay duyên dáng và những danh thắng nổi tiếng của vùng đất này.
1.2.2 lễ hội Nghinh Ông tại Phan Thiết –Bình Thuận
Nghinh Ông là lễ hội có truyền thống lâu đời của người Việt gốc Hoa tại Phan Thiết, được tổ chức hai năm một lần vào các năm chẵn. Nhiều người lầm tưởng lễ hội này giống như lễ hội Nghinh Ông ở Cần Giờ (TP.HCM), ở Vũng tàu, ở Bến Tre, ở Châu Đốc (An Giang)… nhưng thật ra đây là lễ hội thờ cúng Quan Công (tức Quan Thánh Đế). Tục đưa Quan Công đi du hành là theo văn hóa Trung Hoa và ở Việt Nam chỉ có Bình Thuận có lễ hội này và được lưu truyền cho đến nay.
Lễ hội Nghinh Ông thể hiện đời sống tâm linh của bà con người Hoa tại Phan Thiết đối với Quan Thánh Đế Quân (Quan Công), cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.
Phần lễ của lễ hội Nghinh Ông vẫn diễn ra theo nghi thức truyền thống do ban quản lý Quan Đế miếu tổ chức. Riêng phần hội ngoài các hoạt động chính trong phần lễ của cộng đồng người Hoa, Sở Du lịch Bình Thuận còn phối hợp với nhiều công ty du lịch cùng tổ chức nhiều sự kiện lớn trong dịp này như liên hoan "Hội ngộ lân sư rồng Bình Thuận" (qui tụ các đoàn mạnh đến từ khắp các tỉnh thành); liên hoan văn nghệ, trình diễn trang phục dân tộc; khu họp chợ - ẩm thực
1.2.3 Miêu tả lễ hội
• Về không gian và thời gian
Lễ hội được tổ chức hai năm một lần vào trung tuần tháng 7 của các năm chẵn, diễn ra trong ba ngày liên tiếp.
Các nghi lễ được tổ chức tại miếu Quan Ông hay còn gọi là Chùa Ông, tọa lạc tại phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết. Chùa được xây dựng từ năm 1770, khởi nguyên là một ngôi miếu lớn thờ Quan Công.
có lối kiến trúc và trang trí nghệ thuật đặc trưng của người Hoa. Các dãy nhà được xây dựng nối tiếp nhau tạo thành hình chữ kim, các vì kèo được chạm khắc tinh vi; ở các cột chính đều có các câu đối sơn son thiếp vàng rực rỡ. Ngay gian chính diện là tượng Quan Công bằng gỗ đặt trang trọng trên bệ thờ.
Phần hội được diễn ra trên các đường phố của thành phố Phan Thiết ( gọi là lễ hội carnaval).
• Chủ thể-Thành phần tham gia
Chủ thể của lễ hội là Quan Công. Quan Công tên thật là Quan Vũ, tự là Vân Trường, còn gọi là Quan Đế, Vũ Đế, Xích Đế là nhân vật thời Tam Quốc, sinh năm 162 mất năm 219. Ông là người Tây Sơn nên gọi là Sơn Tây phu tử. Đồng bào Hoa thờ Quan Công vì Ông tượng trưng cho những đức tính, đạo đức người quân tử theo quan niệm đương thời, đó là công minh, chính trực, dũng cảm, lòng thủy chung, cao thượng, trọng chữ tín, danh dự, nhân nghĩa.
Thành phần tham gia: Sự chủ trì cúng tế của các vị tăng sư. (trong đó có sự tham gia của một số nhà sư người Việt, điều này thể hiện mối thâm tình giao hảo mang nhiều ý nghĩa cộng đồng to lớn giữa dân tộc Hoa và dân tộc Việt. Và tựu trung lại đó là tính cố kết cộng đồng trong cộng đồng dân tộc Việt Nam).
sự tham gia tổ chức của 4 hội quán: Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam & Quảng Châu. Sự phối hợp tổ chức của các Sở, ban ngành tỉnh Bình Thuận, sự có mặt của khách hành hương và du khách đến tham quan lễ hội.
• Diễn tiến của Lễ hội
Bất cứ lễ hội nào của các dân tộc, nội dung quan trọng nhất, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng nhất đều bắt nguồn từ phần lễ. Nếu không có phần lễ thì không có phần hội tiếp theo.
Theo một số tài liệu ở các Hội quán của các “Bang” Quảng Đông, Hải Nam, Phúc Kiến, Triều Châu và ở Quan Đế Miếu thì Lễ hội Nghinh Ông có hơn 150 năm trở về trước tức là ở vào giai đoạn đầu của các vua thời Nguyễn (đời Vua Thiệu Trị - Tự Đức).
Lễ hội diễn ra trong 3 ngày
Ngày thứ nhất:
Lễ Thỉnh Kiệu Bà Thiên Hậu, Lễ Thỉnh nước, Lễ Thỉnh Kinh, Lễ Thỉnh Kiệu thần Chiêu Ứng Công, Lễ Yết Quan Thánh, cáo Tiền Hiền, Lễ Chiêu vong linh Tiền Hiền và các hoạt động văn nghệ của bà con người Hoa thuộc 4 Hội Quán: Triều Châu, Hải Nam, Phúc Kiến, Quảng Đông được diễn ra tại Sân khấu Trung tâm Văn hóa – Thành phố Phan Thiết.
Ngày thứ hai:
Các Đoàn làm lễ gồm: Hội Quán Triều Châu, Hội Quán Hải Nam, Đoàn Rồng Thanh Long Quan Đế Miếu; Lễ phóng sanh; Cúng ngọ; Cúng thí thực; Thả thuyền ( cửa biển Phan Thiết ) và Lễ Hoàn mãn.
Ngày thứ ba:
Lễ hội đường phố thỉnh Ông Quan Thánh Đế Quân xuất du qua các đường phố Thành phố Phan Thiết. Bắt đầu từ sáng sớm Đoàn thỉnh Ông Quan Thánh Đế Quân xuất du gồm đông đảo người tham gia là thành viên các Hội Quán với băng rol mã lộ, băng rol đại kỳ, lồng đèn, bàn hương án, đoàn nhạc cổ, đoàn Bát Tiên đi cà kheo, đội thiếu nhi - thiếu nữ gánh hoa, múa hoa, múa Thái cực kiếm, đội múa đèn, đội múa quạt, xe hoa Đồng tử bái Quan âm, đội Tam Tạng Thỉnh kinh, đội Phước Lộc Thọ, Thần tài, Bao công xử án, đoàn Lân Sư Rồng cung đình, đội mang Bát Bửu, Kiệu Chiêu Ứng Công, kiệu Bà Chúa Sanh Nương Nương, kiệu Thiên Hậu Thánh Mẫu, ngai Phước Đức Chánh Thần, Quan Bình cuỡi ngựa, Châu Xương, lính hầu, người cầm trống, người dắt ngựa, kiệu Quan Thánh, Đoàn rồng Thanh Long…
Lễ hội Nghinh Ông được chia thành hai phần rõ rệt, mỗi phần lại có nhiều giai đoạn nhỏ diễn ra theo thứ tự thời gian đã được sắp xếp, có khi lại khác về không gian.
trong lễ có hội và trong hội cũng có lễ, sự phối hợp đan xen này làm cho lễ hội thêm phong phú, đa dạng và thêm tính hấp dẫn, gắn bó giữa cái hiện đại và cái hư vô của cuộc sống, giữa thực tế cuộc sống với thế giới tâm linh.
Nét độc đáo của Lễ hội Nghinh Ông là toàn bộ các lễ vật dâng tế cho Thánh, Thần, Tiền Hiền, Tổ tiên… trong hai ngày lễ đều mang tính thuần khiết của Phật giáo, bao gồm: Đèn, hương, hoa, quả, bánh ngọt… Trong ba ngày diễn ra Lễ hội Nghinh Ông ở Quan Đế Miếu và bốn Hội quán của bốn bang đều sử dụng đồ chay.
Phần lễ của Lễ hội Nghinh Ông của người Hoa Phan Thiết diễn ra theo trình tự, bao gồm 16 nghi lễ sau:
1. Lễ “Thỉnh Thánh Mẫu”.
2. Lễ “Thỉnh kinh”.
3. Lễ “Thỉnh nước”.
4. Lễ “Thỉnh chiêu ứng công” hay (108 vị chư Thần).
5. Lễ “Khai kinh”.
6. Lễ “Yết Quan Thánh, Cáo Tiền Hiền”
7. Đoàn lễ Hội quán Quảng Đông ra mắt Quan Thánh
8. Đoàn lễ Hội quán Phúc Kiến ra mắt Quan Thánh.
9. Lễ “Chiêu vong linh Tiền Hiền”.
10. Lễ “Phóng đăng”.
11. Lễ “Phóng sanh”.
12. Đoàn lễ Hội quán Triều Châu ra mắt Quan Thánh.
13. Đoàn lễ Hội quán Hải Nam ra mắt Quan Thánh.
14. Lễ “Cúng thí thực”.
15. Lễ “Cầu quốc thái dân an”.
16. Lễ “Thỉnh thuyền”.
Sau đây là trình tự các nghi lễ.
1. Lễ “Thỉnh Thánh Mẫu”
Quan Đế Miếu hiện có ba gian nhà (gian giữa thờ Quan Thánh, Bà Thiên Hậu và Phước đức chánh thần, gian bên hữu thờ Thánh Mẫu, bên gian tả thờ Tiền Hiền, Tổ tiên).
Vị Thánh Mẫu được tôn thờ ở Miếu là Bà mẹ Thai Sanh (Bà Chúa Sanh nương nương, Bà mẹ sanh hay Kim hoa Thánh Mẫu).
Mục đích, ý nghĩa của lễ này là để thỉnh mời Thánh Mẫu sang gian thờ Quan Thánh để chứng giám, thọ hưởng các nghi lễ tiếp theo. Đoàn lễ gồm: Ban nghi lễ, Ban quản lý Quan Đế Miếu và ban nhạc cổ mang các nghi lễ hương, đèn, hoa, quả dâng lên hương án thờ Thánh Mẫu, khấn cầu và thỉnh Thánh Mẫu. Đoàn lễ thỉnh một lư trầm, ba lư hương trên hương án thờ Thánh Mẫu sang gian thờ Quan Thánh, rồi lần lượt đặt các lư trầm, hương lên các Hương án thờ Quan Công, Hương án thờ Bà Thiên Hậu và Phước đức Chánh Thần. Đoàn lễ kính cẩn khấn niệm trước các Hương án, đồng lúc có nhạc lễ, chiêng trống nổi lên từng hồi vừa trang nghiêm, huyền ảo, vừa như đón mừng Thánh Mẫu đã an vị để chứng giám các nghi lễ tiếp theo.
2. Lễ “Thỉnh kinh”
Đoàn lễ (gồm các thành phần như lễ thỉnh Thánh Mẫu) xuất phát từ Quan Đế Miếu đến “Thỉnh kinh” tại chùa Bửu Long (cách Phan Thiết 7km về hướng Bắc) và mời nhà sư người Việt am hiểu về kinh kệ và uy tín về Quan Đế Miếu. Chính nhà sư này sẽ là chủ lễ trong phần lớn các nghi lễ quan trọng của phần lễ, và nội dung bản kinh thỉnh ở chùa Bửu Long sẽ là bản kinh chính để trình bày, tụng niệm trong các nghi lễ tiếp theo tại Quan Đế Miếu.
3. Lễ “Thỉnh nước”
còn lại giếng nước có tên là “Hố lở” ở cách Quan Đế Miếu 2km về phía Nam. Đây là giếng nước mà người Hoa ở Phan Thiết đến làm lễ “Thỉnh nước”, vì người Hoa quan niệm rằng lấy nước cho Quan Công phải là nước đầu nguồn, tinh khiết, trong lành và vĩnh cửu.Đoàn lễ gồm có: Thầy sư người Việt làm chủ lễ, Ban nghi lễ, Ban quản lý Quan Đế Miếu và Đoàn nhạc cổ.
Trong quá trình làm lễ, có nhạc cổ diễn xướng đi kèm.Lễ thỉnh nước có nhiều ý nghĩa sâu sắc, bởi vì từ xưa đến nay cũng như mai sau, nguồn nước sẽ mãi mãi gắn liền với sự sống vĩnh hằng, với sinh hoạt sản xuất không chỉ của con người mà đối với muôn loài đang tồn tại trên trái đất này. Do đó việc khao khát, ước mong nguồn nước không bao giờ cạn là một ước nguyện chính đáng, vĩnh hằng của mọi người.
4. Lễ “Thỉnh chiêu ứng công”
E:\vuong\lethinhchieuong1.jpg
Lễ thỉnh Chiêu Ứng Công
Trong những đợt di dân có một số thuyền lớn chở người Hoa gặp phải nạn cướp biển, phong ba bão tố nên đã gây ra nhiều vụ đắm thuyền và cướp đi sinh mạng của nhiều người. Trong số đó có 108 vị bị chết oan trên biển là người Hải Nam. Những người này sau khi chết rất linh thiêng đã phù hộ và chở che cho những người đi biển và lao động biển. Do những công lao đó nên đến đời vua Duy Tân năm thứ 7 (năm Ất Mão - 1915) đã ban sắc phong Thần cho 108 vị trên. Từ đó trong Hội quán Hải Nam, người Hoa đã thờ phụng 108 vị linh Thần trang nghiêm.
Mỗi khi tổ chức Lễ hội Nghinh Ông, người Hoa phải làm nghi lễ “Thỉnh Chiêu Ứng Công” từ Hội quán Hải Nam về Quan Đế Miếu. Đoàn lễ của Quan Đế Miếu (gồm các thành phần như những nghi lễ trước, không có nhà sư người Việt) đến Hội quán Hải Nam, khi vào cổng chính của Hội quán, trong sân Hội quán đã bố trí sẵn băng rôn, cờ, lọng đứng hai bên đón chào, bên trong Hội quán chiêng trống nổi lên liên hồi.
Đoàn Quan Đế Miếu rước kiệu Chiêu Ứng Công về miếu, trên đường đi có sự tháp tùng của Đoàn Lễ hội quán Hải Nam, đoàn rước gồm hàng trăm người mặc trang phục lễ hội cổ truyền của người Hoa, có cờ quạt, chiêng trống, nhạc lễ mà các thành phần tham dự. Đoàn rước này sẽ tham dự đông đủ trong phần hội rước kiệu Ông đi du hành qua các đường phố sẽ diễn ra vào ngày thứ 3.
Khi đoàn thỉnh Chiêu Ứng Công về đến Quan Đế Miếu, trong miếu chiêng trống liên hồi nổi lên đón chào. Kiệu Chiêu Ứng Công được thỉnh vào đặt trước Hương án thờ Quan Công, đoàn Bát bửu vào xếp thành hai hàng trang nghiêm trước kiệu. Đoàn lễ khấn trước Hương án Quan Công, kiệu Chiêu Ứng Công. Sau đó kiệu được đưa sang an vị trước Hương án Phước đức chánh thần (bên phải Hương án thờ Quan Công).
5.Lễ “Khai kinh”
Lễ này diễn ra tại Quan Đế Miếu, chủ lễ là nhà sư người Việt và phụ lễ có năm nhà sư người Việt khác. Về cơ bản các lễ vật tương tự các lễ trên nhưng đặc biệt là có thêm một bức hình nộm Quan Công cưỡi ngựa bằng giấy để dâng hiến cho Quan Thánh tượng trưng cho nghi thức “trình đất”.
Trước khi vào lễ, nhà sư chủ lễ khấn tế trời đất, khai Tiên ở trước cửa Quan Đế Miếu, sau đó vào tụng niệm trước hương án thờ Quan Thánh. Nhà sư chủ lễ làm phép yểm lên hai lá phướng (một phướng tượng trưng cho sự nhân đức của nhà Phật treo bên phải, một phướng tượng trưng cho cô hồn âm binh treo bên trái trước sân miếu). Tiếp đó các nhà sư vào lễ khai kinh, luân phiên tụng niệm. Nội dung các bản kinh là kính trình với Trời, Đất, Phật, Thánh, Thần… về công lao của Quan Thánh và sau đó mời các đấng tối cao về thọ hưởng, chứng giám.
6. Lễ “Yết Quan Thánh, Cáo Tiền Hiền”
Nghi lễ này được tổ chức tại Quan Đế Miếu, các thành phần tham dự lễ tương tự như Lễ Khai kinh. Ngoài các lễ vật tương tự như Lễ Khai kinh, trên bàn thờ còn có thêm hình nộm Quan Thánh cỡi chim hạc làm bằng giấy, sau lễ đốt đi tượng trưng cho nghi lễ “trình trời”.
Sư chủ lễ và các phụ lễ kính cẩn thắp hương đèn khấn niệm trước hương án thờ Quan Thánh và bàn thờ Tiền Hiền ,Tổ tiên. Người ta ca ngợi công đức của Quan Thánh, của các bậc Tiền Hiền đã phù trợ cho người Hoa từ sức khoẻ đến cuộc sống làm ăn. Sau đó mời đức Quan Thánh, Tiền Hiền, Tổ tiên về thọ hưởng, chứng giám. Tiếp đó các nhà sư luân phiên tụng niệm. Trong các tiến trình lễ có nhạc lễ và chiêng trống hoà âm theo.
7. Đoàn lễ Hội quán Phúc Kiến ra mắt Quan Thánh
Đoàn lễ của Hội quán Phúc Kiến đã chuẩn bị sẵn các loại đồ lễ (cờ quạt, băng rôn, lọng, hương án, dàn nhạc cổ…), trang phục lễ của các giới các lứa tuổi và những lễ vật tại Hội quán của mình. Đoàn lễ xuất hành từ Hội quán Phúc Kiến đến Quan Đế Miếu trên một đoạn đường khoảng 600m, vừa đi vừa biểu diễn các tiết mục văn nghệ và âm nhạc dân gian cho hàng ngàn người xem (trình tự đoàn lễ sẽ lập lại giống như trong phần hội rước kiệu Ông du hành).
Trong tiến trình lễ tại Quan Đế Miếu, Ban nhạc cổ Phúc Kiến vào xếp thành một vòng cung và diễn xướng các bản nhạc cổ truyền thống trước bàn Quan Thánh như bài nhạc “Sơn nghiêm tuấn”, “A hoàng hầu quan nhơn”…
8. Đoàn lễ Hội quán Quảng Đông ra mắt Quan Thánh
Tiến trình lễ, các nghi lễ, đồ lễ, trang phục lễ… cũng được Hội quán Quảng Đông chuẩn bị, sắp đặt sẵn như Hội quán Phúc Kiến.
Cách diễn hành của Đoàn lễ cũng khác so với các bang về màu sắc và nội dung. Trên đường đi từ Hội quán đến Quan Đế Miếu, đoàn lễ hội vừa đi vừa tập dợt, biểu diễn cho công chúng xem những nét văn hóa cổ truyền độc đáo của bang mình.
Khi đến Quan Đế Miếu, Hội quán Quảng Đông xếp thành hai hàng trước cửa Quang Đế Miếu, bàn hương án của đoàn Quảng Đông đặt ngay trước cửa miếu đối mặt với hương án Quan Công. Lần lượt các em thiếu nhi gánh lư hương, hoa, các em thiếu nhi thổi sáo, rải hoa vào yết kiến và múa các giai điệu truyền thống trước bàn thờ Quan Thánh theo các làng điệu nhạc cổ. Kế đó là tiết mục trình diễn của đoàn lân trong miếu, các trò võ thuật truyền thống của thanh niên Hội quán Quảng Đông trước sân miếu.
9. Lễ “Chiêu vong linh Tiền Hiền”
Tiền Hiền là những bậc tiền nhân có công dẫn dắt các bộ phận người Hoa di cư, khai dựng và hình thành nên các làng xưa của người Hoa Phan Thiết.
Về không gian tổ chức, lễ chiêu vong linh Tiền Hiền được tổ chức tại một thảo am nhỏ ngoài trời ở dốc Căng Esepic – cách Quan Đế Miếu về phía nam khoảng 1,5km. Đây cũng chính là khu nghĩa địa xa xưa của người Hoa ở Phan Thiết.
Trong quá trình làm lễ có nhạc lễ hòa âm kèm theo tạo nên một âm sắc tôn nghiêm. Sau đó các nhà sư ngưòi Việt đọc văn tế các bậc Tiền Hiền ( có thủ tục đốt văn tế, giấy vàng bạc).
10.Lễ “ Phóng đăng”
Nghi lễ này diễn ra trên cửa biển Phan Thiết, đây là một nghi lễ xa xưa của người Hoa. Mục đích, ý nghiã của lễ là người Hoa muốn dâng tế cho Long Vương, thủy thần, 108 vị thần và những linh hồn trên biển cả những lễ vật như đèn, muối, gạo...hình tượng những ngọn đèn thả nổi trên biển lung linh, huyền ảo như sưởi ấm và soi sáng linh hồn trên biển.
Đoàn lễ do nhà sư người Việt làm chủ lễ ngồi trên một chiếc thuyền con chạy ra cửa biển, nhà sư kính cẩn bày ra các lễ vật : hương, đèn, hoa quả, gạo muối....và 36 ngọn nến đặt trong 36 nồi đất tượng trưng cho ngọn đèn ra giữa thuyền.
Những ngọn đèn lung linh mờ ảo được gió và sóng biển cuốn ra khơi xa như mang theo những nổi niềm bí ẩn của con người gởi gắm vào thế giới âm linh.
11.Lễ “ Phóng sanh”
Nghi lễ được tổ chức ngoài trời, trước cửa Quan Đế Miếu, lễ này thể hiện sự cứu vớt, ban phát tự do và hạnh phúc cho muôn loài theo thuyết nhà Phật. Thầy sư tụng niệm, cầu khấn phật tổ ban mọi sự tốt lành và sự sống cho muôn loài, sau đó đọc văn tế (rồi đốt đi). Nhà sư cầm lồng chim làm ấn phép, cầu nguyện cho những con chim trong lồng, sau đó các thành viên trong ban nghi lễ Quan Đế Miếu lần lượt phóng từng con chim bé bỏng bay vút lên trời xanh, biểu hiện sự cầu mong vì sự sống và tự do của muôn loài.
12. Đoàn lễ Hội quán Triều Châu ra mắt Quan Thánh.
E:\vuong\hoiquanramatquanthanh1.jpg
Các hội quán ra mắt Quan Thánh
Lễ ra mắt Quan Thánh của đoàn lễ Triều Châu cũng được bố trí, chuẩn bị sẵn tại Hội quán. Đoàn thể cũng xuất phát và diễu hành từ Hội quán của mình đến làm lễ ra mắt tại Quan Đế Miếu tương tự như Hội Quán Phúc Kiến và Quảng Đông, tuy nhiên ở phần trang phục lễ, cờ lễ...vẫn mang đậm tính cách riêng của mình. Trên đường đoàn Triều Châu đến Quan Đế Miếu để ra mắt Quan Thánh, ngoài những trang phục, trò diễn còn có đoàn cồng chiêng, nhạc cổ diễn xướng với một số lượng nghệ nhân khá đông gây được sự chú ý của mọi người.
13.Đoàn lễ Hội quán Hải Nam ra mắt quan thánh
đoàn thể Hải Nam (nơi tôn thờ 108 vị thần) cũng có sự chuẩn bị chu đáo như các đoàn thể khác, những nét độc đáo ở đây là có sự trình diễn góp vui của đoàn lân, hẩu và đội múa rồng liên tục múa lượn trên đường đi.
Nét đặc sắc riêng của đoàn Hải Nam là các tiết mục trình diễn điệu múa quạt của các em thiếu nhi, múa lân, múa hẩu, múa rồng diễn ra sinh động.
14.Lễ “Cúng thí thực”
Đây là nghi lễ lớn được chuẩn bị rất chu đáo và tiến hành rất công phu, lễ này được diễn ra ngay trước sân của Quan Đế Miếu. Trước ngày diễn ra lễ Hội, các bang cử người mình đến Quan Đế Miếu chẻ tre, đan giấy và kết thành hàng chục cộ. Cộ có dạng hình chóp, xung quanh bao bọc giấy màu, trên đỉnh cộ có gắng các ngọn cờ đuôi nheo. Xung quanh cộ từ đế lên đỉnh người ta gắn kết các loại bánh (mỗi cộ một loại bánh, trung bình trên 200 bánh một cộ), các loại bánh gồm có : bánh ít, bánh cúng, bánh cấp, bánh quy, ngoài ra còn có hành trăm bịch gạo, muối và các loại giấy vàng bạc.
Trước khi vào lễ thí thực, ở trước sân miếu đựng sẵn một sàn gỗ vững chắc(sàn gỗ được phủ sơn màu đỏ). Đoàn lễ Quan Đế Miếu tiến hành nghi thức rước cộ từ trong miếu ra xếp trên sàn gỗ. Số lượng cộ lên đến hàng chục chiếc, the trình tự là các cộ bánh của Quan Đế Miếu, của các bang, của ban nghi lễ Quan Đế Miếu. Ban nghi lễ của thập phương bá tánh phụng cúng. Trên mỗi cộ điều có cờ đuôi nheo ghi tên các Hội quán (màu đỏ) và tên tuổi của các cá nhân như nhà buôn, chủ ghe...(màu vàng).
Đây là việc làm từ thiện có nhiều ý nghĩa vì số vật phẩm phụng cúng này sẽ được ban quản lý Quan Đế Miếu sử dụng để chia sớt cho những người nghèo khó.
Mặc dù số lượng lễ vật trên các cộ không phải là ít, dù có nhiều đi chăng nữa cũng không thể đáp ứng nhu cầu của người tham gia. Lễ cúng thí thực cùng lúc thỏa mãn được hai yếu tố: về mặt tâm linh thì những người phụng cúng thì muốn các lễ vật này đến với những âm linh cô hồn không nơi nương tựa, mặt khác thì các lễ vật sẽ được đến tay những người lao động nghèo.
15.Lễ “Cầu quốc thái dân an”
Nghi lễ này được diễn ra tại Quan Đế miếu, tiến trình diễn ra tương tự như lễ khai kinh. Mục đích, ý nghĩa là khẩn cầu trời, đất, thánh, thần chứng giám và phụ trợ cho đất nước được bính yên, phồn thịnh, cho nhân dân được ấm no hạnh phúc.
16.Lễ “Phóng thuyền”
Về diễn tiến, mục đích và ý nghĩa của lễ này cũng giống như lễ phóng đăng. Về nghi lễ, ngoài những lễ vật như lễ phóng đăng còn có một chiếc thuyền con làm bằng giấy cứng, trên thuyền xếp đặt đầy đủ các tiện nghi, dụng cụ sinh hoạt cần thiết của con người, có hình người thủy thủ và cả những đồng tiền, trước đây trong nghi lễ này, người ta còn để trên thuyền đôi bông tai bằng vàng thật.
Lễ phóng thuyền được tổ chức trên biển, các lễ vật được bày giữa một chiếc thuyền, nhà sư chủ lể khấn niệm, đọc văn tế và sau đó là nghi thức phóng thuyền xuống biển. Để giữ độ thăng bằng và điều chỉnh cho mũi thuyền thẳng tiến ra khơi, khi đưa thuyền xuống biển, có bốn người nhảy xuống nước sẵn, họ nhẹ nhàng nâng đỡ thuyền đặt xuống biển và đẩy thuyền di đúng hướng. Chiếc thuyền được dòng nước và sóng biển đẩy dần ra khơi xa, đó là lễ vật có nhiều ý nghĩa mà con người muốn gởi đến cho các thủy thần, các linh hồn trên biển.
Các nghi thức trong phần lễ của lễ hội Nghinh ông diễn ra liên tục, nối tiếp nhau trong hai ngày. Mỗi nghi lễ mang một màu sắc, ý nghĩa riêng, nhưng tất cả điều thể hiện rõ nét tôn nghiêm, trang trọng. Đây là những nghi lễ dân gian truyền thống được các thế hệ người Hoa ở Phan Thiết bảo lưu và kế thừa, góp phần thỏa mãn các nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa nói riêng và nhân dân Phan Thiết nói chung.
Thánh Đế xuất du- nghi thức đặc sắc nhất của lễ hội Nghinh Ông đã diễn ra hoành tráng và sôi động.Từ tảng sáng, hơn 900 thành viên của 4 bang hội người Hoa tề tựu về Quan Đế miếu để bái lễ, cung thỉnh Quan Thánh Đế xuất du theo lộ trình các tuyến đường chính quanh khu vực Chợ Lớn (Phan Thiết)
Lễ rước trở nên náo nhiệt và hoành tráng với sự góp mặt của các đoàn Bát tiên đi cà kheo, lân sư rồng, ban cổ nhạc, đội kèn trống… cùng đông đảo người dân , du khách.Trong lễ rước, cộng đồng người Hoa ở Phan Thiết bày biện sính lễ để cúng tế, cầu tài lộc, gia đạo xóm làng yên ấm.Đến đúng ngọ (12 giờ trưa) hành trình xuất du kết thúc tại Quan Đế miếu.
Sau đây là một số hình ảnh về Thánh Đế xuất du
E:\vuong\ruockieuquanthanh1.jpg
( Rước kiệu Quan Thánh)
E:\vuong\muarong1.jpg
( Múa rồng)
E:\vuong\khaiphongphu1.jpg
(Khai phong phủ)
E:\vuong\muacungdinh1.jpg
(Múa cung đình)
E:\vuong\dongtubaiquanam1.jpg
(Đồng tử bái Quan Âm)
E:\vuong\tayduki1.jpg
(Tây du ký)
E:\vuong\battiendicakhoe1.jpg
(Bát tiên đi cà kheo)
E:\vuong\baconnguoihoa1.jpg
(Bà con người Hoa bày biện sính lễ, cúng cầu an gia đạo, xóm làng)
E:\vuong\rongthanhlong1.jpg
(Rồng Thanh Long-múa rồng)
1.3 Những đặc trưng triết lý văn hóa dân gian của lễ hội
Lễ hội Nghinh Ông là dịp để chúng ta ôn lại những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Mọi người từ khắp nơi về lễ hội với tinh thần hồ hởi, không phân biệt dân tộc tôn giáo, không phân biệt giàu nghèo… Tất cả mọi người đều là con của mẹ Việt Nam, đều là anh em. Đến với lễ hội mọi người có dịp chuyện trò cùng nhau, được giao lưu văn hóa với nhau, tìm hiểu cái hay cái mới của các loại hình văn hóa khác nhau, chọn lọc những cái tốt để phục vụ cho nền văn hóa chung- nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Với sự đề cao Quan Công bởi những công lao to lớn của Ông, người ta còn nhắc đến Ông với những đức tính cao đẹp của người quân tử đương thời: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Nhắc và nhớ đến Ông, thờ Ông người ta như muốn nhắc nhở chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau phải noi theo những đức tính cao quý của Ông, luôn hướng đến những đạo đức trong sáng và tốt đẹp nhất. Không chỉ làm đẹp cho bản thân mình mà còn tô đẹp cho toàn xã hội-một xã hội luôn yêu mến con người có chuẩn mực đạo đức và lòng nhân ái. Để từ đó đem lại sự ổn định, phồn vinh cho xã hội, mọi người được sống chan hòa, yên bình hơn, có một cuộc sống ấm no hạnh phúc hơn trên cơ sở lấy đạo đức làm nền tảng, làm ngồn gốc cho sự phát triển ngày càng đi lên của đất nước.
Lễ hội Nghinh Ông là sự tổng hòa các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên, giữa nét cổ kính truyền thống với nét hiện đại đương thời và trong đó con người luôn đóng vai trò là chủ thể của lễ hội, lễ hội đã tái hiện lại bức tranh văn hóa với muôn vạn màu sắc với nhiều ý nghĩa thể hiện một nhân sinh quan sâu sắc, đồng thời lễ hội còn tái hiện lại những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của con người, hướng con người đến với những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp. Với những nhân vật rất đời thường và gần gũi như: Bao Công thể hiện cho “ thiết diện vô tư”, cho sự ngay thẳng và công bằng… Đến những nhân vật trong truyền thuyết: Tôn Ngộ Không, Phúc Lộc Thọ, Ngọc Hoàng, Bát Tiên, Quan Thế Âm… Tất cả đều thể hiện khát vọng sống của con người…Những bậc Thánh Hiền, Quan Công, Bà Thiện Hậu được tái hiện lại một cách đặc sắc tạo nên một vẻ đẹp, dấy lên một hình ảnh của các anh hùng thời xưa: “vì nước quên thân,vì dân phục vụ”, ôn lại những truyền thống tốt đẹp mà cha ông ta bấy lâu xây dựng, biết cách giữ gìn và phát huy những truyền thống đó có chiều sâu để làm cho thế hệ sau mãi ghi nhớ không bao giờ phai nhòa.
Với những triết lý sống như trên, người dân nơi đây đã thể hiện cái nhân sinh quan sâu sắc và bao quát, thỏa mãn nhu cầu về tâm linh tín ngưỡng cũng như sự hội tụ của nét văn hóa đặc sắc trong tinh thần.
Chương 2
LỄ HỘI NGHINH ÔNG TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN ĐẠI CỦA NGƯỜI DÂN BÌNH THUẬN
2.1 Vai trò và vị trí
2.1.1 Vai trò
Lễ hội Nghinh Ông không chỉ là lễ hội vui chơi mang tính phổ biến mà còn là một lễ hội mang đậm màu sắc văn hóa dân gian. Đồng thời cũng là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc. những nghi tức, hình tượng các nhân vật, sự tôn thờ của người dân, một lễ hội văn hóa đầy màu sắc chắc hẳn dã đọng lại trong tâm trí của những người đã một lần hòa mình vào lễ hội văn hóa sinh động và nhiều màu sắc này
Tín ngưỡng dân gian giúp tạo lập niềm tin, niềm tin vào cuộc sống khi mà cuộc sống hiện nay không cho phép con người thời gian để dành cho việc làm phong phú đời sống tinh thần của mình đồng thời điều chỉnh thái độ của con người giúp con người tạo được sự cân bằng trong tinh thần, có thái độ tích cực trong lao động, có trách nhiệm với bản thân và sống có lí tưởng.
2.1.2 Vị trí:
Lễ hội Nginh Ông đóng một vai trò quan trọng trong tâm thức của người Hoa. mà còn thỏa mãn nhu cầu thị hiếu, đáp ứng nhu cầu tình cảm tinh thần lễ hội còn là nơi phát huy và duy trì các giá trị truyền thống như: lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước …Đồng thời lễ hội cũng là nơi thể hiện trình độ văn hóa, văn minh của người dân, và trình độ tư duy tín ngưỡng chính nhờ những lễ hội như thế này mà các yếu tố lạc hậu như mê tín dị đoan, lên đồng… bị bài trừ biết con người biết đâu là giới hạn giữa tín ngưỡng và mê tín.
2.2 Bảo tồn và phát huy
Muốn phát huy được tác động tích cực văn hóa người Hoa cũng như các cộng đồng các dân tộc khác, chúng ta cần thực hiện tốt các chính sách dân tộc của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Cần phải biết ứng xử văn hóa với người Hoa làm cho nó hòa nhập hơn nữa trong nền văn hóa của cả cộng đồng cư dân ở Phan Thiết-Bình Thuận và của cả nước. Cần khắc phục tính khép kín đồng thời cũng khắc phục tính mặc cảm, tự ti, tự kỷ trong cộng đồng cư dân, cần khắc phục những yếu tố tiêu cực đang cản trở cho sự giao lưu, tiếp biến lẫn nhau của văn hóa các dân tộc trong nền văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa các dân tộc ở tỉnh Bình Thuận nói riêng.
Mở rộng quan hệ văn hóa của người Hoa nơi đây với người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng như các nơi khác, biết khai thác cũng góp phần làm cho văn hóa nơi đây thêm phong phú.
Tăng cường đầu tư nghiên cứu về lễ hội nhằm cung cấp thêm thông tin, tạo nguồn tư liệu cho độc giả muốn tìm hiểu nghiên cứu vì hiện nay số lượng tư liệu về lễ hội này còn rất ít và chưa cụ thể.
