MÚA RỐI NƯỚC VIỆT NAM

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

MÚA RỐI NƯỚC VIỆT NAM

Gửi bàigửi bởi Ton Nu Thuy Duong » Thứ 2 25/05/09 22:26

Bố cục đề tài:

A) Lý do chọn đề tài
B) Phần nội dung
Chương I: Lịch sử hình thành nghệ thuật múa rối nước
1. Múa rối nước – Nghệ thuật sân khấu dân gian
1.1 Sân khấu dân gian
1.2 Múa rối nước
1.2.1 Múa rối
1.2.2 Múa
1.2.3 Rối
1.2.4 Múa rối nước
2. Lịch sử hình thành nghệ thuật múa rối nước
Chương II: Đặc trưng loại hình nghệ thuật múa rối nước
1. Đặc trưng múa rối nước
1.1 Đặc trưng
1.2 Cách điệu
1.3 Ước lệ
1.4 Tạo hình
2. Trò:
C) Kết luận

Nội dung:

A) Lý do chọn đề tài
Văn hóa dân gian Việt Nam bắt nguồn từ thời xa xưa, thời kì xã hội nguyên thủy khi loài người mới xuất hiện và vẫn luôn tồn tại, nắm giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của văn hóa Việt Nam cho đến ngày hôm nay. Văn hóa dân gian Việt Nam chính là “văn hóa mẹ” - cội nguồn văn hóa dân tộc Việt Nam, thể hiện rõ nét bản sắc văn hóa Việt Nam. Văn hóa dân gian là sản phẩm của sự phát triển xã hội nhất định và cũng là nền tảng tinh thần của xã hội. Mỗi một quốc gia, dân tộc đều có một nền văn hóa dân tộc riêng trên cơ sở nền văn hóa dân gian của chính dân tộc ấy.
Văn hóa dân gian Việt Nam bao gồm các lĩnh vực về văn học dân gian, nghệ thuật dân gian, tri thức, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội dân gian…Trong đó, múa rối nước thuộc về lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn – sân khấu dân gian. Múa rối nước ra đời từ hàng nghìn năm nay, nó gắn liền với cư dân nông nghiệp lúa nước. Từng xuất hiện ở nhiều khu vực, nhưng chỉ ở Việt Nam cho đến hiện nay, múa rối nước mới còn tồn tại và tiếp tục phát triển. Có thể nói, múa rối nước là một nét văn hóa hết sức độc đáo của Việt Nam. Bên cạnh các hoạt động bảo tồn và phát triển nghệ thuật múa rối nước – một môn nghệ thuật đặc trưng của vùng đồng bằng sông Hồng, thì việc đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu gốc rễ của loại hình này là hết sức quan trọng và cần thiết. Việc hiểu rõ về môn nghệ thuật rối nước sẽ giúp cho quá trình bảo tồn, phục dựng và phát triển được tiến hành đúng hướng mà không làm lệch lạc đi những ý nghĩa truyền thống của nó. Bởi lẽ, những giá trị sâu sắc của nghệ thuật múa rối nước đã ăn sâu vào lòng không chỉ những người dân đất Việt mà cả một số quốc gia trên thế giới, thông qua hình ảnh dân tộc Việt Nam và những nét đặc sắc trong đời sống văn hóa vật chất, tinh thần, con người Việt Nam thể hiện rõ nét qua hình ảnh những con rối nước.

B) Phần nội dung
Chương I: Lịch sử hình thành nghệ thuật múa rối nước
1. Múa rối nước – Nghệ thuật sân khấu dân gian
1.1 Sân khấu dân gian
Sân khấu dân gian ( kịch hát dân gian) là trình diễn các tích, trò với cốt truyện được lấy từ truyền thuyết, thần thoại, cổ tích và ngay trong chính các sinh hoạt lao động cuộc sống, trong các mối quan hệ giữa các cộng đồng người trong xã hội.
Sân khấu dân gian là sản phẩm của sự sáng tạo của nông dân nhằm phục vụ cho nhu cầu thưởng thức văn hóa của cộng đồng. Qua thời gian sẽ có tính “đại đồng, tiểu dị”, co giãn nhất định.
1.2 Múa rối nước
1.2.1 Múa rối
Múa rối là một loại hình nghệ thuật có từ rất sớm, bắt nguồn từ các sinh hoạt văn hóa của con người. Đó có thể là trò chơi bóng của con người nguyên thủy. Cái bóng tự nhiên in trên vách núi, bắt chước các loài vật, các động tác múa hát. Có thể xem trò chơi bóng là bước khởi đầu của múa rối.
Tiếp theo, con người, với trình độ tư duy đã phát triển hơn, cùng với sự phát triển trình độ nông nghiệp cần bảo vệ mùa màng, xua đuổi những loài chim đến phá hoại thóc, lúa đã nghĩ đến việc tạo ra những con bù nhìn rơm. Bù nhìn rơm chính là hình dạng con rối đầu tiên.
Một hiện tượng, một trò chơi nữa là đèn cù (đèn kéo quân), với những hình ảnh, những con rối được đính trên những vòng quay cứ quay tít mù. Người ta còn trang trì đèn cù bằng cách cắt giấy, tạo thành rối giấy và những hình người, hình động vật xếp theo trật tự thu gọn một số cốt truyện dân gian như con trâu và người nông dân, Thánh Gióng đánh giặc…
Sau đó là đến các loại trò chơi làm từ giấy bìa, được tô vẽ, trang trí màu sắc cho thêm phần sinh động, tạo ra các hình như đá gà, đánh vật, đánh đu...Cách cấu tạo trò chơi này là lấy một thanh tre vót để phần cật tre lại, uốn thành hình cữ U, hai đầu chữ U căng một sợi dây và buộc những hình người, gà, chim cò…chỉ cần bóp, mở chữ U thì các con rối giấy bìa sẽ cử động. Đáng chú ý là đến đây đã xuất hiện vai trò của sợi dây bên cạnh các hình rối làm bằng giấy. Sợi dây là do sự chủ động của con người điều khiển.
Cuối cùng là các hoạt động múa hát trong các lễ hội làng và các sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Đó là những điệu múa rồng, múa rắn, múa mặt nạ, ông địa… Những điệu múa này có liên quan trực tiếp đến múa rối và trở thành những trò múa rối chính thống.
Như vậy sự ra đời của múa rối chính là một sự phát triển từ thấp lên cao theo một quy trình, một căn cứ nhất định từ:
chơi bóng -> bù nhìn -> đèn cù -> giấy cắt -> múa-> múa rối.

Múa rối có nhiều cách hiểu và cách giải thích khác nhau. Tùy thuộc vào từng quan điểm, hoàn cảnh xuất xứ và từng giai đoạn lịch sử mà nảy sinh quan niệm, cách giải thích khác nhau.
Khái niệm đầy đủ của múa rối có thể được hiểu như sau:
“ Múa rối là một loại hình nghệ thuật sân khấu có khả năng truyền cảm cao độ, là sự phối hợp tài tình giữa kỹ thuật và nghệ thuật tạo hình với kỹ thuật và nghệ thuật điều khiển, lấy con rối làm phương tiện chủ yếu để tái hiện mọi mặt phong phú của trí tưởng tượng của con người, của hiện thực khách quan. Nó có khả năng tập trung, hòa hợp nhiều hình thức nghệ thuật, không gian và thời gian kể cả các loại hình sân khấu khác. Nó phục vụ cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thiếu nhi. Múa rối có rất nhiều loại. Nhân vật rối là trung tâm. Người diễn viên phù hợp với kích thước và tính chất của người và rối. Múa rối chủ yếu dùng tài năng của diễn viên điều khiển con rối, chứ không phải do hóa trang người thật hoặc máy móc quyết định”.
1.2.2 Múa
Một trong những loại hình nghệ thuật sớm nhất của loài người ngay từ thời kỳ nguyên thủy chính là múa và nhạc. Họ ca hát, nhảy múa để quên đi sự sợ hãi trước bóng đêm, để cảm ơn cũng như cầu xin thần linh cho mùa màng thuận lợi…
Rối và múa đều có một đặc trưng cơ bản là động tác, điệu bộ, hình dáng chuyển động đủ các kiểu các dạng, múa rối và múa là loại ngôn ngữ hình dáng, không phái âm thanh.
Múa là sự chuyển động bằng các bộ phận cơ thể người, còn rối là sự chuyển động các bộ phận của con rối dưới sự điều khiển của con người.
1.2.3 Rối
Về từ rối thì theo nhà nghiên cứu Tô Sanh, nó xuất phát từ chữ “ôi lôi” hay “thôi lỗi”.
Ngày xưa ở nước ta không gọi các phường là phường rối mà gọi là phường ổi lỗi, ổi lỗi phường. Tài liệu ghi chép cổ gọi múa rối là trò ổi lỗi, có tài liệu gọi là “ông lỗi”, “thôi lỗi” mà ra. Đó là nói về từ con rối. Còn “ thôi lỗi” và các từ na ná nó là xuất phát từ chữ ôi lôi. Ôi lôi có nghĩa là quỷ quái.
Các cụ giải thích rằng: diễn trò ôi lôi tức là diễn trò không thật, những hình ảnh trên sân khấu như “quỷ quái” không phỉa người thật.
1.2.4 Múa rối nước
Rối nước gắn bó với môi trường sông nước và người nông dân, môi trường biểu diễn của rối là ở trên mặt nước.
Múa rối nước phản ánh nhiều lĩnh vực của cư dân trồng lúa nước, những sinh hoạt của người nông dân như đánh cá, úp nơm, cáo bắt vịt, người thợ cấy, rồng phun nước…
Buồng trò rối nước được nhân dân dựng lên trên mặt nước giữa ao, hồ với kiến trúc cân đối tượng trưng cho mái đình truyền thống của vùng nông thôn Việt Nam gọi là nhà rối hay thủy đình (đình trên nước). Tất cả khiến ta liên tưởng đến một khu đình làng thu nhỏ trên mặt nước.
2. Lịch sử hình thành nghệ thuật múa rối nước
Theo truyền thuyết thì múa rối nước đã ra đời và tồn tại cùng với nền văn minh lúa nước từ thời các vua Hùng dựng nước.
Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi: "Tân Dậu năm thứ 12 (1021) mùa xuân tháng Hai, lấy ngày sinh nhật làm tiết Thiên Thành, lấy tre kết làm ngọn núi Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi làm hình chim bay muông chạy muan vẻ kỳ lạ, lại sai người bắt chước tiếng cầm thú làm vui, để ban yến cho bầy tôi ...". Những "quân rối chim muông" ở đây đã bay, đã chạy và đã có người bắt chước tiếng cầm thú làm vui.
Song dấu ấn của nghệ thuật múa rối nước còn lại đến ngày nay mà chúng ta nhận biết được là vào đời vua Lý Nhân Tông năm 1121- năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 11, trên bia Sùng Thiện Diên Linh đặt tại chùa Long Ðọi, xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Văn bia chùa Đọi có ghi nhân dân biểu diễn các trò diễn Rối nước để mừng thọ Vua.
…” Lại có hai tòa lầu hoa, trong treo chuông vàng, khắc chú tễu mình mặc áo nâu sòng, vạn máy ngẩm giơ vờ lên đánh nghe vỗ bao gươm mà đứng nghiêm quay mặt, nhín thấy Thánh minh mà khom cật cúi đầu…”
Đến đời Trần Thái Tông, ông vua đầu tiên nhà Trần đã lấy trò rối làm biểu tượng trong cuốn Khóa Hư Lục...

Ngày nay, múa rối nước đã được chú ý bảo tồn và tích cực quảng bá rộng rãi không chỉ trong nước mà còn nhiều lần được lưu diễn nước ngoài cùng với sự ra đời của Nhà hát múa rối Thăng Long, Nhà hát múa rối Việt Nam, Nhà hát múa rối Trung ương…

Chương II: Đặc trưng loại hình nghệ thuật múa rối nước
1. Đặc trưng múa rối nước
1.1 Đặc trưng
Múa rối là sự kết hợp một số những thành tố cơ bản có quan hệ mật thiết với nhau. Múa rối nước là sự kết hợp của 4 yếu tố: người – múa – rối – nước.
Người chính là nghệ nhân tạo hình cho múa rối
Múa: các động tác, điệu bộ của rối dưới sự điều khiển của bàn tay con người.
Rối: kết hợp bởi hai đặc trưng tạo hình và múa.
Nước: môi trường, không gian trình diễn của nghệ thuật rối nước.
1.2 Cách điệu
Con rối có tính cách điệu cao. Sự cách điệu thể hiện qua sự không cân đối trong tỉ lệ với người thật, nhân vật thật. Các khuôn mặt vui, buồn, yêu, ghét, thiện, ác đều nhờ vào tạo hình, vẽ mặt. Cách điệu trong múa rối là nhấn mạnh đặc điểm có thật của từng loại nhân vật mà thu lại cho gọn, chặt tới mức cường điệu để gây ấn tượng cho khán giả.
1.3 Ước lệ
Ước lệ trong nghệ thuật múa rối thể hiện qua không gian của rối. Đó là nhà thủy đình và buồng trò. Trong một vùng nước hẹp mà nghệ thuật rối nước ước lệ đó là núi, rừng, đồi, sông, ruộng lúa, hội hè…
1.4 Tạo hình
Rối và nghệ thuật tạo hình có quan hệ mật thiết với nhau, không có tạo hình thì không có con rối. Rối là sản phẩm của nghệ thuật tạo hình. 2. Trò:
Các trò diễn gắn với từng phường rối nổi tiếng ở Việt Nam. Mỗi phường trò có những loại trò rối độc đáo riêng. Một số các trò nổi tiếng như:
Trò bật cờ (phường Nguyễn) Trò dấu mã (phường Trạch)
Trò múa đu tiên (phường Nguyễn) Trò cưỡi cá dâng hoa (phường Trạch)
Trò tứ linh (phường Nguyễn) Trò đánh vật (phường Nhân Hòa)
Trò leo dây (phường Nguyễn) Trò dệt cửi (phường Nhân Hòa)
Trò rồng hành mã (phường Nguyễn) Trò cày bừa (phường Bùi Thượng)
Trò đánh cá (phường Nguyễn) Trò rước kiệu (phường Yên Thôn)
Trò sư tử hí cầu (phường Đống) Trò ngựa xuống võng (phường Đào Thục)
Trò đánh đu (phường Đống) Trò cắm cờ, nhổ cờ (phường Bò)
Trò chém Tá (phường Đống) Trò chăn vịt đánh cáo (phường Nguyễn)

C) Kết luận
Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian độc đáo ở Việt Nam. Thông qua hình tượng các con rối, cũng như những tích, trò được diễn trên sân khấu mà ta phần nào hình dung được những cảnh sinh hoạt dung dị đến ngạc nhiên của những người nông dân Việt Nam đôn hậu, chất phác. Múa rối nói chung và múa rối nước hiện nay đã trở thành một nhân tố cơ bản quan trọng trong nền văn hoá dân gian Việt Nam. Công tác bảo tồn và phục dựng nghệ thuật rối nước đã được tiến hành rất tốt bởi sự ra đời của các nhà hát múa rối từ Trung ương đến địa phương cũng như ý thức bảo tồn và phát triển môn nghệ thuật này tại các phường rối nổi tiếng từ xưa đến nay. Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến việc phổ biến rộng rãi loại hình nghệ thuật này không chỉ ở khu vực phía Bắc, hay chỉ quan tâm đến việc phục vụ thu hút du khách nước ngoài, mà thiết nghĩ nên có nhiều kế hoạch, nhiều chương trình nhằm phục vụ rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước, đặc biệt là người dân các khu vực phía Nam, trong đó quan trọng nhất là việc phục vụ các em thiếu nhi – những chủ nhân tương lai của đất nước để góp phần giáo dục các em về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Văn hóa dân gian – Những thành tố. PGS.TS.NSƯT Lê Ngọc Canh. NXB Văn hóa Thông tin TPHCM 1999
2) Vietnamese Water Puppetry. Phạm Hòang Hải. VNA Publishing House 2006
3) Vietnamese Traditional Puppetry. Nguyễn Duy Hồng. The Gioi publishers 2004
4) http://www.dongtac.net
5) http://giaitri.vnmedia.vn/
6) http://doanmuaroitphcm.com
7) http://www.thanglongwaterpuppet.org
Every path has its paddle !
RANDOM_AVATAR
Ton Nu Thuy Duong
 
Bài viết: 24
Ngày tham gia: Thứ 4 27/02/08 22:21
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron