ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN PHƯƠNG PHÁP NCCN
TÍNH CỘNG ĐỒNG - TÍNH TỰ TRỊ CỦA VĂN HÓA LÀNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ QUA ĐÌNH LÀNG VÀ CỔNG LÀNG
A.MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang đứng trước nguy cơ bị mất dần những công trình kiến trúc làng xã truyền thống – một kết cấu cộng đồng đặc trưng của người Việt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì mô hình làng, xã ở vùng đồng bằng Bắc Bộ được xem như là điển hình nhất, còn lưu giữ lại những nét truyền thống và vì đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi văn hóa của dân tộc, là nơi mà nền văn hóa bản địa trải dài xuyên suốt từ những buổi đầu lập nước và vẫn bền vững sau những biến động lịch sử.
II.Mục đích chọn đề tài
Hệ thống lại những vấn đề liên quan đến làng : đình làng và cổng làng, đây là hai công trình thể hiện rõ đặc điểm của văn hóa làng, xã là tính cộng đồng và tính tự trị. Đồng thời khẳng định lại một lần nữa những giá trị thiêng liêng của nó đối với đời sống cộng đồng dân Việt.
III.Yêu cầu
Phải nêu được những nét đặc trưng cơ bản của văn hóa làng, đình làng và cổng làng, đồng thời phải phù hợp hóa những đặc điểm theo hai đặc trưng cơ bản của làng là tính cộng đồng và tính tự trị, phải chứng minh được làng là một mô hình tiểu nhà nước, tiểu quốc gia với các chức năng hành chính và văn hóa thông qua những tài liệu thu thập được từ các công trình trước có liên quan.
IV.Ý nghĩa thực tiễn
Giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn và hành động kịp thời trong việc gìn giữ nét văn hóa làng ngày càng bị mai một, khi mà khoảng cách giữa làng và đô thị không còn xa nữa, nhận thức đúng thì sẽ hành động đúng, điều này sẽ giúp chúng ta giữ lại những gì còn sót lại của văn hóa làng vốn đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt đặc biệt là người dân ở đồng bằng Bắc Bộ.
B.NỘI DUNG
I.Khái quát về làng ở đồng bằng Bắc Bộ
1.Khái quát về đồng bằng Bắc Bộ
-Đồng bằng Bắc Bộ là tiểu vùng văn hóa thuộc vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
-Đồng bằng Bắc Bộ hay đồng bằng châu thổ sông Hồng là vùng đất đai trù phú, khí hậu nhiệt đới.
-Vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ là nơi khai sinh nền văn hóa Đông Sơn, qua văn hóa Đại Việt, rồi đến văn hóa Thăng Long – Hà Nội, là cái nôi hình thành văn hóa Việt.
-Cư dân đồng bằng Bắc Bộ là cư dân nông nghiệp thuần túy, họ sống quần tụ thành làng.
2. Văn hóa làng ở đồng bằng Bắc Bộ
-Làng là một tổ chức cộng đồng đặc trưng của người Việt, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho hoạt động kinh tế nông nghiệp và bảo vệ địa bàn cư trú.
-Làng là biểu hiện của nền văn minh lúa nước, thể hiện tính cộng đồng và tính tự trị của cư dân nông nghiệp.
-Sự hội tụ này đã tạo nên kiểu cư trú theo số đông, vì vậy, tính cộng đồng được coi là nét đặc trưng số một của làng xã Việt Nam.
-Làng là một hình thái tổ chức có tính bền vững cao.
-Chính văn hóa làng đã tạo ra sức sống bền bỉ này, làng là một quần thể dân cư khép kín mang tính tự và tính cộng đồng.
-Làng Việt truyền thống có cấu trúc không lớn, cấu trúc không gian của làng không cầu kỳ, phức tạp nhưng cũng không đơn điệu sơ sài.
-Mỗi làng đều phải có đình, miếu để thờ cúng, hội họp, giếng làng hay bến nước để sinh hoạt hàng ngày, có cả hào lũy (tre), cổng để ngăn làng với bên ngoài.
II. Đình làng – trung tâm hành chính, văn hóa
1. Lịch sử hình thành- Đặc điểm kiến trúc
-Đình là một trong những công trình kiến trúc chung của cả làng.
-Đây là nơi thờ cúng Thành Hoàng, là nơi làm việc của hội đồng bô lão, các vị chức sắc, hương thân phụ lão và cũng là nơi tổ chức các lễ hội lớn của làng.
-Thông thường, đình có kiểu dáng của một ngôi nhà sàn cách điệu.
-Ngôi đình của cư dân đồng bằng cũng giống như ngôi nhà rông của đồng bào miền núi, cùng có chức năng là ngôi nhà chung của làng, bản.
-Xây dựng đình làng là công việc chung và rất quan trọng, tuân thủ theo những quy tắc chặt chẽ.
-Chọn hướng đình sao và chọn thế đất cho phù hợp với phong thủy.
-Quần thể kiến trúc đình làng từ ngoài vào trong có cổng đình, sân đình và đình.
-Kiến trúc của đình có hai nét nổi bật thường thấy là mái cong hình thuyền và cột đình to.
-Kiến trúc trong đình khác nhau ở hai phần, phần thờ tự và phần còn lại.
-Các phù điêu và chạm khắc trang trí đình làng là biểu tượng độc nhất vô nhị về truyền thống nghệ thuật của ông cha ta, trong đó, chạm lộng là cách chạm khắc tiêu biểu.
-Điêu khắc ở đình làng là điêu khắc trang trí đều được thể hiện mộc mạc, gần gũi qua những hình ảnh về người và vật.
2. Vai trò- chức năng
a. Thể hiện tính tự trị- chức năng hành chính
-Tính tự trị của mỗi làng được thể hiện qua hệ thống hương ước (lệ làng).
-Đình là nơi tiếp đón quan trên, thu các loại sưu thuế, là nơi hội họp, xét xử những vụ kiện cáo trong làng.
b. Thể hiện tính cộng đồng- vai trò phục vụ đời sống tinh thần
-Trước tiên là chức năng thờ cúng, tục thờ Thành hoàng ở đình làng là một nét đặc sắc trong văn hóa Việt Nam.
-Thần Thành Hoàng là thần tượng được tôn vinh nhất trong làng, các vị là thiên thần hoặc nhân thần, cũng đều là thần có công đem lại độc lập cho quốc gia, an ninh cho thôn xóm, là người khai hoang, lập ấp… và được vua sắc phong.
-Tại đình làng, các vị Thành Hoàng được thờ nơi tôn nghiêm nhất, kiến trúc độc đáo nhất, trang trọng nhất.
-Đình là trung tâm văn hóa với các hoạt động văn hóa, văn nghệ và là nơi tổ chức các lễ hội, đình đám…
-Đình làng là nơi lưu giữ tâm tư tình cảm, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu trai gái…
III.Cổng làng – thành lũy bảo vệ
1.Đặc điểm kiến trúc
-Ban đầu, những cổng làng chỉ là những tấm liếp tre, có rào gai sơ sài, sáng nâng lên, chiều hạ xuống. Sau đó, tùy làng làm ăn thịnh vượng hay có những vinh dự lớn (có người thi đỗ, lập công lớn…) mà cổng mới được xây dựng kiên cố.
-Cổng làng xưa thường hướng về phía Đông Nam, hứng gió mát và đón mặt trời mọc.
-Mỗi làng thường có hai cổng: cổng trước và cổng sau.
-Cổng làng Hà Nội xây bằng gạch Bát Tràng, không trát vữa mà chỉ miết gạch, chỉ có một lớp mái.
-Cổng làng Hà Tây xây bằng đá ong, trát vôi, vữa trộn với mật mía và muối rất chắc chắn, kiến trúc có 2 lớp mái chịu ảnh hưởng của kiến trúc đình chùa.
-Cổng làng thường được đặt ở vị trí trang trọng nhất, dễ nhìn thấy nhất và thường thì chỉ có một cửa chính nhưng ở nhiều nơi, liền với cửa chính còn có hai cửa phụ thấp và nhỏ hơn, được xây dựng trang trí hài hoà với cổng chính.
-Về trang trí, cổng có khoang để viết chữ, đôi khi có cả khoang để vẽ cảnh sơn thủy, cúc mai.
2.Chức năng –vai trò
a.Phòng vệ - xác định ranh giới tự trị
-Để thực hiện chức năng phòng vệ, cổng có cửa, có khóa, có tuần canh trông coi chặt chẽ.
-Thời thuộc Pháp, phía sau cổng (hay bên cạnh) là chòi canh với đầy đủ ca trực và vũ khí.
b.Sự xưng danh, thể hiện “cái tôi”
-Cổng làng đảm nhiệm phận sự gìn giữ những dị biệt trong nếp sống, lời ăn tiếng nói của mỗi làng, tạo nên bản sắc riêng, phân biệt “cổng làng ta” với “cổng làng người”, tạo nên một cái tôi không trùng lặp.
-Điểm khác biệt ở mỗi làng là những văn tự được ghi trên cổng làng, cổng làng là nơi phô diễn lời hay, chữ đẹp của mỗi làng. Mỗi câu, mỗi chữ trên cổng làng đều mang trong nó lời tự giới thiệu, tự xưng danh của mỗi làng và lới nhắn nhủ với khách.
-Tại các cột chính, cột phụ của cổng làng có câu đối mang ý nghĩa thâm thúy.
c.Thể hiện tâm tư, tình cảm
-Cổng làng là nơi đưa đón dâu khi hai làng kết thông gia, tình yêu đôi lứa cũng phát triển từ đây, cổng còn là nơi rước thánh khi có lễ hội hàng, là nơi đón tiếp những người đổ đạt, vinh quy bái tổ về làng và là nơi đưa tiễn biết bao thế hệ đi xa cũng như đón họ trở về.
C. KẾT LUẬN
-Ngày nay, đô thị hóa đã làm cho đình làng chỉ còn được gọi là di tích, cổng làng bị coi là cản trở, mọi thứ thay đổi, không tìm ra được nét văn hóa làng thuần túy nữa.
-Đình không còn là trung tâm hành chính, văn hóa nữa. Cổng làng bị phá và xây lại theo lối hiện đại hơn.
-Đó là quy luật tất yếu của lịch sử, cái mới mặc dù chưa hoàn thiện nhưng đã dần thay thế cái cũ đang bị thoái hóa vì không hợp thời và vì không được quý trọng, gìn giữ…
A.MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang đứng trước nguy cơ bị mất dần những công trình kiến trúc làng xã truyền thống – một kết cấu cộng đồng đặc trưng của người Việt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì mô hình làng, xã ở vùng đồng bằng Bắc Bộ được xem như là điển hình nhất, còn lưu giữ lại những nét truyền thống và vì đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi văn hóa của dân tộc, là nơi mà nền văn hóa bản địa trải dài xuyên suốt từ những buổi đầu lập nước và vẫn bền vững sau những biến động lịch sử.
II.Mục đích chọn đề tài
Hệ thống lại những vấn đề liên quan đến làng : đình làng và cổng làng, đây là hai công trình thể hiện rõ đặc điểm của văn hóa làng, xã là tính cộng đồng và tính tự trị. Đồng thời khẳng định lại một lần nữa những giá trị thiêng liêng của nó đối với đời sống cộng đồng dân Việt.
III.Yêu cầu
Phải nêu được những nét đặc trưng cơ bản của văn hóa làng, đình làng và cổng làng, đồng thời phải phù hợp hóa những đặc điểm theo hai đặc trưng cơ bản của làng là tính cộng đồng và tính tự trị, phải chứng minh được làng là một mô hình tiểu nhà nước, tiểu quốc gia với các chức năng hành chính và văn hóa thông qua những tài liệu thu thập được từ các công trình trước có liên quan.
IV.Ý nghĩa thực tiễn
Giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn và hành động kịp thời trong việc gìn giữ nét văn hóa làng ngày càng bị mai một, khi mà khoảng cách giữa làng và đô thị không còn xa nữa, nhận thức đúng thì sẽ hành động đúng, điều này sẽ giúp chúng ta giữ lại những gì còn sót lại của văn hóa làng vốn đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt đặc biệt là người dân ở đồng bằng Bắc Bộ.
B.NỘI DUNG
I.Khái quát về làng ở đồng bằng Bắc Bộ
1.Khái quát về đồng bằng Bắc Bộ
-Đồng bằng Bắc Bộ là tiểu vùng văn hóa thuộc vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
-Đồng bằng Bắc Bộ hay đồng bằng châu thổ sông Hồng là vùng đất đai trù phú, khí hậu nhiệt đới.
-Vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ là nơi khai sinh nền văn hóa Đông Sơn, qua văn hóa Đại Việt, rồi đến văn hóa Thăng Long – Hà Nội, là cái nôi hình thành văn hóa Việt.
-Cư dân đồng bằng Bắc Bộ là cư dân nông nghiệp thuần túy, họ sống quần tụ thành làng.
2. Văn hóa làng ở đồng bằng Bắc Bộ
-Làng là một tổ chức cộng đồng đặc trưng của người Việt, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho hoạt động kinh tế nông nghiệp và bảo vệ địa bàn cư trú.
-Làng là biểu hiện của nền văn minh lúa nước, thể hiện tính cộng đồng và tính tự trị của cư dân nông nghiệp.
-Sự hội tụ này đã tạo nên kiểu cư trú theo số đông, vì vậy, tính cộng đồng được coi là nét đặc trưng số một của làng xã Việt Nam.
-Làng là một hình thái tổ chức có tính bền vững cao.
-Chính văn hóa làng đã tạo ra sức sống bền bỉ này, làng là một quần thể dân cư khép kín mang tính tự và tính cộng đồng.
-Làng Việt truyền thống có cấu trúc không lớn, cấu trúc không gian của làng không cầu kỳ, phức tạp nhưng cũng không đơn điệu sơ sài.
-Mỗi làng đều phải có đình, miếu để thờ cúng, hội họp, giếng làng hay bến nước để sinh hoạt hàng ngày, có cả hào lũy (tre), cổng để ngăn làng với bên ngoài.
II. Đình làng – trung tâm hành chính, văn hóa
1. Lịch sử hình thành- Đặc điểm kiến trúc
-Đình là một trong những công trình kiến trúc chung của cả làng.
-Đây là nơi thờ cúng Thành Hoàng, là nơi làm việc của hội đồng bô lão, các vị chức sắc, hương thân phụ lão và cũng là nơi tổ chức các lễ hội lớn của làng.
-Thông thường, đình có kiểu dáng của một ngôi nhà sàn cách điệu.
-Ngôi đình của cư dân đồng bằng cũng giống như ngôi nhà rông của đồng bào miền núi, cùng có chức năng là ngôi nhà chung của làng, bản.
-Xây dựng đình làng là công việc chung và rất quan trọng, tuân thủ theo những quy tắc chặt chẽ.
-Chọn hướng đình sao và chọn thế đất cho phù hợp với phong thủy.
-Quần thể kiến trúc đình làng từ ngoài vào trong có cổng đình, sân đình và đình.
-Kiến trúc của đình có hai nét nổi bật thường thấy là mái cong hình thuyền và cột đình to.
-Kiến trúc trong đình khác nhau ở hai phần, phần thờ tự và phần còn lại.
-Các phù điêu và chạm khắc trang trí đình làng là biểu tượng độc nhất vô nhị về truyền thống nghệ thuật của ông cha ta, trong đó, chạm lộng là cách chạm khắc tiêu biểu.
-Điêu khắc ở đình làng là điêu khắc trang trí đều được thể hiện mộc mạc, gần gũi qua những hình ảnh về người và vật.
2. Vai trò- chức năng
a. Thể hiện tính tự trị- chức năng hành chính
-Tính tự trị của mỗi làng được thể hiện qua hệ thống hương ước (lệ làng).
-Đình là nơi tiếp đón quan trên, thu các loại sưu thuế, là nơi hội họp, xét xử những vụ kiện cáo trong làng.
b. Thể hiện tính cộng đồng- vai trò phục vụ đời sống tinh thần
-Trước tiên là chức năng thờ cúng, tục thờ Thành hoàng ở đình làng là một nét đặc sắc trong văn hóa Việt Nam.
-Thần Thành Hoàng là thần tượng được tôn vinh nhất trong làng, các vị là thiên thần hoặc nhân thần, cũng đều là thần có công đem lại độc lập cho quốc gia, an ninh cho thôn xóm, là người khai hoang, lập ấp… và được vua sắc phong.
-Tại đình làng, các vị Thành Hoàng được thờ nơi tôn nghiêm nhất, kiến trúc độc đáo nhất, trang trọng nhất.
-Đình là trung tâm văn hóa với các hoạt động văn hóa, văn nghệ và là nơi tổ chức các lễ hội, đình đám…
-Đình làng là nơi lưu giữ tâm tư tình cảm, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu trai gái…
III.Cổng làng – thành lũy bảo vệ
1.Đặc điểm kiến trúc
-Ban đầu, những cổng làng chỉ là những tấm liếp tre, có rào gai sơ sài, sáng nâng lên, chiều hạ xuống. Sau đó, tùy làng làm ăn thịnh vượng hay có những vinh dự lớn (có người thi đỗ, lập công lớn…) mà cổng mới được xây dựng kiên cố.
-Cổng làng xưa thường hướng về phía Đông Nam, hứng gió mát và đón mặt trời mọc.
-Mỗi làng thường có hai cổng: cổng trước và cổng sau.
-Cổng làng Hà Nội xây bằng gạch Bát Tràng, không trát vữa mà chỉ miết gạch, chỉ có một lớp mái.
-Cổng làng Hà Tây xây bằng đá ong, trát vôi, vữa trộn với mật mía và muối rất chắc chắn, kiến trúc có 2 lớp mái chịu ảnh hưởng của kiến trúc đình chùa.
-Cổng làng thường được đặt ở vị trí trang trọng nhất, dễ nhìn thấy nhất và thường thì chỉ có một cửa chính nhưng ở nhiều nơi, liền với cửa chính còn có hai cửa phụ thấp và nhỏ hơn, được xây dựng trang trí hài hoà với cổng chính.
-Về trang trí, cổng có khoang để viết chữ, đôi khi có cả khoang để vẽ cảnh sơn thủy, cúc mai.
2.Chức năng –vai trò
a.Phòng vệ - xác định ranh giới tự trị
-Để thực hiện chức năng phòng vệ, cổng có cửa, có khóa, có tuần canh trông coi chặt chẽ.
-Thời thuộc Pháp, phía sau cổng (hay bên cạnh) là chòi canh với đầy đủ ca trực và vũ khí.
b.Sự xưng danh, thể hiện “cái tôi”
-Cổng làng đảm nhiệm phận sự gìn giữ những dị biệt trong nếp sống, lời ăn tiếng nói của mỗi làng, tạo nên bản sắc riêng, phân biệt “cổng làng ta” với “cổng làng người”, tạo nên một cái tôi không trùng lặp.
-Điểm khác biệt ở mỗi làng là những văn tự được ghi trên cổng làng, cổng làng là nơi phô diễn lời hay, chữ đẹp của mỗi làng. Mỗi câu, mỗi chữ trên cổng làng đều mang trong nó lời tự giới thiệu, tự xưng danh của mỗi làng và lới nhắn nhủ với khách.
-Tại các cột chính, cột phụ của cổng làng có câu đối mang ý nghĩa thâm thúy.
c.Thể hiện tâm tư, tình cảm
-Cổng làng là nơi đưa đón dâu khi hai làng kết thông gia, tình yêu đôi lứa cũng phát triển từ đây, cổng còn là nơi rước thánh khi có lễ hội hàng, là nơi đón tiếp những người đổ đạt, vinh quy bái tổ về làng và là nơi đưa tiễn biết bao thế hệ đi xa cũng như đón họ trở về.
C. KẾT LUẬN
-Ngày nay, đô thị hóa đã làm cho đình làng chỉ còn được gọi là di tích, cổng làng bị coi là cản trở, mọi thứ thay đổi, không tìm ra được nét văn hóa làng thuần túy nữa.
-Đình không còn là trung tâm hành chính, văn hóa nữa. Cổng làng bị phá và xây lại theo lối hiện đại hơn.
-Đó là quy luật tất yếu của lịch sử, cái mới mặc dù chưa hoàn thiện nhưng đã dần thay thế cái cũ đang bị thoái hóa vì không hợp thời và vì không được quý trọng, gìn giữ…