Bạn đang xem trang 1 / 1 trang

mùa an cư kiết hạ- nét văn hoá của phật giáo thái lan

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 5 09/07/09 11:20
gửi bởi nguyen van tinh
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Phật giáo được truyền vào Thái Lan vào đầu thế kỷ thứ 3 trước tây lịch ( khoảng năm 241 ) theo sau sự truyền bá chính của nhà vua Phật tử Asoka đến Tích Lan và Miến Điện. Phậy giáo Thái Lan còn tiếp nhận thêm nhiều nhà truyền bá đến từ Miến Điện vào năm 1044 và các pháp sư đến từ Tích Lan vào năm 1155. Hầu hết là theo truyeennf thống Phật giáo Theravada ( còn gọi là phật giáo nguyên thủy ). Tuy vậy, Phật giáo Theravada chỉ thật sư đặt lại nền móng, phát triển và ảnh hưởng sâu rộng vào xã hội Thái Lan triều đại Sukhothay ( 1237-1456 ). Từ đó trở đi, Phật giáo Theravada là quốc giáo ở Thái Lan.
Thái Lan được biết đến như “vùng đất tự do”, “quê hương của những nụ cười”, “ đất nước của những chiếc áo cà sa” và dường như tên gọi cuối cùng này đã mô tả một cách sâu sắc về tôn giáo lớn mà dân tộc Thái đang tôn thờ. Hiện nay Thái Lan có 95% dân số theo Phật giáo, hầu hết là theo truyền thống Theravada. Chùa và các tăng sĩ đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội, hầu như có ảnh hưởng đến tất cả lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội. Hàng năm ở Thái Lan có nhiều lễ hội lien quan đến Phật giáo như lễ hội hoa muồng vàng ( tổ chức vào tháng 4 ở vùng Đông Bắc ), tết Songkran ( tổ chức vào tháng tư ), lễ dâng hoa ở Saraburi ( tổ chức vào ba tháng tu kín trong mùa mưa của các tăng sư )… Và một trong những hoạt động có ý nghĩa đối với các tăng sư là mùa An cư Kiết hạ- ba tháng tu kín trong mùa mưa hay ba tháng chay của tăng sư.
Vì chúng tôi đang học về văn hóa Đông Nam Á nên chọn đề tài này để tìm hiểu sâu hơn về Phật giáo Theravada ở Thái Lan cũng như về văn hóa Phật giáo Thái Lan.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích : Phật giáo đã đóng góp tích cực vào trong đời sống của người dân Thái không những về mặt vật chất kinh tế mà còn đi sâu vào đời sống tinh thần của họ, và đã trở thành nét văn hóa Phật giáo. Vì thế chúng tôi chọn đề tài này để tìm hiểu sâu hơn về Phật giáo Thai Lan, đặc biệt là về mùa An cư Kiết hạ.
- Nhiệm vụ : tìm hiểu về
+ Những đặc điểm cơ bản của Phật giáo Theravada ( phật giáo nguyên thủy ) Thái Lan.
+ Những giáo lý căn bản của Phật giáo Theravada ở Thái Lan.
+ Quan niệm của Phật giáo Theravada về mùa An cư Kiết hạ.
+ Những quy định và nghi thức trong mùa An cư kiết hạ.
+ Vai trò của mùa An cư đối với các sư và người dân Thái.
3. Lược sử của đề tài
Đây là đề tài nghiên cứu về một khía cạnh nhỏ của văn hóa Phật giáo Thái Lan, nên theo chúng tôi được biết thì ngoài một bài viết “ truyền thống an cư mùa mưa của Phật giáo Nam Tông” của sư Bửu Chánh trên báo Giác Ngộ, số 187, ra ngày 28/8/2003, và sách “ Tăng đồ nhà Phật” của Đoàn Trung Còn, Nxb Tôn giáo Hà Nội, 2004 thì cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này.
4. Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận ; Dựa trên nguyên tắc tiếp cận dưới góc độ triết học tôn giáo và triết học văn hóa.
- Phương pháp nghiên cứu : sưu tầm tài liệu trên sách, báo, các luận văn và trên internet từ đó xử lí tư liệu bằng phương pháp quy nạp.
5. Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học
- Ý nghĩa thực tiễn : đề tài sẽ cung cấp thêm thông tin cho những ai quan tâm đến đất nước cũng như đễn văn hóa Phật giáo Thái Lan.
- Ý nghĩa khoa học : những thong tin trong đề tài có thể sử dụng để tham khảo cho những môn lien quan đến tôn giáo cũng như văn hóa Thái Lan.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu đề tài gồm 3 chương chính
Chương 1. Đặc điểm Phật giáo Theravada (phật giáo nguyên thủy) ở Thái Lan.
Chương 2. Các hoạt động xoay quanh mùa An cu Kiết hạ trong Phật giáo Theravada.
Chương 3. Vai trò của mùa An cư Kiết hạ đối với các sư và người dân Thái.

CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM PHẬT GIÁO THERAVADA ( PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY ) Ở THÁI LAN
1.1 Qúa trình đạo Phật du nhập vào Thái Lan
Trước khi người Thái thành lập quốc gia của riêng mình thì phật giáo đã được truyền vào Thái Lan từ rất lâu. Theo sự khảo cứu gần đây của nhà nghiên cứu lịch sử nổi tiếng của Thái Lan là than vương Đam Rông thì đạo Phật được truyền vào Thái Lan chia làm bốn thời kỳ, đó là thời kỳ truyền nhập phật giáo Thượng Tọa Độ, thời kỳ truyền nhập phật giáo Đại Thừa, thời kỳ truyền nhập phật giáo Pagan và thời kỳ truyền nhập của phật giao Srilanca.
1.2 Giáo lý căn bản của Phật giáo Thái Lan
Phật giáo Thái Lan chịu ảnh hưởng rất mạnh của phật giáo hệ Srilanca, tức Phật giáo Theravada nên giáo lý của phật giáo Thái Lan là giáo lý của Phật giáo Theravada thông qua bộ Tam Tạng Kinh (Tipitaka) với ba tạng kinh : Kinh Luật, Kinh Luận và Kinh Tạng. Các nhà sư Thái Lan đều chấp hành một cách nghiêm ngặt giáo lý của Phật giáo Theravada. Giáo lý phật giáo Theravada tập trung đầy đủ trong ba tạng kinh : Tạng Kinh, Tạng Luật và Tạng Luận. Về giới luật, đạo phật đưa ra phép tu tổng quát cho tất cả hang phật tử, để ngăn ngừa điiều ác, làm điều thiện, đó là :
- Ngũ giới : Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói điều sai quấy, không uống rươu.
- Bát quan trai giới ( tám điều khuyên ) ngoài ngũ giới còn có ba điều khuyên nữa : không phấn son trang điểm, không hát múa cũng không xem hát múa, không nằm trên giường cao rộng.
- Thập giới ( mười điều khuyên ) ngoài bát quan trai giới còn có hai điều khuyên nữa : không ăn giờ ngọ, không cần giữ và tích trữ vàng bạc tiền của
1.3 Đặc điểm phật giáo Thái Lan
Đạo Phật ở Thái Lan chịu ảnh hưởng của ba nhân tố là Phật giáo Nguyên thủy truyền vào từ Srilanca, Đạo Bà La Môn từ Campuchia và các tín ngưỡng dân gian.
Giáo lý Phật giáo đã có một ảnh hưởng rất lớn đối với tính cách của người Thái theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ rõ ràng nhất là niềm tin vào lòng từ bi và quả báo. Lòng từ bi chính là một phần diện mạo của văn hóa Thái Lan, quan niệm làm phước đã ăn sâu vào các thế hệ người dân Thái, vì vậy người Thái rất dễ dàng thể hiện lòng hiếu khách một cách tự nhiên. Tính cách đặc biệt này của người Thái được du khách nước ngoài đánh giá rất cao.
Đến bất kỳ một gia đình người Thái nào, các nhà sư đều được mời ngồi ở một vị trí đặc biệt và các thành viên trong gia đình ngồi ở vị trí thấp hơn, các bậc cha mẹ thường cho con đi tu một thời gian dù chỉ trong vài ngày hoặc vài tháng. Theo ước tính hàng năm có khoảng 10% nam giới sống tại các chùa. Tổ chức Phật giáo cũng có uy tín rất lớn đối với xã hội Thái Lan, ở các vùng nông thôn, chùa không chỉ là trung tâm văn hóa mà còn là trung tâm xã hội nữa. Ngôi chùa là một trong năm thành phần cơ cấu nên một ngôi làng Thái, đó là : gia đình, họ hàng, dân tộc, chùa, trường học. Chùa và trường học quyết định bộ mặt của làng và tình cảm của dân chúng đối với làng. Nhà chùa có vai trò đặc biệt về mặt xã hội, trước hết nhà chùa là nơi dạy dỗ các trẻ nhỏ trong làng, việc này được các nhà sư thực hiện một cách tự nguyện.
Ngay từ nhỏ tới khi trưởng thành, mỗi người dân Thái được giáo dục về tinh thần và nghĩa vụ với nhà vua, với đạo Phật, với hiến pháp, chính phủ, trường học, gia đình và xã hội. Học sinh phải học đạo đức và luân lý của đao Phật. Ít nhất một lần trong tháng học sinh được nghe nhà sư trong vùng đến giảng đạo đức, sau khi chào cờ và trước khi bước vào lớp học, học sinh phải đọc một đoạn thơ bằng tiếng Pali về Phật, Pháp, Tăng…. Qua những điều trên ta thấy Phật giáo đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của người Thái.
1.4 Phật giáo trở thành yếu tố quan trọng trong nền văn hóa Thái Lan.
Chùa và Tăng sĩ đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội Thái trên các lĩnh vực giáo dục, kinh tế văn, văn hóa và xã hội :
- Về giáo dục : Tăng sĩ Thái Lan đóng một vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực này. Ngôi trường đầu tiên được xây dựng trên khu đất của chùa và những giáo viên đầu tiên là Tăng sĩ. Phật giáo đã nắm giữ vai trò này trong một thời gian dài cho đến triều đại của vua Chulalongkorn ( vua Rama V ) thì ngành giáo dục phổ cập chính thức ra đời. Ngày nay tuy vai trò của Phật giáo không còn can thiệp vào ngành giáo dục phổ cập nhưng những di sản của Phật giáo để lại vẫn giữ nguyên giá trị và vẫn đứng vững trong lòng dân tộc Thái.
- Về kinh tế : Phật giáo cũng đóng một vai trò đáng kể trong môi trường kinh tế của người dân Thái. Nhiều lời Phật dạy về cách chọn nghề chân chính và thực hiện công việc làm ăn chân chính đã được áp dụng rộng rãi trong mọi giai tầng của xã hội Thái và người dân Thái biết làm thế nào để duy trì một gia đình hạnh phúc, ổn định kinh tế qua giáo lý của Phật.
- Những nghi lễ : Sinh hoạt tín ngưỡng Phật giáo luôn là một phần quan trọng trong đời sống của người dân Thái từ lúc chào đời đến lúc chết đều liên quan đến chùa chiền và Tăng sĩ. Các nghi lễ chính như là ; lễ đặt tên, lễ thọ giới, lễ cưới, lễ tang.
- Phật giáo với công tác từ thiện xã hội : được thấm nhuần lời dạy từ bi của đức Phật, các Tăng sĩ Phật giáo Thái Lan đã trở nên tích cực, để hết tâm trí vào các vấn đề phúc lợi xã hội.
- Ngôi chùa và đời sống của người dân Thái : chùa là kho tàng an toàn nhất vì người dân Thái thường cảm thấy bất an khi giữ những đồ quý giá trong nhà vì thế họ gửi vào chùa và xin các vị trụ trì lưu giữ trong chùa. Chùa còn là nơi an toàn, nơi để bảo tồn ( những pho tượng Phật bằng vàng và ngọc ), chùa là nơi tạm trú, nơi hội họp, và chùa cũng là một trung tâm văn hóa.
CHƯƠNG 2. CÁC HOẠT ĐỘNG XOAY QUANH MÙA AN CƯ KIẾT HẠ TRONG PHẬT GIÁO THERAVADA Ở THÁI LAN.
An cư Kiết hạ, theo tiếng Thái là Cham Phansaa nghĩa là tọa tại chùa vào mùa nhập hạ, trong đó Phansaa nghĩa là mùa mưa hay là hạ, năm. Mùa An cư Kiết hạ gồm có 3 tháng, chủ yếu trong mùa mưa khoảng từ 15/8 đến 15/11 theo Tây lịch, thời gian này gọi là tiền an cư. Nếu vì một lý do nào đó không phát nguyên nhập hạ tiền an cư thì chư Tăng có thể nhập hạ trong thời hậu an cư ( sau tiền an cư một tháng là từ 15/9 đến 15/12 ). Đây là khoảng thời gian các Tăng sĩ tu kín trong chùa, ít đi ra khỏi nơi tu hành. Các sư sẽ tập trung tu tập cho việc hành đạo nhất là tu tập thiền định, thực hành bát chánh đạo, con đường giải thoát.
2.1. Quan niệm của Phật giáo nguyên thủy về mùa An cư Kiết hạ.
Mùa An cư Kiết hạ được tổ chức vào mùa mưa, vì mùa mưa là mùa côn trùng sinh sôi nảy nở, cây cối đâm chồi nảy lộc. Do đó việc tập trung tu tập trong mùa An cư Kiết hạ là hạn chế sự đi lại, tránh dẫm đạp lên côn trùng cây cỏ do các hoạt động sinh hoạt của các nhà sư. Có thể khẳng định rằng, mùa An cư Kiết hạ là xuất phát từ lòng từ bi trong Phật giáo.
Phật giáo Theravada cho rằng trú xứ an cư là vùng đất an lành sẽ giúp cho chư Tăng thở được mùi thơm của cơn gió Giới- Định- Tuệ. Tu tập tích cực trong mùa an cư, chư Tăng sẽ dần dần vén được bức màn vô minh ái dục, những cây chánh niệm của rừng xanh, tâm linh sẽ đâm chồi nảy lộc, những dòng suối trí tuệ sẽ tung tăng nhảy múa,trái tim từ bi sẽ từng nhịp thở thật thà. Mùa An cư Kiết hạ giúp cho Tăng sĩ có thời gian để nhìn vào tấm thân ngũ uẩn phù du giả tạo vô thường sanh diệt này chẳng khác nào một cánh nhạn giữa sớm tinh sương, một cơn gió thoảng, một áng mây trôi, cái hiện hữu chỉ là trong chớp mắt.
Nhờ có An cư Kiết hạ mà chư Tăng mới làm cho Phật pháp được sống còn, vì có An cư Kiết hạ mà Giới –Định- Tuệ mới có điều kiện phát huy, nơi nào có Giới- Định- Tuệ nơi đó có Phật pháp.
Nếu như đến thời kỳ An cư mà sư Tăng nào cố ý không nhập hạ thì phạm tội tac ác ( dukkata ) và sẽ không được hưởng quả báu Kathina. Như vậy, mùa nhập hạ giúp cho người con Phật tử nhìn lại chính mình.
Đến ngày An cư các Tăng sư phải tìm trú xứ thích hợp để nguyện nhập hạ, địa điểm an cư có thể là ngôi chùa, ngôi tịnh xá, hay tịnh thất…
Do đó, mùa An cư là truyền thống tốt đẹp của Phật giáo nói chung và Phật giáo Theravada ( Phật giáo nguyên thủy ) nói riêng.
2.2 Những quy định trong mùa An cư đối với các Tăng sư.
Như trên đã nói, An cư Kiết hạ là thời gian các sư tu kín nên các sư được giới hạn trong một khuôn viên chùa nhất định, khi mặt trời chưa lên hoặc đã lặn mà không ở trong khu vực đó xem như là “ đứt hạ”, nghĩa là mùa an cư đó không nhập hạ. Vì thế các sư chỉ được phép sáng đi chiều qua, không được đi qua đêm. Trong những trường hợp đặc biệt chẳng hạn như cha mẹ hay thầy tổ bị bệnh hay viên tịch hoặc có tăng sự quan trọng, hoặc có thí chủ thỉnh đi làm những công việc cần thiết, hoặc có những việc liên quan đến pháp luật thì các sư nhập hạ mới được phép đi và phải xin nguyện tam thời rời khỏi trú xứ an cư nhưng không được quá 7 ngày. Nếu như khi mặt tròi ngày thứ tám đã mọc rồi mà vi Tăng sư nào đó chưa về nơi an cư thì cũng xem như là “ đứt hạ” thì xem như mùa an cư đó không nhập hạ và không được hưởng những quyền lợi của mùa An cư Kiết hạ như mất đi một tuổi đạo, không được hưởng quả báu Kathina,….
Chư Tăng theo truyền thống Phật giáo Theravada ở Thái Lan đến ngày An cư mùa mưa đều phải phát nguyện nhập hạ dù ở nơi đó có tổ chức trường hạ hay không. Thậm chí nếu chỉ có một mình, vị sư đó cũng phải nhập hạ đúng pháp.
2.3 Những nghi thức chủ yếu trong mùa An cư Kiết hạ.
2.3.1. Ngày nhập hạ ( gọi là Wan Khao Phansa ).
Trước khi vào mùa An cư, các phật tử sẽ tổ chức một buổi trai tăng để tiễn các vị sư vào mùa an cư, gọi là dâng y tắm mưa. Theo sách kinh Ấn Độ có ghi lại rằng, khi xưa do mùa An cư là mùa mưa nên các vi Sadi thường hay tắm mưa nhưng do không có đủ quần áo nên các Sadi thường không mặc gì khi tắm. Một lần có một bà Visakha thấy như vậy bà rất bất ngờ và bà bạch với đức Phật là phát thêm áo cho các sư, từ đó có lễ dâng y tắm mưa.
Đúng tối ngày 15/8, tất cả các sư tập trung lên chánh điên tụng kinh và phát nguyện nhập hạ. Các câu kinh được đọc trong buổi nhập hạ này được đọc bằng song ngữ tiếng Phạn và tiếng Thái. Trong đó có câu đại ý là “ tôi xin nguyện nhập hạ 3 tháng mùa mưa tại tịnh xá này”, đọc 3 lần. Sauk hi đọc xong một vị trụ trì sẽ lên thông báo về ranh giới khu vực tu tập của tịnh xá đó.
2.3.2 Quá trình nhập hạ.
- Sinh hoạt ngày thường : Sinh hoạt thường ngày của các sư bao gồm pháp học và pháp hành. Pháp học bao gồm việc học về kinh, luật, luận, tiếng Phạn, triết học Phật giáo, tâm lý Phật giáo, lịch sử Phật giáo,… Pháp hành bao gồm việc học về lý thuyết thiền định và thiền quán. Mỗi ngày các vi sư Tăng sẽ có hai thời công phu sáng và chiều, tùy theo quy định của mỗi chùa nhưng chủ yếu là 4 giờ sáng và 4 giờ chiều, hoặc 6 gời sáng và 6 giờ chiều. Về việc công phu, các sư tụng kinh bằng song ngữ tiếng Phạn và tiêng Thái, với nội dung chủ yếu là tán dương Phật, Pháp, Tăng. Tụng kinh là một đề mục quan trọng phải tu niệm hàng ngày.
Hầu hết các chùa đều không có nhà bếp, chùa chỉ cung cấp nơi ở, nơi học và tu tập, nên trong mùa An cư các Tăng sư phải đi khất thực hàng ngày để có thức ăn cho bữa ngọ. Khoảng 7-8 giờ sáng các sư bắt đầu đi khất thực và khoảng 10 giờ họ ăn trưa. Họ ăn theo thuyết “ tam tịn nhục” ( không nghe, không thấy, không nghĩ ), không phân biệt chay mặn, tất cả những gì họ khất thực được đều có thể dùng được và mỗi ngày họ chỉ ăn một bữa.
Trên đây là các nghi lễ hàng ngày mà các Tăng sư phải thực hiện đều đặn, bao gồm việc học và việc tu tập.
Các sinh hoạt trong mỗi tháng : Nhằm ngày 14 và 29, chùa tổ chức buổi tụng kinh sám hối cho các phật tử. Các phật tử sẽ tập trung đến chùa để sàm hối về những điều sai trái mình đã làm từ trước đến nay. Ngày 15 và 30 chùa tổ chức lễ sám hối dành cho chư Tăng ( lễ Bố Tát ). Tất cả các sư phải tập trung lên chánh điện làm lễ, lễ Bố Tát được thực hiện vào khoảng 6 giờ chiều. Trước lễ Bố Tát các sư tập trung lại để xưng tội, “ xin lỗi nhau” về những lời nói hay hành động sai trái trong nửa tháng qua. Các sư sẽ nhận các việc làm đó là do sơ ý hay là do bệnh duyên, chỉ ra để cùng nhau sửa sai. Trong buổi lễ này co một vị Tăng sư sẽ đại diên cho Tăng đoàn đọc lại hết các giới luật của Tăng sư, co 227 giới luật để các vị khác tu tập theo.
2.3.3. Ngày ra hạ ( gọi là Wan Ook Phansa ).
Trước khi kết thúc mùa an cư một ngày, vào ngày 15/11 chư Tăng tổ chức lễ Tự tứ, tiếng Pali gọi là Pavarana, nghĩa là “thỉnh cầu, tùy ý”. Do đó, ngày Tự tứ là ngày tỉnh những vị sư cùng phẩm hạnh nói rõ những sai lầm khuyết điểm dù thấy, nghi hoặc nghe về giới hạnh của mình trước sự chứng minh của chư Tăng để sám hối. Đấy là một hình thức rrats tốt trong Phật giáo, mặc dù là giới luật ngày xưa nhưng vẫn không lạc hậu với xã hội dduong đại. Hình thức này nói lên tinh thần tập thể góp ý phê bình cá nhân và cá nhân tiếp nhận ý kiến sửa đổi và hứa không tái phạm. Sau khi sám hối xong, nếu trong tự viện có khoảng bốn vị Tăng sư trở lên thì các vị bắt đầu cử hành lễ Bố Tát. Một vị thông thạo giới luật đại diện cho chư tăng trùng tuyên lại tất cả giới luật. Mục đích là giúp các vị ôn lại tất cả giới luật mà mình đã thọ trì, nếu vi phạm thì lập tức sám hối trước tăng chúng, hoặc chịu hình phạt tùy theo giới luật quy định. Vì thế ngày lễ Tự Tứ mang một ý nghĩa vô cùng cao quý của tâm hồn, nhằm góp phần xây dựng một ý thức tự giác, giác tha chứ không phải tố khổ lẫn nhau để tầm cầu lợi danh hay tranh đoạt ngôi vị.
Sáng hôm sau, tức là ngày 16 xem như đã kết thúc mùa An cư Kiết hạ.
2.3.4. Lễ dâng y Kathina ( gọi là Thotkathin ).
Đây là ngày có ý nghĩa rất quan trọng đối với các sư Tăng trong ba tháng an cư.
Thời gian từ ngày 16/11 đến 15/12, trong vòng một tháng tất cả các chùa phải tổ chức một ngày lễ dâng y Kathina để thẩm định lại những hoạt động trong ba tháng an cư vừa qua.
Lễ dâng y Kathina xuất phát từ một truyền thuyết của Phật giáo. Theo truyền thuyết, lúc Đức Phật còn sống, các sư tăng mỗi khi đến gặp Người với bộ y phục đã cũ kĩ và rách rưới, vì hàng ngày các vị ấy đi khất thực phải chịu mưa nắng, đồng thời phair đi đường xa có lúc bị mưa gió. Từ đó, Đức Phật cho các sư nhận quần áo sạch do các tín đò dâng cúng, nhưng vị nào giữ đúng luật trong ba tháng nhập hạ thì mới đủ tư cách nhận lễ vật dâng y.
Thật ra buổi lễ này là do các vị thí chủ dâng y tổ chức để tiễn chư Tăng ra hạ. Ngay từ lúc trời vừa sáng, mọi nhà đều chuẩn bị sẵn sàng một mâm đồ ăn đặc biệt để biếu chư tăng. Trong buổi lễ này việc dâng y cho các tăng sư là quan trọng nhất. Việc dâng y Kathina như vậy, người dâng y cũng có phước mà chư Tăng cũng co phước. Phước của chư Tăng là được phật tử cúng y và được xa lìa tam y, không phải lúc nào cũng mặc tam y. Còn phước của người dâng y họ tin rằng làm như vậy thì kiếp sau mình sẽ có sắc đẹp. Đó là điều đặc biệt của lễ dâng y Kathina, vì thông thường khi phật tử cúng dường cho chư tăng thì chỉ có phật tử ấy có phước, còn trong lễ dâng y này cả phật tử và chư tăng đều có phước. Buổi lễ dâng y Kathina là một quy định bắt buộc gắn liền với mùa an cư.
2.4. Các lễ hội.
- Lễ rước nến : Vào buổi sáng ngày đầu tiên của mùa An cư kiết hạ- Wan Khao Phansaa, các phật tử sẽ mang nến, thực phẩm vafnhwngx đồ dung cần thiết đến chùa cúng dường cho các tăng sư. Đặc biệt là nến, nến được xem là vật mang lại ánh sáng cho các tăng sư trong suốt mùa an cư. Vì thế việc cúng dường nến là một trong những việc quan trọng đối với các phật tử và dần dần nó trở thành một lễ hội lớn của nhiều tỉnh ở Thái Lan. Nhưng lễ hội nến ở Ubon Ratchathani được xem là lớn và đẹp nhất Thái Lan, thể hiện tài năng của thợ thủ công và sự sung đạo của người dân địa phương. Nhiều cây nến bằng sáp ong được chạm khắc khá công phu và sắc sảo với nhiều kích thước và hình dạng khác nhau diễu hành xung quanh thành phố. Mỗi cây nến sẽ đại diện cho chùa, giáo khu, hay tổ chức nào đó. Bên cạnh những cây nến được chuẩn bị một cách tỉ mỉ còn có những bức điêu khắc, chạm trổ các hình ảnh về truyền thuyết phật bằng gỗ hay nhựa có tráng sáp ong. Ngoài ra trong khi diễu hành còn có các nghệ sĩ múa và hát trong trang phục truyền thống.
- Lễ dâng hoa ở Saraburi : Lễ này cũng được tổ chức vào ngày đầu tiên của mùa An cư Kiết hạ. Hàng năm ở Phra Buddha Bat, tỉnh Saraburi, người ta tổ chức lễ dâng hoa để tạ ơn các Tăng sư. Một truyền thuyết phật giáo kể lại rằng : có một phật tử người Ratchakrua đã dâng lên Phật Tổ hoa nhài thay cho đồ ăn như thường lệ. Vậy đây có thể xem như một phong tục truyền thống của các phật tử. Tuy nhiên ngày nay chỉ con ở Phra Buddha Bat mới tổ chức thành lễ hội. Và vì hoa Khao Phansaa không còn đủ để đáp ứng nhu cầu cho khách thập phương nên người ta cũng dung nhiều loại hoa khác để dâng lên trong dịp này. Lễ hội cũng có một đoàn diễu hành những cây nến lớn được trạm trổ rất tinh xảo làm bằng sáp ong. Những cây nến này sẽ được dâng lên điện thờ Phra Buddha Bat và các chùa khác trong tỉnh sau cuộc diễu hành.
2.5. Các hoạt động của người dân Thái trong mùa An cư Kiết hạ.
Trong ba tháng an cư này, các thanh niên Thái tu gieo duyên rất nhiều. Trong cuộc đời mình, một người thanh niên Thái phải có ít nhất một lần vào chùa tu. Nghi thức này có ý nghĩa rất quan trọng và có tính chất bắt buộc đối với mọi thanh niên Thái, kể cả bậc vua chúa khi họ ở giai đoạn trưởng thành, mười tám đến hai mươi tuổi. Thông thường họ vào chùa tu tập ba tháng, một năm hoặc ba năm tùy theo sở thích và ước nguyệ của mỗi người, nhưng chủ yếu là vào mùa An cư Kiết hạ này. Nhiều bậc cha mẹ muốn con cái của mình đi tu trước khi lập gia đình hoặc khi bắt đầu một nghề nghiệp chính thức. Vì rằng thời gian này giúp người ấy có được tâm hồn rộng lớn hơn được kèm với giới luật, những lời phát nguyện sẽ khiến cho người ấy phải trân trọng và gìn giữ suốt một đời người. Nó là nền tảng vững chắc cho đời sống tâm linh của người dân Thái. Nếu trong suốt cuộc đời ai chưa từng tu gieo duyên thì đù có trăm tuổi, dù từng trải đường đời thế nào vẫn bị coi là “ người chưa chin”, còn “ thô sượng” và ngày xưa không lấy được vợ. Khoảng thời gian này còn quy định đối với các quan chức, quân cảnh nhà nước, và có thể được lãnh lương xuất gia. Ở Thái Lan, xuất gia tuy không là một loại nghĩa vụ cưỡng chế nhưng nó là hình thức được xã hội thừa nhận và có tư cách xã hội.
Trong thời gian xuất gia này, những người tu gieo duyên này tu tập chung với các Tăng sư, phải sống nghiêm túc theo giới luật như một tăng sĩ thật sự. Tuy nhiên các vị ấy có thể trở về thân phận thế tục ở bất kỳ thời điểm nào vị ấy muốn.

CHƯƠNG 3. VAI TRÒ CỦA MÙA AN CƯ KIẾT HẠ ĐỐI VỚI CÁC TĂNG SƯ VÀ NGƯỜI DÂN THÁI.
3.1. Đối với Tăng sư :
Việc nhập hạ trong mùa An cư Kiết hạ đối với các tăng sư rất quan trọng vì nếu không nhập hạ, các Tăng sư sẽ phạm tội tác ác, đồng thời sẽ mất đi một tuổi đạo.
Trong mùa An cư Kiết hạ, các tăng sư sẽ được học sâu hơn, thực hành nhiều hơn các lý thuyết cũng như cách thực hành các giáo lý nhà Phật, giúp cho chư tăng hiểu rõ hơn chân lý của đạo Phật cho nên sẽ củng cố niềm tin một cách sâu sắc hơn, xác định rõ tình cảm của mình đối với Phật pháp. Qua đó làm tăng ý chí của chư tăng trong quá trình tu học để đạt chánh quả, tìm ra con đường giải thoát.
Bên cạnh việc có thể nhận được quả báu Kathina sau mỗi mùa an cw nếu không bị “ đứt hạ” thì mùa An cư Kiết hạ sẽ giúp cho con đường đạt đến cảnh giới niết bàn ( Nirvana) của chư tăng nhanh hơn. Ngoài ra khi chư tăng tu kín trong chùa thường có các thanh niên Thái quy y, tu gieo duyên cũng như các Phật tử thường tới chùa để làm công quả, cúng dường thực phẩm cho các tăng sư từ đó hình thành mối quan hệ tốt đẹp, và tạo nên sự gần gũi giữa các tăng sư và các Phật tử. Qua đó chư tăng có thể truyền đạt các giáo lý Phật giáo, tác đọng sâu sắc đến các phật tử, làm cho họ biết khiêm tốn, nhường nhịn, luôn hướng thiện làm lành tránh ác. Có thể nói mục đích của các tăng sư đã đạt được, đó là giúp mọi người hiểu được giáo lý của Phật pháp và thực hành theo như Đức Phật đã làm ngày xưa khi đi hoằng Pháp.
Trong mùa An cư Kiết hạ chư tăng phải tu kín trong một khu vực nhất định, phải sống trong một môi trường quy củ, có kỷ luật theo giáo lý nhà Phật, vì thế đã tạo cho các tăng sư một nếp sống sinh hoạt ccos khuôn phép theo giới luật của Phật pháp. Đồng thời, việc tập trung tu tập như vậy cũng giúp cho mối quan hệ giữa các vị tăng sư ngày càng tốt hơn để cùng giúp đỡ nhau trên đường tu tập. Đặc biệt trong các buổi lễ Bố tát và Tự tứ, việc các tăng sư xin lỗi nhau và chỉ ra những sai sót của nhau không phải hành động soi mói hay bài xích lẫn nhau mà đây là một nét đẹp của văn hóa Phật giáo thể hiện sự tôn trọng và quan tâm lẫn nhau giữa các tăng sư. Có quan tâm tới nhau thì mới phát hiện ra những sai sót của nhau được, có tôn trọng nhau thì mới có thể nhận xét nhau một cách thật lòng. Điều này sẽ giúp cho các vị tăng sư tự hoàn thiện mình, thể hiện sự qua tâm lẫn nhau. Việc vạch ta những ưu khuyết điểm của từng thành viên trong tăng đoàn sẽ giúp cho việc khắc phục, sửa chữa các khuyết điểm ấy có hiệu quả hơn, bên cạnh đó sẽ duy trì và phát triển những ưu điểm sẵn có. Nhờ vậy, Tăng đoàn mới lớn mạnh, bền vững và tồn tại lâu dài.
Đối với Giáo hội Phật Giáo, việc tập trung tu tập của chư tăng giữa các chùa làm cho các chùa xích lại gần nhau, hiểu nhau hơn. Vì vậy, mùa An cư Kiết hạn là điểm nhấn cho việc củng cố tính đoàn kết, gắn bó trong Giáo hội.
Tóm lại, mùa an cư rất có ý nghĩa đối với các tăng sư vì sau mỗi mùa an cư các vị ấy sẽ củng cố được lí tưởng sống của mình và rút ra được những kinh nghiệm về phương pháp tu học cũng như phương pháp sinh hoạt.
3.2. Đối với người dân Thái.
Mùa An cư Kiết hạ là dịp để người dân Thái thể hiện niềm tin và niềm yêu mến Phật Giáo của mình. Những hoạt động mà họ tham gia trong mùa An cư Kiết hạ không chỉ là trách nhiệm và nghĩa vụ của Phật tử mà xuất phát từ tình cảm của mình đối với các tăng sư, đó là lòng tôn trọng. Vì vậy khi không thực hiện được họ cảm thấy rất áy náy vì họ cho rằng họ không làm tròn bổn phận của mình.
Phật giáo đã ăn sâu vào đời sống tâm linh của người Thái, đối với họ những lễ hội Phật giáo không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa của tôn giáo mà là truyền thống văn hóa của dân tộc. Với nếp nghĩ đó trải qua các thời kì lịch sử từ khi Phật Giáo truyền vào Thái Lan, người Thái đã tạo được một thói quen tốt cả về văn hóa lẫn tôn giáo. Do đó mùa An cư Kiết hạ cũng không nằm ngoài qui luật . Đối với người dân Thái, mùa An cư Kiết hạ đóng một vai trò như là một hoạt động văn hóa của dân tộc mình, không thể thiếu trong đời sống tinh thần vì nó đã gần như trở thành máu thịt đối với họ.
Mùa An cư Kiết hạ là thời gian tốt nhất cho người dân Thái đi gieo duyên. Người dân Thái chọn cách tiến thân bằng con đường tu hành . Họ cố thể đảm bảo cho mình một sự thăng tiến xã hội nếu vượt qua được trình độ tu hành cao hơn. Với một thanh niên nông thôn xuất thân gia đình bình thường thì đi tu là một cách để có thể có một cuộc sống tốt hơn. Ngoài ra người dân Thái tin rằng đi tu một thời gian như thế sẽ có nhiều cái lợi. Nếu một cậu bé trở thành một chú tiểu trong chùa vào thời gian an cư này thì mẹ cậu sẽ không phải xuống địa ngục, còn nếu cậu ta trở thành một nhà sư thực thụ thì cha của cậu cũng không phải xuống địa ngục.
Trong mùa An cư kiết hạ điểm nổi bật nhất là mối quan hệ giữa cộng đồng công chúng và các nhà sư được củng cố thêm. Đối với người dân Thái đây là dịp để thể hiện sự tôn trọng của mình đối với các nhà sư. Đối với họ, các nhà sư là các nhân vật đáng kính trọng mà họ phải biểu thị lòng tôn trọng đó một cách thực lòng, đây chính là hệ quả của việc Phật Giáo ăn sâu vào tâm thức của người Thái. Người Thái rất coi trọng các chư tăng, họ tin tưởng tuyệt đối vào các nhà sư. Vì vậy trong mùa An cư Kiết hạ họ đã biểu hiện lòng tôn trọng đó thông qua các hành động dâng y tắm mưa, làm đồ ăn cúng dường các nhà sư trong mùa an cư cùng với việc dâng y và các vật dụng cần thiết cho các nhà sư trong lễ dâng y Kathina…Ngoài ra người Thái còn chọn mùa an cư để tu gieo duyên, điều này chứng tỏ là mùa An cư Kiết hạ đã đi vào tâm thức của người Thái và có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa Thái. Đối với người Thái lan, các nhà sư còn được xem như hình ảnh mẫu mực để noi theo, họ coi nhiệm vụ của mình là phục vụ cho các tăng sư, cho Phật Giáo, và mùa An cư Kiết Hạ là một cơ hội để người dân Thái thể hiện lòng tôn trọng của mình đối với các tăng sư.
KẾT LUẬN
Phật giáo du nhập vào Thái Lan từ rất sớm qua nhiều triều đại khác nhau tuy có lúc kém phần rực rỡ nhưng Phật giáo hầu như tuyệt đối ngự trị trong toàn xã hội, và Phật giáo đã trở thành quốc giáo của Thái Lan. Từ trước khi hình thành các nhà nước Thái đầu tiên, trên đất Thái đã xuất hiện nhiều tông phái khác nhau, nhưng tông phái chủ đạo được hầu hết người dân Thái theo là Phật giáo Theravada được truyền từ Ấn Độ. Giáo lý đạo Phật đã ảnh hưởng và thấm nhuần vào mọi hoạt động trong đời sống người dân Thái. Phật giáo đã đóng góp tích cực vào trong đời sống của người dân Thái không những về mặt vật chất kinh tế mà còn đi sâu vào đời sống tinh thần của họ, và đã dần dần trở thành một nét văn hóa truyền thống. Và mùa An cư Kiết hạ là một trong những nét đẹp truyền thống của dân tộc Thái. Mùa An cư Kiết hạ tạo ra một phong trào học tập, tu dưỡng, rèn luyện của tín đồ Phật giáo cũng như thanh niên Thái Lan. Hình ảnh những vị tăng sư đi khất thực và sự chuẩn bị thức ăn để dâng cho các vị tăng sư vào mỗi buổi sáng sớm đã làm tăng nét đẹp của văn hóa Phật giáo của nước Thái Lan.
Như vậy có thể khẳng định Phật giáo Theravada là một chất keo kết dính sự đoàn kết, tính dân tộc của người dân Thái Lan. Ở đây, Phật giáo không chỉ là quốc giáo mà còn là đạo đức, là văn hóa, là nếp sống của người dân Thái Lan. Bởi thế từ lâu những ngày lễ Phật giáo trở thành những ngày hội không thể thiếu trong đời sống của người dân Thái Lan và trở thành phong tục, sắc thái văn hóa đặc thù của đất nước này. Và mùa An cư Kiết hạ từ lâu cũng đã trở thành một lễ hội Phật giáo lớn ở Thái Lan và không thể thiếu của người dân Thái.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bửu Chánh ; Truyền thống an cư mùa mưa của Phật giáo Nam tông ; Báo Giác Ngộ, Giáo hội Phật giáo, số 187, ngày 28/8/2003.
2. Ngô Văn Doanh ; Lankavong và Phật giáo Thái Lan ; Tạp chí nghiên cứu tôn giáo, Trung tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc gia ; số 1 năm 2001, trang 64.
3. Đoàn Trung Còn ;Tăng đồ nhà Phật, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2004.
4. Thiền sư Đinh Lực và cư sĩ Nhất Tâm ; Tôn giáo và lịch sử văn minh nhân loại Phật giáo Việt Nam và Thế giới, Nxb Văn hóa thông tin, 2003.
5. http//www.quangduc.com.vn
6. http//www.buddismtoday.com.vn
7. http//:en.wikipedia.org/buddism/thailan