ĐỀ TÀI: Văn hóa làng nghề- Nghề dệt lụa ở Quảng nam
Đề tài
VĂN HÓA LÀNG NGHỀ - NGHỀ DỆT LỤA Ở QUẢNG NAM
A-Lý do chọn đề tài:
Nhắc đến vùng đất Quảng Nam chắc hẳn nhiều người nghĩ ngay đến Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và món ăn truyền thống đặc trưng cho phong cách ẩm thực xứ Quảng là món Mì Quảng. Không chỉ có vậy, vùng đất “chưa mưa đã thấm” đã và đang dần được mọi người biết đến với sản vật mang đậm hồn người xứ Quảng- đó là lụa. Chọn đề tài này tôi muốn giới thiệu đến mọi người một nghề truyền thống lâu đời từng có thời kỳ phát triển huy hoàng và đã bị mai một- đó là nghề dệt lụa ở Duy Xuyên- Quảng Nam. Giờ đây nó đã được khôi phục lại và phát triển thịnh vượng hơn xưa.
B- Mục đích nghiên cứu:
Là một người sinh ra và lớn lên tại Quảng Nam, nhưng bản thân tôi chưa biết và hiểu hết về đất và người Quảng Nam cũng như những nét văn hóa đặc sắc truyền thống của vùng đất “ chưa mưa đã thấm” này. Vì vậy tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích giúp tôi và mọi người hiểu thêm về Quảng Nam– một điểm đến hai di sản.
C– Phương hướng tiếp cận và nghiên cứu:
Hướng tiếp cận chủ yếu là qua các bài viết, các tư liệu qua các phương tiện sách báo, internet…
Qua những gì đã quan sát được từ thực trạng nghề dệt lụa truyền thống ở Hội An, Duy Xuyên… và những thành quả đã đạt được cũng như sự phát triển của văn hóa làng nghề ở Quảng Nam.
D- Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu nghề dệt lụa là phương pháp nghiên cứu lịch sử- logic dùng lịch sử làm trục chính định vị văn hóa nghề dệt ở Quảng Nam trong trục văn hóa chủ thể- không gian- thời gian.
E- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
- Ý nghĩa khoa học: Nếu như nghiên cứu đúng đề tài này sẽ góp một phần nhỏ trong việc cung cấp những kiến thức về nghề dệt lụa ở Quảng Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần nâng cao những hiểu biết của người thực hiện đề tài về nghề dệt lụa ở Quảng Nam cũng như các làng nghề dệt lụa khác trong nước, bên cạnh đó hệ thống hóa những thành tố văn hóa Quảng Nam theo cùng một trục trên cung đường di sản, góp phần định vị và phát triển du lịch ở Quảng Nam.
F- Nội dung đề tài :
Chương 1- Khái quát về nghề dệt lụa:
1- Khái niệm lụa:
Lụa là một loại vải mịn và mỏng được dệt bằng tơ. Loại lụa tốt nhất được dệt từ tơ tằm. Nguời ta nuôi tằm, lấy tơ xe sợi dệt thành lụa.
2- Lịch sử nghề dệt lụa:
Nghề dệt lụa là một nghề có từ rất lâu đời ( khoảng 6000 năm TCN- 4000 năm TCN) và có nguồn gốc từ Trung Quốc. Ban đầu chỉ có vua mới được dùng hoặc ban tặng cho người khác. Tuy nhiên sau đó thì lụa dần dần được các tầng lớp xã hội ở Trung Quốc dùng ở nhiều nơi rồi lan dần đến các vùng khác của châu Á. Lụa đã nhanh chóng trở thành một thứ hàng cao cấp ở những nơi thương nhân người Hoa đặt chân tới bởi nó bền và có một vẻ đẹp óng ánh. Nhu cầu của lụa ngày càng nhiều và lụa đã được vận chuyển từ Trung Quốc và bán cho các nước phương Tây thông qua con đường tơ lụa.
Ở Việt Nam có nhiều vị tổ nghề thủ công truyền thống nhưng không ai không biết đến công chúa Thiều Hoa, người được tôn vinh là tổ nghề dệt lụa.Người Việt Nam từ ngàn xưa đến nay có câu “Người đẹp vì lụa…”, vải lụa là một sản phẩm văn hóa bản địa của Việt Nam có giá trị từ trong lịch sử đến ngày nay. Vải lụa đã đi vào ca dao Việt Nam:
Lụa này là lụa Cổ Đô
Chính tông lụa cống, các cô ưa dùng
Cùng với sự ra đời của nhiều giá trị văn hoá khác trong lịch sử dân tộc, lụa Cổ Đô gắn với bà tổ nghề là Công chúa con Vua Hùng Vương thứ 6 - Công chúa Thiều Hoa.
Truyện kể rằng công chúa là người hiền lành, xinh đẹp nhưng lại không chịu lấy chồng. Nàng từ chối ý định gả chồng của vua cha và sang sống ở trang trại khác. Nàng có biệt tài nói chuyện với chim và bướm mỗi khi vào rừng chơi. Một lần nói chuyện với bướm nâu, biết bướm nâu chỉ ăn một thứ lá dâu để đẻ ra trứng rồi nở thành sâu, nhả ra sợi vàng. Bướm đưa Thiều Hoa ra bãi dâu ven sông thấy hàng ngàn con sâu đang làm kén. Thiều Hoa xin bướm giống trứng và sâu ấy cũng như hỏi bướm cách kéo tơ rồi tìm cách đan chúng thành những mảnh, tấm nõn nà vàng tươi. Nàng đặt tên cho những tấm sợi ấy là lụa. Chính cái tên Thiều Hoa gọi bướm là ngài và giống sâu cho sợi ấy là tằm còn gọi đến ngày nay.
Sau kỳ tích ấy Thiều Hoa đem truyền dạy cho mọi người trồng dâu, chăn tằm, kéo sợi, dệt lụa. Tấm lụa đầu tiên nàng đem tặng Vua cha. Hùng Vương khen ngợi con gái yêu và truyền cho dân chúng theo đó mà dệt lụa. Dân làng Cổ Đô, Vân Sa… rất nổi tiếng về nghề dệt lụa và nhiều làng tôn Thiều Hoa làm tổ sư nghề dệt lụa, làm thành hoàng làng của mình.
Hiện nay tại Việt Nam có rất nhiều làng nghề dệt lụa nổi tiếng đã làm nên tên tuổi và thương hiệu riêng của mình như: làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông, tỉnh Hà Tây ), thổ cẩm Mỹ Nghiệp (Ninh Phước- Ninh Thuận ), tơ lụa Nghĩa Hưng (Hoằng Hoá- Thanh Hoá ), vải Phương Lịch (Diễn Châu- Nghệ An ), lụa Vân Phương (Liên Phương - Hưng Yên ), vải lanh của dân tộc Mông, đũi Nam Cao (Cao Bạt, Nam Cao, Kiến Xương, Thái Bình ), lụa Tân Châu (Chợ Mới – An Giang ), lụa thổ cẩm Sray Skôth (Văn Giáo- Tịnh Biên- An Giang)… và lụa Mã Châu, Thi Lai ( Duy Xuyên- Quảng Nam ).
Chương 2 - Nghề dệt lụa ở Duy Xuyên- Quảng Nam:
1- Chủ thể:
Duy Xuyên- Quảng Nam được mệnh danh là xứ sở tầm tang bởi những làng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa Mã Châu, Thi Lai- Đông Yên đã nổi danh trong và ngoài nước từ thế kỷ XVI. Từ những năm đầu thế kỷ XV, XVI khi thương cảng Hội An thịnh vượng, giao thương rộng rãi với nhiều quốc gia trên thế giới thì hàng hóa của xứ Đàng Trong cũng theo đó phat triển mạnh mẽ. Làng nghề truyền thống trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa của người Quảng Nam cũng theo đó mà nổi danh vì đã sản xuất được nhiều mặt hàng tơ lụa quý nổi tiếng như đoạn, lãnh, gấm, vóc…không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu khắp Á, Âu.
2- Không gian:
Nằm trên cung đường di sản, dọc theo bờ sông Thu Bồn với phong cảnh đẹp như tranh thủy mặc, Duy Xuyên là một đoạn của cung đường chứa đựng bên trong bề dày văn hóa, lịch sử với những di tích thuộc loại cổ xưa nhất Quảng Nam như kinh đô Trà Kiệu của vương quốc Chămpa xưa, lăng mộ Vĩnh Diễn ( Hiếu văn hoàng hậu – vợ chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên), lăng mộ Vĩnh Diên ( Hiếu chiêu hoàng hậu- Đoàn quý phi vợ chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan) và các chùa Vua- chùa Lầu một công trình kiến trúc độc đáo mang dáng dấp nghệ thuật Ấn- Trung…
Chiêm Sơn là, lụa mĩ miều
Mai vang tiếng cửi, chiều chiều giăng tơ
Dọc theo triền sông Thu Bồn là những biển dâu xanh ngắt do được bồi đắp phù sa hàng năm. Mùa dâu đến, các cô gái làng nghề dâu tằm đổ ra bãi hái dâu về nuôi tằm. Trong làng cứ vài nhà lại có một nhà ươm, phụ nữ luôn tay bên xa quay, mặt đỏ hồng bên nồi ươm bốc khói, nhà nhà xôn xao tiếng thoi dệt lụa lách cách từ mờ sáng đến tối mịt.
Những làng nghề dâu tằm ven bờ sông Thu luôn vọng hoài câu ca :
“Thuyền rồng chúa ngự đâu đâu
Thiếp thương phận thiếp hái dâu một mình”
Người hát câu hát ấy là một thôn nữ họ Đoàn ở Duy Xuyên, sau trở thành Hiếu Chiêu hoàng hậu - được dân gian tôn kính gọi là Bà Chúa Tàm tang do có công lớn trong việc chăm lo phát triển, dạy nghề tàm tang cho muôn dân xứ Đàng Trong.
3- Thời gian:
Trong lịch sử văn hóa Quảng Nam, hiếm có người thôn nữ nào để lại dấu ấn khá sâu sắc trong đời sống tâm linh của người dân địa phương như bà Đoàn Thị Ngọc - tức bà Đoàn Quý Phi. Giai thoại về mối tình duyên tuyệt đẹp giữa Bà Chúa Tàm tang với Chúa Thượng Nguyễn Phước Lan (1601-1648) được lưu truyền trong dân gian gần như bất hủ. Đó là vào một đêm trăng, Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên trong một chuyến tuần du vào Quảng Nam, mang theo vị công tử là Nguyễn Phước Lan dạo chơi bằng thuyền trên sông Thu Bồn, đến địa phận làng Chiêm Sơn - làng nổi tiếng với nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa, chợt nghe trên bãi dâu có tiếng hát quyến rũ nương theo làn gió vọng đến thuyền rồng… Giọng ca ấy đã khiến chàng công tử Phước Lan quyến luyến. Hai năm sau, được Chúa Sãi cho phép, cô thôn nữ - vốn là con gái yêu của hào trưởng làng Chiêm Sơn Đoàn Công Nhạn trở thành phu nhân của phó tướng Nhân Lộc hầu Nguyễn Phước Lan, sống với nhau tại làng Chiêm Sơn (chuyện chép trong Đại Nam liệt truyện tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn).
Tuy làm dâu nhà Chúa, nhưng bà Đoàn Thị Ngọc vẫn chăm lo việc cũ, khuyến khích người dân các phủ Điện Bàn, Thăng Hoa… gìn giữ, phát triển nghề trồng dâu dệt lụa. Nhờ đó, nghề tàm tang của Đàng Trong vào thế kỷ thứ XVII bắt đầu mở mang và có thể sản xuất được các mặt hàng tơ lụa nổi tiếng như đoạn, the, gấm vóc… bán ra thị trường trong và ngoài nước qua thương cảng Hội An. Ngày 19-11-1635, Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên mất, Nhân Quận công Nguyễn Phước Lan trở thành Chúa Thượng (dời phủ Chùa từ làng Phước Yên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế về làng Kim Long ở Phú Xuân). Bà Đoàn Thị Ngọc trở thành vương phi ; sống ở Phú Xuân bà cũng khuyến khích nhân dân quanh phủ Chúa phát triển nghề tàm tang… Bà Đoàn Quý Phi mất ngày 17-5 năm Tân Sửu (tức ngày 12-7-1661) thọ 60 tuổi. Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần đưa thân mẫu về quê, an táng trên gò Cốc Hùng, làng Chiêm Sơn, xã Duy Trinh ngày nay…
Cũng thời điểm đó, cảng thị Hội An dưới thời Chúa Nguyễn đã trở thành trung tâm trung chuyển của con đường tơ lụa quốc tế xuyên đại dương (thế kỷ XVI, XVII) nối liền Tây Âu - Viễn Đông. Bà Đoàn Thị Ngọc Phi trở thành "Bà Chúa tầm tang" mà đến nay người Quảng Nam còn lễ tế, tưởng niệm hàng năm vào các ngày 11 đến 13-4 (tức ngày 16-3 âm lịch), ngay khi vụ tằm xuân đang rộ...
Nối tiếp người xưa, một hậu duệ ưu tú của bà Đoàn Quý Phi - cụ Nghè Diễn - cũng sinh ra từ đất Duy Trinh giờ được tôn vinh là ông tổ nghề dệt may. Cụ Nghè Diễn tên thật là Võ Dẫn (sinh 1897) ở làng Thi Lai Tây, là con của một gia đình nho học, nhiều đời chuyên thông nghề tằm, ươm tơ dệt hàng tơ tằm. Năm 1932, vào Sài Gòn coi triển lãm máy móc dụng cụ ngành dệt, tại đây chiếc máy dệt bằng sắt kiểu Pháp đã khiến cụ nghĩ ngay đến việc cải tiến khung dệt gỗ truyền thống ở quê nhà. Lúc bấy giờ, việc dệt hàng lụa dành cho phụ nữ là tương đối nhẹ nhàng, còn việc dệt các hàng lãnh, lương, sa, nhiễu… là việc rất nặng nhọc chỉ dành cho đàn ông. Sau hai năm miệt mài, chiếc máy dệt của cụ Dẫn ra đời với rất nhiều cải tiến vượt bậc thúc đẩy cuộc cách mạng trong ngành dệt may nước nhà. Năm 1946, chiếc máy dêt Quảng Nam bắt đầu cuộc Nam tiến qua Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên rồi Sài Gòn, cư dân nghề dệt may Duy Xuyên lập nên nhiều làng dệt có tiếng ở khu Lò Chén, Bảy Hiền, Gò Vấp, Tham Lương… Cụ Võ Dẫn mất ngày 24-9 năm Ất Mão (1975) tại làng dệt Bảy Hiền, Thành phố Hồ Chí Minh, được tôn vinh là ông tổ nghề dệt may xứ Quảng.
Hôm nay ở hai làng nghề dệt may Thi Lai - Phú Bông của xã Duy Trinh, có đến gần 200 hộ nối nghiệp cụ Võ Dẫn. HTX dệt may Duy Trinh (thành lập năm 1996) được coi là HTX tiên phong của ngành dệt địa phương có đủ sức bền để vượt qua những biến động thị trường khốc liệt của ngành dệt những năm trước. Riêng nghề trồng dâu nuôi tằm của Duy Trinh qua nhiều thăng trầm nay đang được khôi phục. Và để khích lệ người dân trở lại nghề cũ, lễ hội Bà Chúa Tàm tang sẽ được địa phương tổ chức long trọng vào ngày 13-4 đến (tức ngày 16-3 âm lịch). Du khách đến Đông Yên sẽ hình dung được đầy đủ một làng nghề sống động khép kín từ trồng dâu - nuôi tằm - ươm tơ - dệt lụa, được đưa đi tham quan khu lăng mộ của bà Mạc Thị Giai (vợ chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên) và bà Đoàn Quý Phi, viếng dinh Bà Chiêm Sơn, thăm bến Gia Ngự (là tên dân gian đặt cho khi vua đi thuyền rồng đến làng Đông Yên)…
Một người con khác của xứ Quảng cũng đã thành công và nổi danh trong việc phát triển nghề dệt là anh Hồ Viết Lý, Giám đốc Công ty TNHH Dệt lụa tơ tằm Toàn Thịnh, TPHCM. Anh là một người chuyên dệt lụa để may áo không những cho người bình thường mà còn cho cả nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo các nền kinh tế. Tại Hội nghị cấp cao Á- Âu (ASEM 5) năm 2004 và Hội nghị lãnh đạo các nền kinh tế APEC 14 năm 2006 diễn ra tại Việt Nam, nhà thiết kế Minh Hạnh đã chọn “lụa Lý” để may trang phục cho 39 vị lãnh đạo ASEM 5 và 21 vị lãnh đạo nền kinh tế thành viên APEC. Chiêm ngưỡng các vị lãnh đạo các nền kinh tế có mặt tại Việt Nam sang trọng trong bộ trang phục “thuần Việt”, người dân cả nước cũng như quan khách quốc tế đều trầm trồ thán phục… Chất liệu, kiểu dáng của “lụa Lý” tại Sài Gòn có vẻ đẹp riêng so với lụa Hà Đông và lụa Lâm Đồng. Có trong tay mặt hàng mang tính đẳng cấp, Hồ Viết Lý nâng cấp cơ sở dệt Toàn Thịnh lên thành Công ty TNHH Dệt lụa tơ tằm Toàn Thịnh với quy mô sản xuất lớn và nhanh chóng xuất khẩu các mặt hàng lụa xuất khẩu sang thị trường Nhật, Pháp, Mỹ, Thái Lan, Lào, Campuchia, Hàn Quốc…
Chương 3 – Kết luận:
Song hành với sự phát triển của các sản phẩm dệt là sự hình thành của các làng nghề dệt thủ công truyền thống với tên tuổi của 336 làng nghề trên phạm vi cả nước, mỗi nơi đều chứa đựng những nét đặc trưng văn hóa hết sức đặc sắc. Những sóng lụa tha thướt ở Vạn Phúc (Hà Tây), Nha Xá (Hà Nam) hay Tân Châu ở dải đất Miền Tây sông nước..., những chiếc khăn đũi mộc mạc Nam Cao, vô số các loại khăn ăn, khăn tắm đa sắc đa màu ở Thái Phương (Thái Bình), nghề dệt len ở làng nghề tỷ phú La Phù, Hà Tây..., là đồng bào dân tộc Mông nổi tiếng với nghề dệt lanh, nhuộm chàm và vẽ sáp ong ở Lùng Tám (Hà Giang), hay những nét chắt lọc cả tinh hoa của đất, của trời, của rừng xanh, thác bạc trong mỗi mặt hàng thổ cẩm Tây Nguyên…
Lụa tơ tằm Duy Xuyên nói riêng và Việt Nam nói chung trong lịch sử cũng như hiện nay có tiếng trong nước và quốc tế. Nó không chỉ đưa lại giá trị kinh tế cho quốc gia, nhiều dòng họ, gia đình, nhiều làng mà còn là một nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam.
G-Tài liệu tham khảo:
baoquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=5240&Itemid=123NAM KHA
www.dulichvietnam.info/a/b/c/d/e/Tour_d ... n-phuc.htm
www.langngheviet.net/categories.aspx?Id=47&Des...%20dệt,%20lụa - 45k
www.mientrung.com/content/view/5207/133/
www.tinhdoanqnam.vnn.vn/index.php?optio ... &Itemid=29
www.sggp.org.vn/phongsudieutra/2008/12/174697/
Theo Sannghenghiep.vn
wikipedia
VĂN HÓA LÀNG NGHỀ - NGHỀ DỆT LỤA Ở QUẢNG NAM
A-Lý do chọn đề tài:
Nhắc đến vùng đất Quảng Nam chắc hẳn nhiều người nghĩ ngay đến Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và món ăn truyền thống đặc trưng cho phong cách ẩm thực xứ Quảng là món Mì Quảng. Không chỉ có vậy, vùng đất “chưa mưa đã thấm” đã và đang dần được mọi người biết đến với sản vật mang đậm hồn người xứ Quảng- đó là lụa. Chọn đề tài này tôi muốn giới thiệu đến mọi người một nghề truyền thống lâu đời từng có thời kỳ phát triển huy hoàng và đã bị mai một- đó là nghề dệt lụa ở Duy Xuyên- Quảng Nam. Giờ đây nó đã được khôi phục lại và phát triển thịnh vượng hơn xưa.
B- Mục đích nghiên cứu:
Là một người sinh ra và lớn lên tại Quảng Nam, nhưng bản thân tôi chưa biết và hiểu hết về đất và người Quảng Nam cũng như những nét văn hóa đặc sắc truyền thống của vùng đất “ chưa mưa đã thấm” này. Vì vậy tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích giúp tôi và mọi người hiểu thêm về Quảng Nam– một điểm đến hai di sản.
C– Phương hướng tiếp cận và nghiên cứu:
Hướng tiếp cận chủ yếu là qua các bài viết, các tư liệu qua các phương tiện sách báo, internet…
Qua những gì đã quan sát được từ thực trạng nghề dệt lụa truyền thống ở Hội An, Duy Xuyên… và những thành quả đã đạt được cũng như sự phát triển của văn hóa làng nghề ở Quảng Nam.
D- Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu nghề dệt lụa là phương pháp nghiên cứu lịch sử- logic dùng lịch sử làm trục chính định vị văn hóa nghề dệt ở Quảng Nam trong trục văn hóa chủ thể- không gian- thời gian.
E- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
- Ý nghĩa khoa học: Nếu như nghiên cứu đúng đề tài này sẽ góp một phần nhỏ trong việc cung cấp những kiến thức về nghề dệt lụa ở Quảng Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần nâng cao những hiểu biết của người thực hiện đề tài về nghề dệt lụa ở Quảng Nam cũng như các làng nghề dệt lụa khác trong nước, bên cạnh đó hệ thống hóa những thành tố văn hóa Quảng Nam theo cùng một trục trên cung đường di sản, góp phần định vị và phát triển du lịch ở Quảng Nam.
F- Nội dung đề tài :
Chương 1- Khái quát về nghề dệt lụa:
1- Khái niệm lụa:
Lụa là một loại vải mịn và mỏng được dệt bằng tơ. Loại lụa tốt nhất được dệt từ tơ tằm. Nguời ta nuôi tằm, lấy tơ xe sợi dệt thành lụa.
2- Lịch sử nghề dệt lụa:
Nghề dệt lụa là một nghề có từ rất lâu đời ( khoảng 6000 năm TCN- 4000 năm TCN) và có nguồn gốc từ Trung Quốc. Ban đầu chỉ có vua mới được dùng hoặc ban tặng cho người khác. Tuy nhiên sau đó thì lụa dần dần được các tầng lớp xã hội ở Trung Quốc dùng ở nhiều nơi rồi lan dần đến các vùng khác của châu Á. Lụa đã nhanh chóng trở thành một thứ hàng cao cấp ở những nơi thương nhân người Hoa đặt chân tới bởi nó bền và có một vẻ đẹp óng ánh. Nhu cầu của lụa ngày càng nhiều và lụa đã được vận chuyển từ Trung Quốc và bán cho các nước phương Tây thông qua con đường tơ lụa.
Ở Việt Nam có nhiều vị tổ nghề thủ công truyền thống nhưng không ai không biết đến công chúa Thiều Hoa, người được tôn vinh là tổ nghề dệt lụa.Người Việt Nam từ ngàn xưa đến nay có câu “Người đẹp vì lụa…”, vải lụa là một sản phẩm văn hóa bản địa của Việt Nam có giá trị từ trong lịch sử đến ngày nay. Vải lụa đã đi vào ca dao Việt Nam:
Lụa này là lụa Cổ Đô
Chính tông lụa cống, các cô ưa dùng
Cùng với sự ra đời của nhiều giá trị văn hoá khác trong lịch sử dân tộc, lụa Cổ Đô gắn với bà tổ nghề là Công chúa con Vua Hùng Vương thứ 6 - Công chúa Thiều Hoa.
Truyện kể rằng công chúa là người hiền lành, xinh đẹp nhưng lại không chịu lấy chồng. Nàng từ chối ý định gả chồng của vua cha và sang sống ở trang trại khác. Nàng có biệt tài nói chuyện với chim và bướm mỗi khi vào rừng chơi. Một lần nói chuyện với bướm nâu, biết bướm nâu chỉ ăn một thứ lá dâu để đẻ ra trứng rồi nở thành sâu, nhả ra sợi vàng. Bướm đưa Thiều Hoa ra bãi dâu ven sông thấy hàng ngàn con sâu đang làm kén. Thiều Hoa xin bướm giống trứng và sâu ấy cũng như hỏi bướm cách kéo tơ rồi tìm cách đan chúng thành những mảnh, tấm nõn nà vàng tươi. Nàng đặt tên cho những tấm sợi ấy là lụa. Chính cái tên Thiều Hoa gọi bướm là ngài và giống sâu cho sợi ấy là tằm còn gọi đến ngày nay.
Sau kỳ tích ấy Thiều Hoa đem truyền dạy cho mọi người trồng dâu, chăn tằm, kéo sợi, dệt lụa. Tấm lụa đầu tiên nàng đem tặng Vua cha. Hùng Vương khen ngợi con gái yêu và truyền cho dân chúng theo đó mà dệt lụa. Dân làng Cổ Đô, Vân Sa… rất nổi tiếng về nghề dệt lụa và nhiều làng tôn Thiều Hoa làm tổ sư nghề dệt lụa, làm thành hoàng làng của mình.
Hiện nay tại Việt Nam có rất nhiều làng nghề dệt lụa nổi tiếng đã làm nên tên tuổi và thương hiệu riêng của mình như: làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông, tỉnh Hà Tây ), thổ cẩm Mỹ Nghiệp (Ninh Phước- Ninh Thuận ), tơ lụa Nghĩa Hưng (Hoằng Hoá- Thanh Hoá ), vải Phương Lịch (Diễn Châu- Nghệ An ), lụa Vân Phương (Liên Phương - Hưng Yên ), vải lanh của dân tộc Mông, đũi Nam Cao (Cao Bạt, Nam Cao, Kiến Xương, Thái Bình ), lụa Tân Châu (Chợ Mới – An Giang ), lụa thổ cẩm Sray Skôth (Văn Giáo- Tịnh Biên- An Giang)… và lụa Mã Châu, Thi Lai ( Duy Xuyên- Quảng Nam ).
Chương 2 - Nghề dệt lụa ở Duy Xuyên- Quảng Nam:
1- Chủ thể:
Duy Xuyên- Quảng Nam được mệnh danh là xứ sở tầm tang bởi những làng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa Mã Châu, Thi Lai- Đông Yên đã nổi danh trong và ngoài nước từ thế kỷ XVI. Từ những năm đầu thế kỷ XV, XVI khi thương cảng Hội An thịnh vượng, giao thương rộng rãi với nhiều quốc gia trên thế giới thì hàng hóa của xứ Đàng Trong cũng theo đó phat triển mạnh mẽ. Làng nghề truyền thống trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa của người Quảng Nam cũng theo đó mà nổi danh vì đã sản xuất được nhiều mặt hàng tơ lụa quý nổi tiếng như đoạn, lãnh, gấm, vóc…không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu khắp Á, Âu.
2- Không gian:
Nằm trên cung đường di sản, dọc theo bờ sông Thu Bồn với phong cảnh đẹp như tranh thủy mặc, Duy Xuyên là một đoạn của cung đường chứa đựng bên trong bề dày văn hóa, lịch sử với những di tích thuộc loại cổ xưa nhất Quảng Nam như kinh đô Trà Kiệu của vương quốc Chămpa xưa, lăng mộ Vĩnh Diễn ( Hiếu văn hoàng hậu – vợ chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên), lăng mộ Vĩnh Diên ( Hiếu chiêu hoàng hậu- Đoàn quý phi vợ chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan) và các chùa Vua- chùa Lầu một công trình kiến trúc độc đáo mang dáng dấp nghệ thuật Ấn- Trung…
Chiêm Sơn là, lụa mĩ miều
Mai vang tiếng cửi, chiều chiều giăng tơ
Dọc theo triền sông Thu Bồn là những biển dâu xanh ngắt do được bồi đắp phù sa hàng năm. Mùa dâu đến, các cô gái làng nghề dâu tằm đổ ra bãi hái dâu về nuôi tằm. Trong làng cứ vài nhà lại có một nhà ươm, phụ nữ luôn tay bên xa quay, mặt đỏ hồng bên nồi ươm bốc khói, nhà nhà xôn xao tiếng thoi dệt lụa lách cách từ mờ sáng đến tối mịt.
Những làng nghề dâu tằm ven bờ sông Thu luôn vọng hoài câu ca :
“Thuyền rồng chúa ngự đâu đâu
Thiếp thương phận thiếp hái dâu một mình”
Người hát câu hát ấy là một thôn nữ họ Đoàn ở Duy Xuyên, sau trở thành Hiếu Chiêu hoàng hậu - được dân gian tôn kính gọi là Bà Chúa Tàm tang do có công lớn trong việc chăm lo phát triển, dạy nghề tàm tang cho muôn dân xứ Đàng Trong.
3- Thời gian:
Trong lịch sử văn hóa Quảng Nam, hiếm có người thôn nữ nào để lại dấu ấn khá sâu sắc trong đời sống tâm linh của người dân địa phương như bà Đoàn Thị Ngọc - tức bà Đoàn Quý Phi. Giai thoại về mối tình duyên tuyệt đẹp giữa Bà Chúa Tàm tang với Chúa Thượng Nguyễn Phước Lan (1601-1648) được lưu truyền trong dân gian gần như bất hủ. Đó là vào một đêm trăng, Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên trong một chuyến tuần du vào Quảng Nam, mang theo vị công tử là Nguyễn Phước Lan dạo chơi bằng thuyền trên sông Thu Bồn, đến địa phận làng Chiêm Sơn - làng nổi tiếng với nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa, chợt nghe trên bãi dâu có tiếng hát quyến rũ nương theo làn gió vọng đến thuyền rồng… Giọng ca ấy đã khiến chàng công tử Phước Lan quyến luyến. Hai năm sau, được Chúa Sãi cho phép, cô thôn nữ - vốn là con gái yêu của hào trưởng làng Chiêm Sơn Đoàn Công Nhạn trở thành phu nhân của phó tướng Nhân Lộc hầu Nguyễn Phước Lan, sống với nhau tại làng Chiêm Sơn (chuyện chép trong Đại Nam liệt truyện tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn).
Tuy làm dâu nhà Chúa, nhưng bà Đoàn Thị Ngọc vẫn chăm lo việc cũ, khuyến khích người dân các phủ Điện Bàn, Thăng Hoa… gìn giữ, phát triển nghề trồng dâu dệt lụa. Nhờ đó, nghề tàm tang của Đàng Trong vào thế kỷ thứ XVII bắt đầu mở mang và có thể sản xuất được các mặt hàng tơ lụa nổi tiếng như đoạn, the, gấm vóc… bán ra thị trường trong và ngoài nước qua thương cảng Hội An. Ngày 19-11-1635, Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên mất, Nhân Quận công Nguyễn Phước Lan trở thành Chúa Thượng (dời phủ Chùa từ làng Phước Yên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế về làng Kim Long ở Phú Xuân). Bà Đoàn Thị Ngọc trở thành vương phi ; sống ở Phú Xuân bà cũng khuyến khích nhân dân quanh phủ Chúa phát triển nghề tàm tang… Bà Đoàn Quý Phi mất ngày 17-5 năm Tân Sửu (tức ngày 12-7-1661) thọ 60 tuổi. Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần đưa thân mẫu về quê, an táng trên gò Cốc Hùng, làng Chiêm Sơn, xã Duy Trinh ngày nay…
Cũng thời điểm đó, cảng thị Hội An dưới thời Chúa Nguyễn đã trở thành trung tâm trung chuyển của con đường tơ lụa quốc tế xuyên đại dương (thế kỷ XVI, XVII) nối liền Tây Âu - Viễn Đông. Bà Đoàn Thị Ngọc Phi trở thành "Bà Chúa tầm tang" mà đến nay người Quảng Nam còn lễ tế, tưởng niệm hàng năm vào các ngày 11 đến 13-4 (tức ngày 16-3 âm lịch), ngay khi vụ tằm xuân đang rộ...
Nối tiếp người xưa, một hậu duệ ưu tú của bà Đoàn Quý Phi - cụ Nghè Diễn - cũng sinh ra từ đất Duy Trinh giờ được tôn vinh là ông tổ nghề dệt may. Cụ Nghè Diễn tên thật là Võ Dẫn (sinh 1897) ở làng Thi Lai Tây, là con của một gia đình nho học, nhiều đời chuyên thông nghề tằm, ươm tơ dệt hàng tơ tằm. Năm 1932, vào Sài Gòn coi triển lãm máy móc dụng cụ ngành dệt, tại đây chiếc máy dệt bằng sắt kiểu Pháp đã khiến cụ nghĩ ngay đến việc cải tiến khung dệt gỗ truyền thống ở quê nhà. Lúc bấy giờ, việc dệt hàng lụa dành cho phụ nữ là tương đối nhẹ nhàng, còn việc dệt các hàng lãnh, lương, sa, nhiễu… là việc rất nặng nhọc chỉ dành cho đàn ông. Sau hai năm miệt mài, chiếc máy dệt của cụ Dẫn ra đời với rất nhiều cải tiến vượt bậc thúc đẩy cuộc cách mạng trong ngành dệt may nước nhà. Năm 1946, chiếc máy dêt Quảng Nam bắt đầu cuộc Nam tiến qua Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên rồi Sài Gòn, cư dân nghề dệt may Duy Xuyên lập nên nhiều làng dệt có tiếng ở khu Lò Chén, Bảy Hiền, Gò Vấp, Tham Lương… Cụ Võ Dẫn mất ngày 24-9 năm Ất Mão (1975) tại làng dệt Bảy Hiền, Thành phố Hồ Chí Minh, được tôn vinh là ông tổ nghề dệt may xứ Quảng.
Hôm nay ở hai làng nghề dệt may Thi Lai - Phú Bông của xã Duy Trinh, có đến gần 200 hộ nối nghiệp cụ Võ Dẫn. HTX dệt may Duy Trinh (thành lập năm 1996) được coi là HTX tiên phong của ngành dệt địa phương có đủ sức bền để vượt qua những biến động thị trường khốc liệt của ngành dệt những năm trước. Riêng nghề trồng dâu nuôi tằm của Duy Trinh qua nhiều thăng trầm nay đang được khôi phục. Và để khích lệ người dân trở lại nghề cũ, lễ hội Bà Chúa Tàm tang sẽ được địa phương tổ chức long trọng vào ngày 13-4 đến (tức ngày 16-3 âm lịch). Du khách đến Đông Yên sẽ hình dung được đầy đủ một làng nghề sống động khép kín từ trồng dâu - nuôi tằm - ươm tơ - dệt lụa, được đưa đi tham quan khu lăng mộ của bà Mạc Thị Giai (vợ chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên) và bà Đoàn Quý Phi, viếng dinh Bà Chiêm Sơn, thăm bến Gia Ngự (là tên dân gian đặt cho khi vua đi thuyền rồng đến làng Đông Yên)…
Một người con khác của xứ Quảng cũng đã thành công và nổi danh trong việc phát triển nghề dệt là anh Hồ Viết Lý, Giám đốc Công ty TNHH Dệt lụa tơ tằm Toàn Thịnh, TPHCM. Anh là một người chuyên dệt lụa để may áo không những cho người bình thường mà còn cho cả nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo các nền kinh tế. Tại Hội nghị cấp cao Á- Âu (ASEM 5) năm 2004 và Hội nghị lãnh đạo các nền kinh tế APEC 14 năm 2006 diễn ra tại Việt Nam, nhà thiết kế Minh Hạnh đã chọn “lụa Lý” để may trang phục cho 39 vị lãnh đạo ASEM 5 và 21 vị lãnh đạo nền kinh tế thành viên APEC. Chiêm ngưỡng các vị lãnh đạo các nền kinh tế có mặt tại Việt Nam sang trọng trong bộ trang phục “thuần Việt”, người dân cả nước cũng như quan khách quốc tế đều trầm trồ thán phục… Chất liệu, kiểu dáng của “lụa Lý” tại Sài Gòn có vẻ đẹp riêng so với lụa Hà Đông và lụa Lâm Đồng. Có trong tay mặt hàng mang tính đẳng cấp, Hồ Viết Lý nâng cấp cơ sở dệt Toàn Thịnh lên thành Công ty TNHH Dệt lụa tơ tằm Toàn Thịnh với quy mô sản xuất lớn và nhanh chóng xuất khẩu các mặt hàng lụa xuất khẩu sang thị trường Nhật, Pháp, Mỹ, Thái Lan, Lào, Campuchia, Hàn Quốc…
Chương 3 – Kết luận:
Song hành với sự phát triển của các sản phẩm dệt là sự hình thành của các làng nghề dệt thủ công truyền thống với tên tuổi của 336 làng nghề trên phạm vi cả nước, mỗi nơi đều chứa đựng những nét đặc trưng văn hóa hết sức đặc sắc. Những sóng lụa tha thướt ở Vạn Phúc (Hà Tây), Nha Xá (Hà Nam) hay Tân Châu ở dải đất Miền Tây sông nước..., những chiếc khăn đũi mộc mạc Nam Cao, vô số các loại khăn ăn, khăn tắm đa sắc đa màu ở Thái Phương (Thái Bình), nghề dệt len ở làng nghề tỷ phú La Phù, Hà Tây..., là đồng bào dân tộc Mông nổi tiếng với nghề dệt lanh, nhuộm chàm và vẽ sáp ong ở Lùng Tám (Hà Giang), hay những nét chắt lọc cả tinh hoa của đất, của trời, của rừng xanh, thác bạc trong mỗi mặt hàng thổ cẩm Tây Nguyên…
Lụa tơ tằm Duy Xuyên nói riêng và Việt Nam nói chung trong lịch sử cũng như hiện nay có tiếng trong nước và quốc tế. Nó không chỉ đưa lại giá trị kinh tế cho quốc gia, nhiều dòng họ, gia đình, nhiều làng mà còn là một nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam.
G-Tài liệu tham khảo:
baoquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=5240&Itemid=123NAM KHA
www.dulichvietnam.info/a/b/c/d/e/Tour_d ... n-phuc.htm
www.langngheviet.net/categories.aspx?Id=47&Des...%20dệt,%20lụa - 45k
www.mientrung.com/content/view/5207/133/
www.tinhdoanqnam.vnn.vn/index.php?optio ... &Itemid=29
www.sggp.org.vn/phongsudieutra/2008/12/174697/
Theo Sannghenghiep.vn
wikipedia