Bạn đang xem trang 1 / 3 trang

HIỆN TƯỢNG LY HÔN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 5 24/03/11 18:14
gửi bởi Quang Tuan
HIỆN TƯỢNG LY HÔN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

0
“Ly hôn” là một hiện tượng khá phổ biến trong xã hội Việt Nam và hiện nay đang trở thành một vấn đề nan giải trong xã hội ngày nay. Cốt lõi của vấn đề này mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, giữa ổn định và tự do, giữa muốn giữ gia đình và thoát khỏi gia đình (làm sao tự do nhất) với tính truyền thống ổn định và tự do của thời đại. Chủ thể ở đây là "ly hôn".

* Xác định Mâu thuẫn:
+ Truyền thống (sống vì gia đình) – hiện đại (sống vì bản thân)
+ Ổn định (gia đình) – tự do (xã hội)
+ Muốn giữ gia đình (ổn định) – thoát khỏi gia đình (tự do)
Theo tôi đây là ba mâu thuẫn cơ bản nhất dẫn đến tình trạng "ly hôn" trong xã hội hiện nay.

* VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DỊCH LÝ ĐỂ NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG LY HÔN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

Nội dung quy trình này gồm bốn bước cơ bản trong phương pháp Dịch lý mà GS. Trần Ngọc Thêm đã xây dựng trong tập bài giảng của mình. Bốn bước ấy được thực hiện như sau:

Bước 1: Kiểm tra tính tương hiện: giúp tìm ra tri thức mới, tránh cực đoan một chiều.
Bước 2: Kiểm tra tính tương hóa: giúp nắm được hướng phát triển.
Bước 3: Kiểm tra tính hướng hòa: giúp chọn được giải pháp tối ưu, hữu hiệu.
Bước 4: Kiểm tra hướng mở rộng (bước phụ, không bắt buộc): giúp xây dựng được lý thuyết phù hợp.

Tương ứng với bốn bước trên là

1
Kiểm tra tính tương hiện ---> luật thành tố (âm hiện diện trong dương và dương hiện diện trong âm)
Trong quan hệ gia đình luôn có những mâu thuẫn với nhau và mâu thuẫn ấy có thể dẫn đến ly hôn. Trong tính ổn định gia đình, con người chúng ta luôn muốn có những tự do riêng tư, tự do làm những gì chúng ta muốn, hoặc chưa quên cuộc sống gia đình --> ly hôn.
Tóm lại: Trong tính ổn định gia đình luôn tồn tại tự do và ngược lại. Hai vấn đề này nó tồn tại song song với nhau và chuyển hóa lẫn nhau.
2
Kiểm tra tính tương hóa ---> luật quan hệ (âm dương chuyển hóa cho nhau)
Gia đình luôn gán con người vào một cái khung chung của luật gia đình mà bất cứ cá nhân có gia đình nào cũng phải tồn tại trong luật ấy. Những luật của gia đình luôn đóng khung cá nhân trong một phạm vi nhất định nào đó. Cá nhân trong gia đinh thấy mình mất tự do --> ly hôn là con đường tốt nhất cho cả hai để thoát khỏi luật gia đình (cơm, tiền, áo, chăm sóc con, chồng …). Tuy nhiên, nếu xét cho kĩ, chúng ta sẽ thấy rằng việc chúng ta được tự do đến một lúc nào đó sẽ quá mức dẫn đến tùy tiện không kiểm soát bản thân mình ---> cần có sự ổn định ---> tức là có gia đình ---> mong muốn ổn định. Luật quan hệ này luôn chuyển hóa lẫn nhau luôn tạo nên một vòng tròn kép kín tác động lên xã hội hiện đại được xem là xã hội của tự do (quan hệ xã hội, công việc, tự do cá nhân…) và luôn có sự mâu thuẫn với truyền thống (chăm sóc chồng con, quay quần gia đình, tự do cá nhân là tự do trong gia đình).
3
Kiểm tra tính hướng hòa ---> luật khuynh hướng (âm dương hướng tới cân bằng)
Quan hệ gia đình luôn là mối quan hệ kép kín, luôn có sự ràng buộc lẫn nhau trong đó các thành viên trong gia đình luôn tác động lẫn nhau tạo nên những quy luật chung của gia đình, mà mỗi cá nhân có vai trò nhất định của mình. Cá nhân trong gia đình muốn thoát khỏi quy luật chung ấy ---> ly hôn. Mỗi cá nhân trong gia đình không thể cân bằng “vừa có sự ổn định gia đình vừa có sự tự do cá nhân” là việc rất khó. Ở đây, chúng ta nên xét kĩ “tự do của cá nhân là một phần sự tự do của toàn gia đình” không còn là tự do của “tiền kết hôn”. Nói như vậy, không phải những cá nhân trong gia đình không có sự tự do cá nhân mà sự tự do đó được giới hạn trong khuôn khổ là gia đình vì sự tự do đó liên quan đến cả gia đình.
Như vậy, chúng ta không thể cân bằng giữa tự do cá nhân một cách toàn diện và sự ổn định trong một gia đình tuyệt đối. Đó là sự mong muốn của bất kì ai trong xã hội ngày nay vừa tự do thoải mái lại vừa có một gia đình ấm cúng. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không thể .
4
Mở rộng
Đây là hiện tượng của một xã hội hiện đại luôn tạo cho nên tác dụng phụ trong trật tự của xã hội.
Việc này tùy thuộc vào chủ thể nếu chủ thể thấy mình không tự do thì sớm muộn sẽ có sự thoát ly trong gia đình (ly hôn). Vì vậy, quyền quyết định phụ thuộc rất lớn vào chủ thể muốn được tự do này. Chúng ta chỉ có thể thấy mình được tự do khi chúng ta chấp nhận nó như một quy luật và tìm được sự tự do trong một khuôn khổ đó ---> một gia đình hạnh phúc khi mỗi thành viên đều thấy mình được tự do, được chăm sóc và sống trong tình yêu thương của sự tự do.

Re: HIỆN TƯỢNG LY HÔN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 7 26/03/11 18:01
gửi bởi Linh Giang
Mặc dù thầy vẫn thường nhắc việc góp ý nên chỉ dừng lại ở kiểm tra các bước đã ổn chưa. Nhưng vấn đề của quangtuan đưa ra khá thú vị và những gì bạn phân tích như trên thì mình xin góp ý luôn cả hai phương diện: nội dung và các bước kiểm tra luôn. Hy vọng góp thêm một chút ý tứ cho vấn đề của bạn.

Xuất phát từ Quan niệm coi gia đình la cái cũi (cũi sắt hay cũi gì đó cũng được heee).
Vì coi coi hôn nhân là cái cũi nên QT xác định ly hôn là thoát được cái cũi = có tự do
Quay trở lại với bài QT, hai mâu thuẫn mà mình xác định ở trên dựa vào cách hiểu về hôn nhân và tự do của QT đấy. Xem ra, QT coi hôn nhân như một cái lồng (hay cái cũi) sắt nhốt hai con người vào đó mà tự do là phải nhất quyết tháo nó ra. (hiii). Thế nên cái sự tự do ở đây quan trọng vô cùng. Như thế thì bi quan quá về hôn nhân rồi. Theo mình sự ổn định của gia đình sự tự do của các thành viên trong gia đình ấy không phải là một cặp mâu thuẫn trừ phi một trong hai thành viên (hoặc cả hai) coi hôn nhân của họ là một cái cũi như mình nói trên. Mà trường hợp này thì không phổ biến ---> nó không thể là mâu thuẫn chính. Với nhiều người, có hôn nhân, có gia đình mới có tự do đấy. Cho nên, nếu muốn triển khai đề tài này, bạn cần xác định lại cách hiểu của mình về hai chữ "tự do" trong hôn nhân, đừng nghĩ rằng có gia đình là mất hết...tự do nhé! :mrgreen: (tự do là gì? là sống và làm việc theo pháp luật ấy là tự do và tự do trong hôn nhân ấy là sống và làm việc theo những chuẩn mực về hôn nhân mà được xã hội và cộng đồng người chấp nhân) Như vậy, một người vợ hoặc người chồng ngoại tình thì không bao giờ cho phép gọi đó là ...đi tìm tự do.


Những lý luận trên cho phép mình kiểm tra bước 3 của bạn là chưa hợp lý. Trong Bước 3, kiểm tra sự hướng hòa, bạn viết:
3
Kiểm tra tính hướng hòa ---> luật khuynh hướng (âm dương hướng tới cân bằng)
Quan hệ gia đình luôn là mối quan hệ kép kín (xem lại cái này :cry: ), luôn có sự ràng buộc lẫn nhau trong đó các thành viên trong gia đình luôn tác động lẫn nhau tạo nên những quy luật chung của gia đình, mà mỗi cá nhân có vai trò nhất định của mình. Cá nhân trong gia đình muốn thoát khỏi quy luật chung ấy ---> ly hôn. Mỗi cá nhân trong gia đình không thể cân bằng “vừa có sự ổn định gia đình vừa có sự tự do cá nhân” là việc rất khó. Ở đây, chúng ta nên xét kĩ “tự do của cá nhân là một phần sự tự do của toàn gia đình” không còn là tự do của “tiền kết hôn”. Nói như vậy, không phải những cá nhân trong gia đình không có sự tự do cá nhân mà sự tự do đó được giới hạn trong khuôn khổ là gia đình vì sự tự do đó liên quan đến cả gia đình.
Như vậy, chúng ta không thể cân bằng giữa tự do cá nhân một cách toàn diện và sự ổn định trong một gia đình tuyệt đối. Đó là sự mong muốn của bất kì ai trong xã hội ngày nay vừa tự do thoải mái lại vừa có một gia đình ấm cúng. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không thể .

Xem lại vấn đề đó để xác định lại tính hướng hòa và giải pháp nhé QT.
Vài lời góp ý.

Re: HIỆN TƯỢNG LY HÔN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

Gửi bàiĐã gửi: Chủ nhật 27/03/11 22:03
gửi bởi nuthanbien
Với đề tài bạn chọn cũng khá thú vị, đây là một hiện tượng phổ biến trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Dựa theo phần bài làm bạn đã triển khai, tôi có một vài góp ý nhỏ.
Thứ nhất: Bạn đã xác định được đầy đủ các bước của bài làm theo yêu cầu, xác định được những mâu thuẫn của nó, tuy nhiên chỉ cần triển khai một mâu thuẫn cơ bản nhất là ổn định >< tự do.
Với cách bạn triển khai mâu thuẫn này về cơ bản là cũng khá hợp lí, song cũng giống như Linh Giang đã nhận xét, bạn hơi nghiêng về độ mất tự do trong hôn nhân. Ở bước thứ hai bạn cũng đã nắm được bước phát triển của nó tương đối tốt tức là con người ta khi có gia đình rồi vì thấy ngột ngạt với cuộc sống gia đình đó lại muốn được tự do, nhưng khi tự do rồi đến một lúc nào đó lại muốn được ràng buộc nhưng đó không phải là tất cả, có thể trong số những người ly hôn, họ có tự do rồi thì sẽ rất trân trọng cái tự do của mình không còn muốn hướng đến độ ổn định nữa hay nói cách khác họ có độ ổn định của riêng họ không nhất thiết phải là gia đình, tùy thuộc theo quan điểm và cách nhìn nhận về cuộc sống hôn nhân của mỗi người sau ly hôn nữa.
Thứ hai: Trong bước thứ 3, kiểm tra tính hướng hòa bạn cần xem lại một chút. Trong hôn nhân con người ta vẫn có tự do đó chứ, quan trọng là cả hai người sẽ khẳng định được độ tự do của mình như thế nào mà thôi. Nói như vậy có nghĩa là sự ổn định trong gia đình cũng không nhất thiết phải bài trừ sự tự do mặc dù có mâu thuẫn nhưng nếu mức độ không quá gay gắt thì bản thân những người trong cuộc vẫn có thể điều hòa được.
Thứ ba: Ở bước cuối cùng cần xây dựng một lý thuyết riêng, không phải cứ chủ thể thấy mình không tự do thì sẽ ly hôn mà quan trọng chính là tăng sự ổn định gia đình đến đâu và tăng sự tự do đến đâu mà thôi, muốn làm được như vậy mỗi người trong cuộc phải thể hiện được bản lĩnh của mình.
Chúc bạn sẽ thành công với đề tài này.

Hình tượng “Heng” trong đám tang của người Chăm Ahiêr

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 2 28/03/11 14:33
gửi bởi Quang Tuan
Tên đề tài: Hình tượng “Heng” trong đám tang của người Chăm Ahiêr

Hình ảnh

Phần mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Bố cục tiểu luận:

CHƯƠNG I: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Khái niệm đám tang và hình tượng “Heng” của người Chăm Ahier
1.1.1. Khái niệm hình tượng “Heng” và sự phát triển của nó trong văn hóa của người Chăm Ahier
1.1.2. Đám tang và đặc điểm của đám tang người Chăm Ahier
1.1.3.Phân biệt hình tượng “Heng” trong đám tang với các hình tượng lễ khác
1.2. Văn hóa “Heng” và nền tảng hình thành văn hóa “Heng” trong văn hóa Chăm
1.2.1. Khái niệm văn hóa “Heng”
1.2.2. “Heng” trong lịch sử văn hóa Chăm Ahier
1.3. Tiểu kết

CHƯƠNG II: VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ TẬN DỤNG HÌNH TƯỢNG “HENG” TRONG HÓA CHĂM AHIER

2.1. Văn hóa nhận thức về “Heng”
2.1.1. “Heng” – một hình tượng đặc biệt trong văn hóa Chăm Ahier
2.1.2. Hình tương “Heng” trong tâm thức người Chăm Ahier - tính biểu trưng của “Heng”
2.2. Văn hóa tận dụng “Heng”
2.1.1. Hình tượng “Heng” cho đám thiêu hai Paseh
2.1.2. Hình tượng “Heng” cho đám thiêu bốn Paseh
2.1.3. “Heng” dùng trong tôn giáo
2.3. Tiểu kết

CHƯƠNG III: VĂN HÓA ĐỐI PHÓ VỚI “HENG”, VĂN HÓA LƯU LUYẾN “HENG” VÀ VĂN HÓA SÙNG BÁI “HENG”

3.1. Văn hóa đối phó với hình tượng “Heng”
3.1.1. Cất giữ trong chỗ kín đáo (không cho thấy)
3.1.2. Không trang trí trong nhà
3.1.3. Tránh gặp tai họa (sống tốt – không chết)
3.2. Văn hóa lưu luyến hình tượng “Heng”
3.2.1. “Heng” với ngệ thuật điêu khắc Chăm (Kut…)
3.2.1.1. Heng trong thuật “Kut”
3.2.1.2. Heng trong điêu khắc “tháp Chăm”
3.2.1.3. Heng trong các nghệ thuật khác
3.2.2. “Heng” trong nghệ thuật tạo hình
3.2.3. “Heng” với các lễ dân gian
3.2.4. “Heng” với hoạt động tâm linh
3.2.5. “Heng” trong nghệ thuật ngôn từ của người Chăm Ahiêr
3.2.6. Mượn “Heng” để bày tỏ sự tái sinh (đầu thai) cho một thế giới mới
3.2.7. “Heng” trong thần thoại Chăm Ahier
3.3. Văn hóa sùng bái “Heng”
3.3.1. Từ vai trò quan trọng của “Heng” đến yêu thích hình tượng “Heng” trong văn hóa Chăm Ahier
3.3.2. Sùng bái hình tượng “Heng”
3.4. Tiểu kết

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU TRA CỨU
TƯ LIỆU KHẢO SÁT

PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Hình tượng “Heng”
Phụ lục 2: Hình ảnh minh họa trong đám thiêu của người Chăm Ahier
+ Hai Paseh
+ Bốn Paseh

Re: HIỆN TƯỢNG LY HÔN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 06/04/11 11:12
gửi bởi Quang Tuan
Trả lời "Bài Tập 1" ---> "Linh Giang".
Cảm ơn "Linh Giang" đã ghé thăm và có những góp ý rất hay cho đề tài của mình và những góp ý ấy mình sẽ tiếp thu và sẽ làm lại cho thật tốt. Tuy nhiên, mình cũng có một vài ý kiến để làm rõ vấn đề với "Linh Giang" nhe:
"Linh Giang" có Viết "Xuất phát từ Quan niệm coi gia đình la cái cũi (cũi sắt hay cũi gì đó cũng được heee).
Vì coi coi hôn nhân là cái cũi nên QT xác định ly hôn là thoát được cái cũi = có tự do
Quay trở lại với bài QT, hai mâu thuẫn mà mình xác định ở trên dựa vào cách hiểu về hôn nhân và tự do của QT đấy. Xem ra, QT coi hôn nhân như một cái lồng (hay cái cũi) sắt nhốt hai con người vào đó mà tự do là phải nhất quyết tháo nó ra. (hiii)”
Thứ nhất:Ở đây không phải là cái "lồng sắt hay lồng cũi" như Linh Giang nghĩ gì hết, mà ở đây là tự do trong một "khôn khổ nhất định". Một người đã có gia đình thì không thể tự do muốn làm gì thì làm, muốn chơi đến lúc nào thì chơi...Nếu muốn "tự do làm gì thì làm ---> chỉ là còn cách ly hôn. Không có ông Chồng hay bà vợ nào mà chấp nhận vợ mình muốn làm gì thì làm, hay chồng mình muốn làm gì thì làm hết. Cho nên, tự do ở đây, tôi muốn nói là có khuôn khổ, có giới hạn mà ông Chồng hay bà Vợ phải tự giới hạn cho riêng mình. Có tự do nhưng không phải là "quá đáng".
Thứ Hai: Quan hệ gia đình là một quan hệ "khép kín" không phải là nhốt trong lồng, mà ở đây tác giả đề tài chỉ muốn nhấn mạnh rằng ----> có sự quan tâm nhau, hộ trở lẫn nhau --> tạo nên như một quan hệ khép kín (vòng tròn)...Anh quan tâm tôi--> Tôi quan tâm, chăm sóc anh, anh không quan tâm cho--> liệu tôi có quan tâm cho anh hoài được chẳng? có phải dẫn đến tình trạng "ông ăn chả, bà ăn nem" không?. Không phải khi lấy chồng rồi mọi thứ "đều được chồng giúp đỡ, đùm bọc....là mình được tự do? Đây không phải là ý định mà tôi xác định trong mâu thuẫn của mình. Trong khi trình bày với một vài ý chính trong đề tài thỉ không thể "nói lên hết" tất cả. Nên rất mong mọi người cần suy nghĩ, cân nhắc khi bình luận bài. Nếu "Linh Giang" và bạn nào có ý kiến gì cứ việc thảo luận, tôi sẵn sàng trả lời...cảm ơn tất cả.

Re: HIỆN TƯỢNG LY HÔN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 06/04/11 11:21
gửi bởi Quang Tuan
Trả lời "Bài Tập 1" ---> "nuthanbien".
Rất vui vì "nuthanbien" đã quan tâm và nhận xét bài của tôi, tôi rất vui và sẽ xem đó là sự góp ý chính đáng của "nuthanbien". Cũng như phần nhận xét của "Linh Giang" thì "nuthanbien" cũng cần phải xem lại bài của tôi.
Tôi không nói trong hôn nhân là không có tự do. Tuy nhiên, tự do của hôn nhân hoàn toàn khác với "tự do tiền hôn nhân".
Cảm ơn, chúc bạn thành công.....có gì bạn cứ thảo luận tôi sẵn sàng...thảo luận cùng bạn.

Hình tượng “Heng” trong đám tang của người Chăm Ahiêr

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 06/04/11 11:28
gửi bởi Quang Tuan
Bài Tập 2 và Bài Tập 3 xin được post lại
Hình ảnh
Phần mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Bố cục luận văn:

CHƯƠNG I: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Khái niệm đám tang và hình tượng “Heng” của người Chăm Ahier
1.1.1. Khái niệm hình tượng “Heng” và sự phát triển của nó trong văn hóa của người Chăm Ahier
1.1.2. Đám tang và đặc điểm của đám tang người Chăm Ahier
1.1.3.Phân biệt hình tượng “Heng” trong đám tang với các hình tượng lễ khác
1.2. Văn hóa “Heng” và nền tảng hình thành văn hóa “Heng” trong văn hóa Chăm
1.2.1. Khái niệm văn hóa “Heng”
1.2.2. “Heng” trong lịch sử văn hóa Chăm Ahier
1.3. Tiểu kết

CHƯƠNG II: VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ TẬN DỤNG HÌNH TƯỢNG “HENG” TRONG HÓA CHĂM AHIER

2.1. Văn hóa nhận thức về “Heng”
2.1.1. “Heng” – một hình tượng đặc biệt trong văn hóa Chăm Ahier
2.1.2. Hình tương “Heng” trong tâm thức người Chăm Ahier - tính biểu trưng của “Heng”
2.2. Văn hóa tận dụng “Heng”
2.1.1. Hình tượng “Heng” cho đám thiêu hai Paseh
2.1.2. Hình tượng “Heng” cho đám thiêu bốn Paseh
2.3. Tiểu kết

CHƯƠNG III: VĂN HÓA ĐỐI PHÓ VỚI “HENG”, VĂN HÓA LƯU LUYẾN “HENG” VÀ VĂN HÓA SÙNG BÁI “HENG”

3.1. Văn hóa đối phó với hình tượng “Heng”
3.1.1. Cất giữ trong chỗ kín đáo (không cho thấy)
3.1.2. Không trang trí trong nhà
3.1.3. Tránh gặp tai họa (sống tốt – không chết)
3.2. Văn hóa lưu luyến hình tượng “Heng”
3.2.1. “Heng” với ngệ thuật điêu khắc Chăm (Kut…)
3.2.1.1. Heng trong thuật “Kut”
3.2.1.2. Heng trong điêu khắc “tháp Chăm”
3.2.1.3. Heng trong các nghệ thuật khác
3.2.2. “Heng” trong nghệ thuật tạo hình
3.2.3. “Heng” với các lễ dân gian
3.2.4. “Heng” với hoạt động tâm linh
3.2.5. “Heng” trong nghệ thuật ngôn từ của người Chăm Ahiêr
3.2.6. Mượn “Heng” để bày tỏ sự tái sinh (đầu thai) cho một thế giới mới
3.2.7. “Heng” trong thần thoại Chăm Ahier
3.3. Văn hóa sùng bái “Heng”
3.3.1. Từ vai trò quan trọng của “Heng” đến yêu thích hình tượng “Heng” trong văn hóa Chăm Ahier
3.3.2. Sùng bái hình tượng “Heng”
3.4. Tiểu kết

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU TRA CỨU
TƯ LIỆU KHẢO SÁT

PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Hình tượng “Heng”
Phụ lục 2: Hình ảnh minh họa trong đám thiêu của người Chăm Ahier
+ Hai Paseh
+ Bốn Paseh

Hình tượng “Heng” trong đám tang của người Chăm Ahiêr

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 06/04/11 21:34
gửi bởi Quang Tuan
Bài tập 4:
Hình ảnh

Đặc điểm của văn hóa Nhật Bản hiện nay

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 12/04/11 19:45
gửi bởi Quang Tuan
Bài tập 5: Đặc điểm của văn hóa Nhật Bản hiện nay

Đặc điểm của văn hóa Nhật Bản hiện nay

- Đặc điểm của văn hóa Nhật Bản với tư cách (C ) hiện tại là công nghiệp về kinh tế, văn hóa đô thị về môi trường sống:
- Bản chất của (C) trung gian, hướng sự phân tích.
- Nguyên tắc ứng xử của trọng động là theo nguyên tắc. Phương pháp hành động của ( C ) tư duy khoa học

Hình ảnh

- Đây là bài tập, chắc chắn có rất nhiều thiếu xót mong các anh/ chị và các bạn giúp mình hoàn thành tốt bài tập này nhé........rất cảm ơn mọi người

ĐỊNH NGHĨA BIỂU TƯỢNG

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 12/04/11 20:07
gửi bởi Quang Tuan
Bài tập 6:
ĐỊNH NGHĨA BIỂU TƯỢNG

1. Tìm tất cả các định nghĩa hiện có

- GS. Trần Ngọc Thêm 2011. Lý luận văn hóa học, trong tập bài giảng: Biểu tượng (Symbol) là tổng thể của hình ảnh được trưng ra (cái biểu hiện) cùng với quan hệ với khái niệm, tư tưởng mà nó thây thế (cái được biểu hiện, ý nghĩa).

- GS Hoàng Phê (chủ biên) 1992. Từ điển tiếng Việt. Trung tâm từ điển ngôn ngữ: Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt.

- Vũ Dũng 2000. Theo từ điển TLH , NXB KHXH: Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng. Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát. Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai.

- Wikipedia: Biểu tượng là một khái niệm đang được đẩy mạnh nghiên cứu trên thế giới bởi đến nay khái niệm biểu tượng vẫn là một lĩnh vực chứa đựng nhiều bí ẩn.

2. Phân tích từng định nghĩa theo yêu cầu của định nghĩa

Hình ảnh

3. Phân loại các định nghĩa, xác định những nét nghĩa chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai hoặc thiếu cần bổ sung, sửa chữa

Theo đđặc trưng giống, có 2 loại: là tổng thể hình ảnh được trưng ra (Trần Ngọc Thêm 2011), hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức (GS Hoàng Phê (chủ biên) 1992) và là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng, trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng (Vũ Dũng 2000).
Theo đặc trưng tưởng tượng, cả bốn đều có 3 tiêu chí là tổng thể hình ảnh, được ghi lại trong đầu óc, nhớ lại hay tưởng tượng khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt, biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai.
Như vậy, có thể tiếp thu được từ định nghĩa trên: đặc trưng giống “tưởng tượng”, phạm trù của 2 đặc tưởng tượng (hình ảnh và ghi lại trong đầu óc, nhớ lại).
Cần chỉnh sửa, khái quát hóa và chính xác hóa nội dung 2 đặc trưng của tưởng tượng

4. Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả 3 để diều chỉnh, bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng

Người ta phân chia “biểu tượng” thành hai loại:
+ "Biểu tượng" của trí nhớ: là hình ảnh của tri giác lúc trước được tái hiện lại trong một hoàn cảnh nhất định.
+ "Biểu tượng" của tưởng tượng: là hình ảnh mới được trí tưởng tượng tạo nên trên nền của biểu tượng cũ. "biểu tượng" của tưởng tượng khác về chất so với “biểu tượng” của trí nhớ.
- Có các loại "Biểu tượng”: "biểu tượng xã hội", "biểu tượng" tập thể,...
Khái niệm "biểu tượng xã hội" được nhà Xã hội học Durkheim đưa ra năm 1898 với tư cách là một phạm trù xã hội học và đến năm 1961 được Moscovici sử dụng như là một khái niệm Tâm lý học trong cuốn sách của ông có nhan đề: "Phân tâm học – hình ảnh và tác giả của nó"

+ Theo Moscovici-(1961): "biểu tượng xã hội" là một dạng hiểu biết đặc biệt, một dạng tri thức có nghĩa chung mà các nội dung của nó thể hiện thao tác của các quá trình phát sinh và chức năng đánh dấu bởi xã hội. Rộng hơn, nó chỉ ra một dạng tư duy xã hội" (Jodelet,1984, tr361)
+ Theo Guimelli, "biểu tượng xã hội" là "Phương thức đặc biệt của hiểu biết chung mà tính đặc thù của nó nằm trong tính cách xã hội của các quá trình tạo ra nó”," là một tập hợp các tri thức, niềm tin, các ý kiến được chia sẻ bởi một nhóm đối với đối tượng XH nào đó" (1994).

==> Như vậy nhìn chung các định nghĩa"biểu tượng" đều xem xã hội là một cách thức đặc biệt nắm bắt thực tế, là cái gợi lại sự vật, hiện tượng được tri giác và tâm trí về thực tế qua đó biến đổi các đối tượng xã hội (con người , bối cảnh, hoàn cảnh, các hiện tượng, các sự kiện ,...) thành những phạm trù tượng trưng (giá trị, niềm tin, tư tưởng, quan điểm, quan niệm) dưới hình thức nhận thức, cho phép nắm bắt các khía cạnh của cuộc sống thường nhật trong lòng các tương tác xã hội.

5. Xác định đặc trưng giống (khái niệm rộng hơn cùng loại)

Là hình ảnh tưởng tượng và ghi lại trong đầu óc.

6. Xác định các đặc trưng (loài) (khu biệt khái niệm được định nghĩa với những khái niệm khác cùng bậc)

6.1. Tổng thể hình ảnh tượng trưng,
6.2. Hình ảnh của nhận thức
6.3. Nhớ lại hay tưởng tượng được ghi lại trong đầu óc
6.4. Khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt

==> Như vậy, có thể định nghĩa như sau: Biểu tượng là “tổng thể hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức được nhớ lại hay tưởng tượng và được ghi lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt”.

Hình ảnh

Cụm từ “nhớ lại hay tưởng tượng (phù hợp hơn)” --> bỏ “nhớ lại”
==> Tóm lại: Biểu tượng là tư tưởng (tưởng tượng) --> vật chất hóa (những hình ảnh) --> biểu tượng (biểu hiện ra bên ngoài = sản phẩm cụ thể).
Như vậy,có thể định nghĩa biểu tượng như sau “biểu tượng là tổng thể hình ảnh tượng trưng được tưởng tượng và ghi lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt”.