Bạn đang xem trang 1 / 2 trang

Tinh thần nhập thế của PGVN qua nghi lễ hằng thuận

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 06/04/11 20:06
gửi bởi trinhhiep
Đề tài: “Tìm hiểu tinh thần nhập thế của Phật Giáo Việt Nam qua nghi lễ hằng thuận”

Bài tập 1: Xác định mâu thuẫn, vận dụng phương pháp dịch lý kiểm tra
Xác định mâu thuẫn:
Mâu thuẫn 1: Mâu thuẫn giữa tinh thần xuất thế nhập thế trong giáo lý Phật giáo
Hệ tọa độ: Không gian: Việt Nam
Chủ thể: Đạo Phật
Thời gian: thời hiện đại

Vận dụng phương pháp dịch lý kiểm tra:
- Tính tương hiện: trong tinh thần nhập thế đã có tinh thần xuất thế, trong tinh thần xuất thế đã chứa đựng tinh thần nhập thế:
Phật giáo chủ trương là xuất thế gian, mục đích là giải thoát cho chúng sinh khỏi những đau khổ của cuộc đời là sinh lão bệnh tử, nhưng bản thân đức Phật cũng là một người trần, và cũng trải qua những điều đó mới đi đến tìm được chân lý xuất thế, và cũng đến lúc phải nhập Niết bàn (chết).
Để giáo lý (xuất thế) đến được với mọi người, để mọi người tìm thấy con đường giải thoát, giáo lý xuất thế đó không xa lạ với người trần thế, mà là phương tiện để người trần thế nương vào tìm đến một lúc nào đó khi phù hợp (đủ nghiệp duyên) sẽ xuất thế.

- Tính tương hóa: nhập thế đến một điểm nào đó sẽ xuất thế, và xuất thế đến một điểm nào đó sẽ trở thành nhập thế.
Đức Phật vốn trong hằng hà sa số kiếp trước đó đã là Phật (xuất thế), nhưng để độ được chúng sanh Ngài phải nhập thế (thái tử Tất đạt đa được sinh ra).
Sinh ra trong cõi ta bà để độ chúng sinh, đến một lúc nào đó, giáo pháp đã truyền khắp và tín đồ của đức Phật đủ để tiếp tục con đường giải thoát cho chúng sanh, không còn cần sự có mặt của người nữa (qua sự kiện đức Phật hỏi Anan), đức Phật đã xuất thế (nhập Niết bàn)

- Tính hướng hòa: tính dung hòa giữa nhập thế và xuất thế, Phật giáo càng về sau càng mở rộng giáo luật (Đại thừa), phát huy tinh thần nhập thế phù hợp với tôn giáo, tín ngưỡng ở nơi nào Phật giáo truyền đến chính là vì mục tiêu hướng tới cái đẹp, cái giải thoát (xuất thế)

Bài tập 2: Vận dụng PP Dịch lý để phân tích và lập cấu trúc cho đề tài đã chọn
Xác định từ khóa: Danh từ trung tâm: Tinh thần nhập thế
Định tố 1: Phật giáo Việt Nam
Định tố 2: Lễ hằng thuận
Lập cấu trúc:
Hình ảnh

Re: Tinh thần nhập thế của PGVN qua nghi lễ hằng thuận

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 06/04/11 21:42
gửi bởi trinhhiep
Bài tập 3: Định vị đối tượng và lập đề cương chi tiết
Định vị đối tượng:

Hình ảnh

Lập đề cương:

DẪN NHẬP
1.Lý do chọn đề tài
2.Mục đích nghiên cứu
3.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
7.Bố cục của đề tài
PHẦN 1: CÁC TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Sơ lược về Phật giáo tại Việt Nam
1.1.1 Lịch sử du nhập của Phật giáo vào Việt Nam
1.1.2 Truyền thống nhập thế trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
1.2 Giáo lý của Phật giáo về hôn nhân
1.2.1 Quan niệm của Phật giáo về vị trí, vai trò của người chồng
1.2.2 Quan niệm của Phật giáo về vị trí, vai trò của người vợ
PHẦN 2: TINH THẦN NHẬP THẾ NHÌN TỪ VĂN HÓA NHẬN THỨC
2.1 Trong kinh điển Phật giáo
2.2 Trong tình hình hiện nay
PHẦN 3: TINH THẦN NHẬP THẾ NHÌN TỪ VĂN HÓA TỔ CHỨC
3.1 Lịch sử ra đời và phát triển nghi lễ hằng thuận
3.2 Quy trình nghi lễ
PHẦN 4: TINH THẦN NHẬP THẾ NHÌN TỪ VĂN HÓA ỨNG XỬ
4.1 Ứng xử giữa vợ chồng
4.2 Ứng xử với cha mẹ
4.3 Ứng xử với con cái
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Re: Tinh thần nhập thế của PGVN qua nghi lễ hằng thuận

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 06/04/11 21:47
gửi bởi trucmuaha
Chị Hiệp ui, em thấy sơ đồ định vị đối tượng của chị cũng giống như sơ đồ cấu trúc của đề tài (BT 2). Em đọc trong bài giảng của thầy thì định vị là phải tìm ra được các đặc điểm của C - K - T quy định đối tượng nghiên cứu của đề tài. Vậy cái quy định C - K - T ở đây em chưa thấy rõ lắm.
Hic, Em đang "bí" chỗ này, thấy chị gửi bài em định vào tham khảo, nhưng mà cũng không hiểu lắm về cách định vị này.
Hồi trước thầy dạy Lý luận Văn hóa học em lại còn không có đi học nữa chứ, nên cái hệ tọa độ C - K - T này mù mờ với em lắm, hic.!

Re: Tinh thần nhập thế của PGVN qua nghi lễ hằng thuận

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 06/04/11 21:55
gửi bởi trinhhiep
hic hic.. trucmuaha ơi, trinhhiep cũng... bí! Chắc nhờ Thầy và mọi người giúp quá!
Có tham khảo bài mẫu của Thầy đó, mà đề tài của bài mẫu có sẵn 2 đối tượng so sánh nên dế, áp vào đề tài mình trinhhiep cũng bó tay!
Cứu tớ với, các bạn ơi, góp ý giùm mình nhé!

Re: Tinh thần nhập thế của PGVN qua nghi lễ hằng thuận

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 4 06/04/11 22:41
gửi bởi trinhhiep
Bài tập 4:
Sưu tầm tư liệu đa ngành, đa công cụ, đa ngôn ngữ, đa chủng loại, đa phương tiện một cách hệ thống phục vụ cho đề tài NCKH đã chọn

Xác định phạm vi các ngành có liên quan:
- Tôn giáo học
- Lịch sử tôn giáo: + lịch sử Phật giáo Ấn Độ
+ lịch sử Phật giáo Việt Nam
+ lịch sử Phật giáo các nước khác (Nam tông, Bắc tông)
- Văn hóa học

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giác Dũng 2003: Phật Việt Nam Dân tộc Việt Nam.- Hà Nội: NXB Tôn giáo
2. Lê Mạnh Thát 1999: Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1: NXB Thuận Hóa
3. Thích Thanh Từ 1992: Phật giáo với dân tộc: Thành hội Phật giáo TPHCM
4. Thích Thông Bửu 2005: 25 bài giảng Phật pháp
5. Thiền sư Định Lực, cư sĩ Nhất Tâm 2003: Phật giáo Việt Nam và thế giới.- Hà Nội: NXB Văn hóa thông tin
6. Trần Ngọc Thêm 2001: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: NXB TPHCM
7. Viện nghiên cứu tôn giáo: Tín ngưỡng tôn giáo và xã hội dân gian: NXB Từ điển Bách khoa.
Internet:
8. Kinh bảy loại vợ: http://www.buddhismtoday.com/tacgia/thichnhattu.htm/
9. Kinh Thi Ca La Việt lạy sáu phương:
http://www.quangduc.com/kinhdien/120thicalaviet.html
10. Kinh Trung A Hàm, Hán dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm, Việt dịch & hiệu chú: Thích Tuệ Sỹ:
http://www.viet.net/anson/uni/u-kinh-ah ... htm#_ftn27#_ftn27
11. Thiên Phúc: Hôn nhân theo quan điểm Phật giáo:
http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-92 ... 14-1_15-1/
12. Thích Nhật Từ (biên dịch): Nghi thức lễ thành hôn:
http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-92 ... 14-1_15-1/
13. Vân Anh: Lễ hằng thuận: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-92 ... 14-1_15-1/

Sử dụng document map:
Hình ảnh

Re: Tinh thần nhập thế của PGVN qua nghi lễ hằng thuận

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 5 14/04/11 6:03
gửi bởi trinhhiep
Bài tập 5: Chọn những nội dung thích hợp trong đề tài của mình để lập bảng và lập mô hình.
Lập bảng:
Hình ảnh

Lập mô hình:

Hình ảnh

Re: Tinh thần nhập thế của PGVN qua nghi lễ hằng thuận

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 03/05/11 11:25
gửi bởi trinhhiep
Bài tập 6: Chọn một khái niệm cơ bản (chìa khoá) trong đề tài nghiên cứu:
- Định nghĩa và trình bày theo 7 bước
- Lập sơ đồ định nghĩa

ĐỊNH NGHĨA “NHẬP THẾ”
1. Tìm tất cả các định nghĩa hiện có:
- Hoàng Phê 1997 (chủ biên): Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học - Trung tâm từ điển học, NXB Đà Nẵng – Hà Nội, trang 691: “Nhập thế: Dự vào cuộc đời (thường là ra làm quan) gánh vác việc đời, không đi ở ẩn, theo quan niệm của Nho giáo. (Nhà Nho nhập thế)
- Nguyễn Lân: Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, trang 1322: Nhập thế: Vào cuộc đời (Đã nhập thế thì phải biết xử thế)
2. Phân tích từng định nghĩa theo yêu cầu của định nghĩa:
Hình ảnh
3. Phân loại từng định nghĩa, xác định những nét nghĩa chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/thiếu cần bổ sung sửa chữa:
Định nghĩa của Hoàng Phê: định nghĩa miêu tả
Định nghĩa của Nguyễn Lân: định nghĩa chiết tự (nhập: vào; thế: cuộc đời)
Cả hai định nghĩa trên đều đề cập đến một nét nghĩa chung là tham dự vào cuộc đời, tuy vậy, ở định nghĩa của Hoàng Phê, việc định nghĩa nhập thế chỉ dừng lại ở quan niệm của Nho giáo là ra làm quan, gánh vác việc đời, trong khi các tôn giáo khác đều có tinh thần nhập thế, còn ở định nghĩa của Nguyễn Lân thì chữ “vào” không rõ là việc sinh ra, tồn tại trên cuộc đời hay là tham dự vào cuộc đời (phân biệt với thoát ly khỏi sự đời).
Xét ở đặc trưng giống, cả hai định nghĩa trên đều có tiêu chí là “cuộc đời”.
Xét ở đặc trưng loài, ở định nghĩa của Hoàng Phê có tiêu chí là “chức năng gánh vác việc đời”, còn ở định nghĩa của Nguyễn Lân thì không thấy đề cập đến.
Như vậy, có thể tiếp thu đặc trưng giống là “cuộc đời”, nhưng cần chỉnh sửa thêm để phù hợp vì tiêu chí cuộc đời là quá rộng. Cần bổ sung, sửa chữa, khái quát hóa đặc trưng loài.

4. Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả (3) để điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng:
Khái niệm nhập thế đa phần được sử dụng trong lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo – tức là khi nào chủ thể đã thoát ly khỏi đời sống trần tục, lìa xa ái dục (Phật giáo), hay phụng sự Thiên chúa (Cơ đốc giáo), v.v… nhưng có những hoạt động phục vụ đời sống trần thế nhằm mục đích cứu khổ thế gian, từ thiện xã hội (Phật giáo), phát triển giáo hội (Thiên chúa)…
Những hoạt động nhập thế của Phật giáo Việt Nam (cả tiểu thừa lẫn đại thừa) nói riêng, Phật giáo các nước Đông Nam Á nói chung rất phong phú, bao gồm các hoạt động từ thiện xã hội, cứu trợ thiên tai… sau này giáo lý Phật giáo đại thừa mở rộng giới luật hơn nữa, xuất hiện các hình thức Phật sự khác nhằm mục đích giáo dục sự hướng thượng, hướng thiện cho nhiều đối tượng như sinh viên, thanh thiếu niên, trẻ em, vợ chồng… Bên cạnh là cơ sở sinh hoạt tôn giáo, chùa còn là trường học.
5. Xác định đặc trưng giống (khái niệm rộng hơn cùng loại): hoạt động tham dự vào việc đời

6. Xác định các đặc trưng loài (khu biệt khái niệm được định nghĩa với những khái niệm khác cùng bậc):
a/ của người xuất gia (phân biệt với người thế tục)
b/ mục đích: cứu giúp thế gian (phân biệt với mục đích cá nhân)
Sản phẩm sơ bộ: “Nhập thế là hoạt động tham dự vào việc đời của người xuất gia nhằm cứu giúp thế gian”

7. Lập sơ đồ, kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu về hình thức và nội dung, chỉnh sửa lại
Hình ảnh
Từ “thế gian” quá bao quát, thay bằng “con người”

Sản phẩm cuối cùng: “Nhập thế là hoạt động tham dự vào việc đời của người xuất gia nhằm cứu giúp con người”

Re: Tinh thần nhập thế của PGVN qua nghi lễ hằng thuận

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 03/05/11 11:34
gửi bởi trinhhiep
Bài tập 7: Chọn 1 cặp đối tượng, lập bảng so sánh.
Hình ảnh

Re: Tinh thần nhập thế của PGVN qua nghi lễ hằng thuận

Gửi bàiĐã gửi: Thứ 3 03/05/11 18:58
gửi bởi trinhhiep
Bài tập 8: Vận dụng phương pháp loại hình nhằm phát hiện những tri thức mới
Hình ảnh

Re: Tinh thần nhập thế của PGVN qua nghi lễ hằng thuận

Gửi bàiĐã gửi: Chủ nhật 08/05/11 22:41
gửi bởi nuthanbien
Thực ra em không hiểu nhiều lắm về phật giáo nên thật sự là đề tài của chị hơi khó để có thể cảm được. Tuy vậy em vẫn cố gắng tìm hiểu một chút về nó hi vọng có thể cùng trao đỏi một chút với chị. Những nội dung khác em xin phép chưa trao đổi được nhiều vì chưa thật sự hiểu kĩ, chỉ trao đổi một chút về đề cương của chị thôi, có vẻ như đề cương tương đối là sơ sài.
DẪN NHẬP
1.Lý do chọn đề tài
2.Mục đích nghiên cứu
3.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
7.Bố cục của đề tài
PHẦN 1: CÁC TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Sơ lược về Phật giáo tại Việt Nam
1.1.1 Lịch sử du nhập của Phật giáo vào Việt Nam
1.1.2 Truyền thống nhập thế trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
1.2 Giáo lý của Phật giáo về hôn nhân
1.2.1 Quan niệm của Phật giáo về vị trí, vai trò của người chồng
1.2.2 Quan niệm của Phật giáo về vị trí, vai trò của người vợ
PHẦN 2: TINH THẦN NHẬP THẾ NHÌN TỪ VĂN HÓA NHẬN THỨC
2.1 Trong kinh điển Phật giáo
2.2 Trong tình hình hiện nay
PHẦN 3: TINH THẦN NHẬP THẾ NHÌN TỪ VĂN HÓA TỔ CHỨC
3.1 Lịch sử ra đời và phát triển nghi lễ hằng thuận
3.2 Quy trình nghi lễ
PHẦN 4: TINH THẦN NHẬP THẾ NHÌN TỪ VĂN HÓA ỨNG XỬ
4.1 Ứng xử giữa vợ chồng
4.2 Ứng xử với cha mẹ
4.3 Ứng xử với con cái
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phần 1, chị phải cho mọi người biết nhập thế là gì? Nghi lễ hằng thuận là gì? Thì mới định hình được đề tài đó chị, một phần cũng là để tránh gây ra sự hiểu không hết các ý của nó.
Ở phần 3 tinh thần nhập thế nhìn từ văn hóa tổ chức, ở đây em nghĩ phần 3.1 lịch sử ra đời và triển có lẽ đưa vào không hợp lí lắm, nếu chị đưa lên tiền đề lí luận và thực tiễn thì phù hợp hơn. Ở mục này nên chăng bổ sung vào đó là: 3.1 tổ chức trong đời sống cá nhân và 3.2 tổ chức đời sống cộng đồng, tiếp đó là 3.3 tổ chức nghi lễ hằng thuận thì có vẻ như là hợp lí hơn chị à.
Phần 4, có thể thêm vào mục 4.4 đó là ứng xử trong xã hội nữa.
Em xin phép được nêu ra một chút về tinh thần nhập thế và nghi lễ hằng thuận để mọi người có thể hiểu được chút chút. hihihi
Kế thừa và phát huy truyền thống “Đạo Phật không rời cuộc sống” này, các vị vua thiền sư thời Trần đã “đem đạo Phật đi vào cuộc đời” một cách hữu hiệu từ phương châm hành động: “Lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”, và đã hình thành “Tinh thần nhập thế tích cực” nổi bậc của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tuy nhập thế không phải là tính chất riêng có của Phật giáo thời Trần nhưng ảnh hưởng từ vai trò nhập thế đã đưa Phật giáo thời Trần vươn tới đỉnh cao của lịch sử tư tưởng nhân loại, cũng như lịch sử Việt Nam vươn tới đỉnh cao trên vũ đài chính trị. Nếu vai trò nhập thế của nhà chính trị là chăm sóc dân tình, giữ gìn yên bình cho xã tắc thì vai trò nhập thế của người tu Phật là đem ánh sáng đạo Phật vào đời để giúp đời. Những nhà nhập thế tiêu biểu thời Trần như: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông,...nhờ có sự kết hợp hài hòa đủ cả hai yếu tố nhập thế này nên mới tạo được thế đứng hiên ngang của lịch sử Việt Nam thế kỷ XIII về những cuộc chiến thắng thần thánh. Bởi vì nếu cả hai vai trò nhập thế trên không cùng được thể hiện thì không dễ gì các vị vua - thiền sư Đại Việt xứng đáng được lưu truyền. Về điểm này, so với vị vua Phật tử Lương Võ Đế đời Đường ở Trung Hoa cho thấy: cũng là vua, cũng là Phật tử thuần thành, thuyết pháp tuyệt hay; thế nhưng, khi đất nước Trung Hoa lâm cơn khói lửa, thay vì xông pha trận mạc nhà vua lại đóng cốc tĩnh tu đã đưa đến thảm họa đau thương cho đất nước. Đối với các vị vua - thiền sư thời Trần, dù phải tận dụng mọi lúc rảnh rang để nghiên tầm kinh điển vẫn sẵn sàng “cởi áo cà sa, khoát chiến bào” khi bờ cõi tổ quốc lâm nguy. Cho thấy rằng, đạo Phật chưa bao giờ là đạo yếm thế mà là đạo nhập thế tích cực. Người tu Phật đúng nghĩa không thể là kẻ chán đời mà trái lại chính họ phải là những người can đảm, yêu đời, đầy đủ nghị lực, ý chí để dấn thân, giáp mặt và chuyển hóa cuộc đời. Bởi vì lịch sử luôn là một bằng chứng sống động hùng hồn mà không ai có thể xóa mờ hay bác bỏ được, đó là một thời vàng son của đất nước và cũng là một thời vàng son của Phật giáo Việt Nam.
Lễ Hằng Thuận- hay nói đúng hơn là lễ cưới tổ chức theo kiểu Phật Giáo. Người khởi xướng ra nghi lễ Hằng Thuận là Ông Đồ Nam Tử. Ông tên thật là Nguyễn Trọng Thuật (1883 - 1940) quê ở Hải Dương. Ông vốn là một nhà nho, sau ông chuyển qua đạo Phật và là người cổ vũ phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà.
Nghi lễ kết hôn trước sự chứng kíên của Đức Phật và đây cũng là một trong những lời kêu gọi cải cách của ông. Đồ Nam Tử cho rằng đạo Phật nên được dấn thân và hoà hợp vào quần chúng. Vào năm 1930, bác sỹ Lê Đình Thám, đã tổ chức lễ cưới cho con gái đầu lòng là bà Lê Thị Hoành với ông Hoàng Văn Tâm tại chùa Từ Đàm - Huế . Có thể nói đây là lễ cưới đầu tiên trước cửa Phật được các chư Tăng chứng minh . Hưởng ứng theo lời kêu gọi của Đồ Nam Tử, vào năm 1971 Hoà Thượng Thiện Hoa đã dùng hai chữ Hằng Thuận để chỉ việc kết hôn trước cửa Phật. Nghi lễ được tiến hành cũng gần giống như lễ cưới thông thường. Chỉ khác một điều, chủ hôn là một vị Hoà thượng hay chư Tăng, Ni được mời tới dự lễ. Chư vị Hoà thượng sẽ đứng ở phía trên khán đài, gia đình nhà cô dâu, chú rể cùng bạn bè sẽ đứng ở hai bên. Khi buổi lễ diễn ra, tân lang và tân nương sẽ quỳ trước mặt các vị Chư Tôn Đức Tăng, Ni . Trước khi làm lễ, vị chủ hôn sẽ hỏi xem cô dâu, chú rể đã quy y chưa, nếu chưa thì quý Thầy, Cô sẽ làm lễ quy y cho hai vợ chồng trước, rồi mới tới nghi lễ cưới. (nếu quy y rồi thì thôi không phải làm nữa).
Tiếp theo, hai người sẽ quỳ trước hình tượng của Đức Phật để phát nguyện và nhận lời ban phước cũng như lời răn dạy của vị trụ trì buổi lễ. Bài pháp ngắn nói về : Đạo làm con đối với cha mẹ phải như thế nào? Đạo làm chồng đối với vợ phải ra sao và ngược lại. Sau khi nghe lời giáo huấn của quý Thầy, Cô xong thì cả hai vợ chồng đều quỳ phát nguyện hồi hướng công đức cho tất thảy mọi người.
Đối với một người dù nam hay nữ khi nói lễ cưới thì họ cho rằng đó là điều vô cùng quan trọng và nó mang nhiều ý nghĩa của một đời người. Vào ngày người con gái vu quy, thì đó cũng chính là ngày xã hội và bạn bè thừa nhận là cô đã có gia đình, đã trưởng thành và đã có khả năng trở thành người vợ, người mẹ. Thế còn người con trai thì sao? Người con trai sau khi lập gia đình, xã hội biết tới anh với cương vị là một người chồng, người cha, một chỗ dựa và là mái ấm cho vợ con sau này.
Vào ngày lễ thiêng liêng ấy, không ai là không muốn mình hạnh phúc vui vẻ, và họ cũng mong muốn làm một điều gì đó có lợi ích cho mọi người trong ngày vui này. Ngày xưa khi vua chúa thành thân, họ đều ban bố mở kho lương thực, hay bãi miễn sưu thuế cho dân chúng để toàn dân chúc phúc ngày quan trọng nhất đời của họ.
Là một Phật tử đã bao giờ bạn nghĩ đến tiệc cưới chay chưa? Nếu bạn là một Phật tử tại gia, bạn chắc biết rằng trong năm giới, có giới “Không sát sanh hại vật”. Bạn cứ thử nghĩ coi vào ngày cưới vô cùng ý nghĩa này, trên bàn tiệc bày la liệt nào chim, cá, tôm, gà, bò v.v.. thì sẽ như thế nào? Bạn có thấy sợ không khi mà hàng ngày chúng ta cố gắng giữ giới không sát sanh.?. Vậy mà tại sao ta lại giết hại bao nhiêu sinh linh để làm tiệc chúc tụng ta?