Tinh thần nhập thế của PGVN qua nghi lễ hằng thuận
Đề tài: “Tìm hiểu tinh thần nhập thế của Phật Giáo Việt Nam qua nghi lễ hằng thuận”
Bài tập 1: Xác định mâu thuẫn, vận dụng phương pháp dịch lý kiểm tra
Xác định mâu thuẫn:
Mâu thuẫn 1: Mâu thuẫn giữa tinh thần xuất thế và nhập thế trong giáo lý Phật giáo
Hệ tọa độ: Không gian: Việt Nam
Chủ thể: Đạo Phật
Thời gian: thời hiện đại
Vận dụng phương pháp dịch lý kiểm tra:
- Tính tương hiện: trong tinh thần nhập thế đã có tinh thần xuất thế, trong tinh thần xuất thế đã chứa đựng tinh thần nhập thế:
Phật giáo chủ trương là xuất thế gian, mục đích là giải thoát cho chúng sinh khỏi những đau khổ của cuộc đời là sinh lão bệnh tử, nhưng bản thân đức Phật cũng là một người trần, và cũng trải qua những điều đó mới đi đến tìm được chân lý xuất thế, và cũng đến lúc phải nhập Niết bàn (chết).
Để giáo lý (xuất thế) đến được với mọi người, để mọi người tìm thấy con đường giải thoát, giáo lý xuất thế đó không xa lạ với người trần thế, mà là phương tiện để người trần thế nương vào tìm đến một lúc nào đó khi phù hợp (đủ nghiệp duyên) sẽ xuất thế.
- Tính tương hóa: nhập thế đến một điểm nào đó sẽ xuất thế, và xuất thế đến một điểm nào đó sẽ trở thành nhập thế.
Đức Phật vốn trong hằng hà sa số kiếp trước đó đã là Phật (xuất thế), nhưng để độ được chúng sanh Ngài phải nhập thế (thái tử Tất đạt đa được sinh ra).
Sinh ra trong cõi ta bà để độ chúng sinh, đến một lúc nào đó, giáo pháp đã truyền khắp và tín đồ của đức Phật đủ để tiếp tục con đường giải thoát cho chúng sanh, không còn cần sự có mặt của người nữa (qua sự kiện đức Phật hỏi Anan), đức Phật đã xuất thế (nhập Niết bàn)
- Tính hướng hòa: tính dung hòa giữa nhập thế và xuất thế, Phật giáo càng về sau càng mở rộng giáo luật (Đại thừa), phát huy tinh thần nhập thế phù hợp với tôn giáo, tín ngưỡng ở nơi nào Phật giáo truyền đến chính là vì mục tiêu hướng tới cái đẹp, cái giải thoát (xuất thế)
Bài tập 2: Vận dụng PP Dịch lý để phân tích và lập cấu trúc cho đề tài đã chọn
Xác định từ khóa: Danh từ trung tâm: Tinh thần nhập thế
Định tố 1: Phật giáo Việt Nam
Định tố 2: Lễ hằng thuận
Lập cấu trúc:

Bài tập 1: Xác định mâu thuẫn, vận dụng phương pháp dịch lý kiểm tra
Xác định mâu thuẫn:
Mâu thuẫn 1: Mâu thuẫn giữa tinh thần xuất thế và nhập thế trong giáo lý Phật giáo
Hệ tọa độ: Không gian: Việt Nam
Chủ thể: Đạo Phật
Thời gian: thời hiện đại
Vận dụng phương pháp dịch lý kiểm tra:
- Tính tương hiện: trong tinh thần nhập thế đã có tinh thần xuất thế, trong tinh thần xuất thế đã chứa đựng tinh thần nhập thế:
Phật giáo chủ trương là xuất thế gian, mục đích là giải thoát cho chúng sinh khỏi những đau khổ của cuộc đời là sinh lão bệnh tử, nhưng bản thân đức Phật cũng là một người trần, và cũng trải qua những điều đó mới đi đến tìm được chân lý xuất thế, và cũng đến lúc phải nhập Niết bàn (chết).
Để giáo lý (xuất thế) đến được với mọi người, để mọi người tìm thấy con đường giải thoát, giáo lý xuất thế đó không xa lạ với người trần thế, mà là phương tiện để người trần thế nương vào tìm đến một lúc nào đó khi phù hợp (đủ nghiệp duyên) sẽ xuất thế.
- Tính tương hóa: nhập thế đến một điểm nào đó sẽ xuất thế, và xuất thế đến một điểm nào đó sẽ trở thành nhập thế.
Đức Phật vốn trong hằng hà sa số kiếp trước đó đã là Phật (xuất thế), nhưng để độ được chúng sanh Ngài phải nhập thế (thái tử Tất đạt đa được sinh ra).
Sinh ra trong cõi ta bà để độ chúng sinh, đến một lúc nào đó, giáo pháp đã truyền khắp và tín đồ của đức Phật đủ để tiếp tục con đường giải thoát cho chúng sanh, không còn cần sự có mặt của người nữa (qua sự kiện đức Phật hỏi Anan), đức Phật đã xuất thế (nhập Niết bàn)
- Tính hướng hòa: tính dung hòa giữa nhập thế và xuất thế, Phật giáo càng về sau càng mở rộng giáo luật (Đại thừa), phát huy tinh thần nhập thế phù hợp với tôn giáo, tín ngưỡng ở nơi nào Phật giáo truyền đến chính là vì mục tiêu hướng tới cái đẹp, cái giải thoát (xuất thế)
Bài tập 2: Vận dụng PP Dịch lý để phân tích và lập cấu trúc cho đề tài đã chọn
Xác định từ khóa: Danh từ trung tâm: Tinh thần nhập thế
Định tố 1: Phật giáo Việt Nam
Định tố 2: Lễ hằng thuận
Lập cấu trúc:








