Ảnh hưởng của Bà la Môn giáo đến nghệ thuật đền tháp Chăm
Bài tập sửa:
1. Bài tập thực hành 1
1.1. Chọn cho mình 1 đề tài.
1.2. Xác định (các) mâu thuẫn (các cặp phạm trù đối lập) trong ĐT.
1.3. Vận dụng PPDL để NC (từng) cặp đối lập đó (Kiểm tra tính tương hiện, Kiểm tra tính tương hóa, Kiểm tra tính hướng hòa,...)
1.1. Tên đề tài: Ảnh hưởng của Bà La Môn giáo đến đền tháp Chăm
1.2. Xác định mâu thuẫn: Mâu thuẫn xảy ra trong đề tài: Bản chất của văn hóa Bà La Môn với cơ tầng văn hóa bản địa của người Chăm. Mâu thuẫn giữa việc giữ sự ổn định (-) trong văn hóa truyền thống Chăm với việc tiếp nhận cái mới (+) (Bà La Môn giáo). Làm thế nào để cả hai có thể tồn tại hài hòa với nhau mà không xảy ra xung đột?
1.3. Vận dụng PPDL để NC (từng) cặp đối lập đó (Kiểm tra tính tương hiện, kiểm tra tính tương hóa, kiểm tra tính hướng hòa,...)
1.3.1. Kiểm tra tính tương hiện
- Không phải mọi yếu tố văn hóa du nhập từ Bà La Môn giáo (Ấn Độ) đều là xấu, áp đặt và nhất thiết phải bài trừ mà còn có những nét đẹp cần tiếp thu. Từ đó tránh cái nhìn một chiều, tùy vào từng trường hợp, hoàn cảnh cụ thể mà nhận nhận chính xác vấn đề, trong âm có dương, trong dương có âm.
- Trong sự ổn định của văn hóa bản địa Chăm (-) vẫn có những mong muốn tiếp thu cái mới, cái hay của Bà La Môn giáo (+) để làm đẹp, làm phong phú hơn nền văn hóa Chăm.
- Thể hiện tính linh hoạt của người Chăm trong việc tiếp nhận Bà La Môn một cách hòa bình, tự nguyện, không cưỡng ép.
1.3.2. Kiểm tra tính tương hóa
- Khi tiếp nhận những yếu tố du nhập từ bên ngoài (+) (Ấn Độ), người Chăm không những mất đi những yếu tố văn hóa bản địa của mình, mà khi có sự kết hợp đó càng làm cho nó trở nên đẹp hơn, hài hòa hơn (-).
- Bà Là Môn giáo muốn “sống” được khi du nhập vào Champa cần phải linh hoạt thay đổi cho phù hợp với văn hóa bản địa. Mặt khác, Champa cũng cần có sự chọn lọc những gì tiếp nhận được và những gì không thể tiếp nhận.
1.3.3. Kiểm tra tính hướng hòa
- Suốt hơn 12 thế kỷ tồn tại, người Chăm liên tục lấy các tôn giáo Ấn Độ làm tôn giáo của mình (Giai đoạn sau Champa tiếp nhận thêm Hồi giáo và bản địa hoá thành Bàni giáo). Champa không kỳ thị tôn giáo mà tiếp thu nhiều giáo phái Ấn Độ một cách hoà bình và tự nguyện. Bao trùm lên suốt quá trình lịch sử tồn tại của mình là hỗn dung của các giáo phái Ấn Độ .Văn hóa ChamPa tiếp nhận tất cả.
- Bà La Môn giáo ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tâm linh của người Chăm, tạo nên bản sắc văn hóa Chăm vừa mang tính văn hóa tôn giáo Ấn Độ vừa mang màu sắc văn hóa Đông Nam Á.
1.3.4. Mở rộng
- Tăng cường hoạt động nghiên cứu về lĩnh vực này.
- Đưa ra giải pháp khắc phục và tu bổ những công trình đã và đang bị xuống cấp, mai một.
- Gìn giữ và phát huy những yếu tố tốt đẹp, tận dụng vào công tác quảng bá hình ảnh du lịch dịch vụ của địa phương.
2. Bài tập thực hành 2: Vận dụng phương pháp dịch lý để phân tích và lập cấu trúc của đề tài: "Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến nghệ thuật đền tháp Chăm"
2.1. Phân tích đề tài
- Các từ khóa: "Ảnh hưởng”, “Bà La Môn giáo", "đền tháp Chăm"
- Cấu trúc ngữ pháp: Cụm danh từ trung tâm: "Đền tháp Chăm"
Định tố 1: “đền tháp”. Định tố 2: “Chăm”
2.2. Phân tích cấu trúc đề tài
- Định vị đối tượng nghiên cứu: Các cấp độ:
Cấp độ 0: Lĩnh vực nghiên cứu: Văn hóa tôn giáo
Cấp độ 1: Chủ thể: Người Chăm
Cấp độ 3: Không gian: Chỉ khảo sát ảnh hưởng của Bà La Môn giáo trên đền tháp Chăm.
Cấp độ 4: Thời gian: Quá khứ (khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XIII, thời gian cực thịnh của vương quốc Cham Pa).
2.3. Lập cấu trúc đề tài

6. Bài tập thực hành 6: Chọn một khái niệm cơ bản (chìa khóa) trong đề tài nghiên cứu của mình. Định nghĩa Tháp.
- Lập bảng và trình bày theo 7 bước
- Lập sơ đồ định nghĩa
6.1. Tìm tất cả các định nghĩa hiện có
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam:
THÁP: là công trình xây dựng có chiều cao thường lớn hơn chiều ngang hoặc có dạng chóp để phục vụ nhiều chức năng khác nhau như canh gác, làm biểu tượng, tạo cho âm thanh phát đi xa, tạo khả năng nhìn từ xa, tạo khả năng phát sóng đi xa, vv.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tháp là một công trình kiến trúc có chiều cao lớn hơn chiều ngang, có hình dáng: Hình trụ đứng,dạng hình nón...và các dạng hình khác nhằm mục đích quan sát rộng, có thể nhìn thấy từ xa, tạo ra âm thanh phát đi xa hoặc phát sóng xa.
Theo từ điển: http://vdict.com thì: Tháp là công trình xây dựng cao, tròn hay vuông, thường ở đền, chùa..
6.2. Phân tích từng định nghĩa theo yêu cầu của định nghĩa

6.3. Phân loại định nghĩa, xác định những nét chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/thiếu cần bổ sung, sửa chữa.
Đặc trưng giống: Các định nghĩa trên đưa ra đặc trưng tháp là “công trình”. Tuy nhiên, định nghĩa đầu tiên thì coi tháp là “công trình xây dựng”, định nghĩa thứ 2 coi tháp là “công trình kiến trúc”, định nghĩa thứ 3 coi tháp là “công trình xây dựng cao”. à không có sự đồng bộ. Có thể tựu trung đặc trung giống: Tháp là “công trình kiến trúc”.
Đặc trưng loài: “chiều cao lớn hơn chiều ngang ngang hoặc có dạng chóp để phục vụ nhiều chức năng khác nhau như canh gác, làm biểu tượng, tạo cho âm thanh phát đi xa, tạo khả năng nhìn từ xa, tạo khả năng phát sóng đi xa, vv.”(1)
“có chiều cao lớn hơn chiều ngang, có hình dáng: Hình trụ đứng,dạng hình nón...và các dạng hình khác nhằm mục đích quan sát rộng, có thể nhìn thấy từ xa, tạo ra âm thanh phát đi xa hoặc phát sóng xa”.(2) “tròn hay vuông, thường ở đền, chùa..”(3)
Có thể tiếp thu đặc trưng giống là “công trình kiến trúc”. Đặc trưng loài cần phải chỉnh sửa lại.
6.4. Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả (3) để điều chỉnh bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng
Ở thế giới có Kim tự tháp (Ai Cập) dùng để chon xác ướp của các pharaong, tháp Eiffel ở Pháp kỷ niệm 100 năm cuộc cách mạng 1789.
Ở Ấn Độ, tháp là nơi đựng tro di hài của Phật hay của sư tổ trụ trì chùa, bắt nguồn và biến thể từ kiến trúc stupa.
Ở Việt Nam, có tháp Chăm, tháp Phổ Minh, tháp Thiên Mụ… dùng phục vụ cho nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của người dân.
6.5. Xác định đặc trưng giống
Là một công trình kiến trúc.
6.6. Xác định các đặc trưng loài cho phép khu biệt khái niệm được định nghĩa với các khái niệm cùng bậc
- Chùa: Phật giáo
- Nhà thờ: Thiên chúa giáo, Tin lành.
- Thánh đường: Hồi giáo
Tháp có đặc trưng loài rộng hơn các khái niệm trên.
Sản phẩm sơ bộ: “Tháp là công trình kiến trúc do con người xây dựng nhằm phục vụ nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của mình”.
6.7. Lập sơ đồ cấu trúc để kiểm tra định nghĩa

Sản phẩm cuối: Tháp là một công trình kiến trúc được con người xây dựng nhằm phục vụ nhu cầu văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của mình.
8. Bài tập thực hành 8: Vận dụng phương pháp loại hình, so sánh nghệ thuật điêu khắc Chăm với nghệ thuật điêu khắc thời Lý nhằm tìm ra tri thức mới.
Lập bảng:

Với việc dùng phương pháp loại hình, tôi chọn nội dung trong đề tài là Nghệ thuật điêu khắc Chăm để so sánh với Nghệ thuật điêu khắc Đại Việt (thời Lý). Tuy về đối tượng, đặc điểm, tính chất có thể khác nhau nhưng hóa ra cũng có nhiều điểm tương đồng, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.
Ở điêu khắc Chăm, nổi bật nhất ngoài đề tài các vị thần trong Ấn Độ giáo, thì hình ảnh của người phụ nữ cũng rất nổi bật. Tượng vũ nữ Apsara là một ví dụ, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, đề tài về người vũ nữ Apsara vẫn là một đề tài hấp dẫn, và luôn được sáng tạo, đổi mới cho đẹp hơn. Bên cạnh đó thì biểu tượng Linga – Yoni cũng xuất hiện rất nhiều, phong phú về hình dáng và kích thức, thể hiện rõ nét tính ngưỡng phồn thực, tiêu biểu cho loại hình văn hóa nông nghiệp lúa nước, trọng phụ nữ, dung hòa với thiên nhiên.
Điêu khắc thời Lý tinh vi và cân đối, ngoài ra cũng chịu ảnh hưởng Chăm. Những hình trang trí trên mặt của Chương Sơn có bố cục, dáng điệu và hình thể gần với điêu khắc Chăm, nhưng cách biểu hiện khuôn mặt lại thuần Việt. Đề tài thường là thiên nhiên như mây, nước, hoa sen, hoa cúc và đặc biệt là hình tượng con rồng với nhiều nếp cong mềm mại tượng trưng cho nguồn nước, niềm mơ ước cho cư dân trồng lúa nước. Nghệ thuật điêu khắc thời Lý không những tiếp thu nghệ thuật Trung Hoa mà còn của ChamPa (nhạc công và vũ nữ, hình tượng chim thần Garuda…)
Như vậy có thể nhận định rằng, tuy đặc điểm, hình thức thể hiện có khác nhau, nhưng vẫn có một mối liên hệ, tiếp thu trong nghệ thuật điêu khắc giữa Chăm và thời Lý. Sở dĩ có mối liên hệ gần gũi này là do giữa Việt và Chăm có mối quan hệ về không gian, Đại Việt và Cham Pa là hai nước láng giềng nên sự tiếp xúc, giao thoa văn hóa cũng là điều dễ hiểu. Mảng đề tài của cả hai điều gần gũi với thiên nhiên, mơ ước sự sinh sôi nảy nở, mong mỏi mưa thuận gió hòa, coi trọng thiên nhiên. Tất cả đã nói lên cả điêu khắc Chăm và điêu khắc thời Lý đều chịu ảnh hưởng của loại hình văn hóa nông nghiệp lúa nước điển hình.
Như vậy, so sánh nghệ thuật điêu khắc Chăm và nghệ thuật điêu khắc thời Lý, ta thấy tuy có những điểm khác nhau về đối tượng cũng như đặc điểm. Nhưng do có chung đặc trưng loại hình văn hóa gốc nông nghiệp nên cả hai đều có những điểm giống nhau. Tuy tiếp xúc với 2 nền văn minh lớn là Ấn Độ và Trung Hoa nhưng của Đại Việt và Cham Pa vẫn giữ được những yếu tố truyền thống của dân tộc mình, điều đó thể hiện rõ trong nghệ thuật điêu khắc.
1. Bài tập thực hành 1
1.1. Chọn cho mình 1 đề tài.
1.2. Xác định (các) mâu thuẫn (các cặp phạm trù đối lập) trong ĐT.
1.3. Vận dụng PPDL để NC (từng) cặp đối lập đó (Kiểm tra tính tương hiện, Kiểm tra tính tương hóa, Kiểm tra tính hướng hòa,...)
1.1. Tên đề tài: Ảnh hưởng của Bà La Môn giáo đến đền tháp Chăm
1.2. Xác định mâu thuẫn: Mâu thuẫn xảy ra trong đề tài: Bản chất của văn hóa Bà La Môn với cơ tầng văn hóa bản địa của người Chăm. Mâu thuẫn giữa việc giữ sự ổn định (-) trong văn hóa truyền thống Chăm với việc tiếp nhận cái mới (+) (Bà La Môn giáo). Làm thế nào để cả hai có thể tồn tại hài hòa với nhau mà không xảy ra xung đột?
1.3. Vận dụng PPDL để NC (từng) cặp đối lập đó (Kiểm tra tính tương hiện, kiểm tra tính tương hóa, kiểm tra tính hướng hòa,...)
1.3.1. Kiểm tra tính tương hiện
- Không phải mọi yếu tố văn hóa du nhập từ Bà La Môn giáo (Ấn Độ) đều là xấu, áp đặt và nhất thiết phải bài trừ mà còn có những nét đẹp cần tiếp thu. Từ đó tránh cái nhìn một chiều, tùy vào từng trường hợp, hoàn cảnh cụ thể mà nhận nhận chính xác vấn đề, trong âm có dương, trong dương có âm.
- Trong sự ổn định của văn hóa bản địa Chăm (-) vẫn có những mong muốn tiếp thu cái mới, cái hay của Bà La Môn giáo (+) để làm đẹp, làm phong phú hơn nền văn hóa Chăm.
- Thể hiện tính linh hoạt của người Chăm trong việc tiếp nhận Bà La Môn một cách hòa bình, tự nguyện, không cưỡng ép.
1.3.2. Kiểm tra tính tương hóa
- Khi tiếp nhận những yếu tố du nhập từ bên ngoài (+) (Ấn Độ), người Chăm không những mất đi những yếu tố văn hóa bản địa của mình, mà khi có sự kết hợp đó càng làm cho nó trở nên đẹp hơn, hài hòa hơn (-).
- Bà Là Môn giáo muốn “sống” được khi du nhập vào Champa cần phải linh hoạt thay đổi cho phù hợp với văn hóa bản địa. Mặt khác, Champa cũng cần có sự chọn lọc những gì tiếp nhận được và những gì không thể tiếp nhận.
1.3.3. Kiểm tra tính hướng hòa
- Suốt hơn 12 thế kỷ tồn tại, người Chăm liên tục lấy các tôn giáo Ấn Độ làm tôn giáo của mình (Giai đoạn sau Champa tiếp nhận thêm Hồi giáo và bản địa hoá thành Bàni giáo). Champa không kỳ thị tôn giáo mà tiếp thu nhiều giáo phái Ấn Độ một cách hoà bình và tự nguyện. Bao trùm lên suốt quá trình lịch sử tồn tại của mình là hỗn dung của các giáo phái Ấn Độ .Văn hóa ChamPa tiếp nhận tất cả.
- Bà La Môn giáo ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tâm linh của người Chăm, tạo nên bản sắc văn hóa Chăm vừa mang tính văn hóa tôn giáo Ấn Độ vừa mang màu sắc văn hóa Đông Nam Á.
1.3.4. Mở rộng
- Tăng cường hoạt động nghiên cứu về lĩnh vực này.
- Đưa ra giải pháp khắc phục và tu bổ những công trình đã và đang bị xuống cấp, mai một.
- Gìn giữ và phát huy những yếu tố tốt đẹp, tận dụng vào công tác quảng bá hình ảnh du lịch dịch vụ của địa phương.
2. Bài tập thực hành 2: Vận dụng phương pháp dịch lý để phân tích và lập cấu trúc của đề tài: "Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến nghệ thuật đền tháp Chăm"
2.1. Phân tích đề tài
- Các từ khóa: "Ảnh hưởng”, “Bà La Môn giáo", "đền tháp Chăm"
- Cấu trúc ngữ pháp: Cụm danh từ trung tâm: "Đền tháp Chăm"
Định tố 1: “đền tháp”. Định tố 2: “Chăm”
2.2. Phân tích cấu trúc đề tài
- Định vị đối tượng nghiên cứu: Các cấp độ:
Cấp độ 0: Lĩnh vực nghiên cứu: Văn hóa tôn giáo
Cấp độ 1: Chủ thể: Người Chăm
Cấp độ 3: Không gian: Chỉ khảo sát ảnh hưởng của Bà La Môn giáo trên đền tháp Chăm.
Cấp độ 4: Thời gian: Quá khứ (khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XIII, thời gian cực thịnh của vương quốc Cham Pa).
2.3. Lập cấu trúc đề tài

6. Bài tập thực hành 6: Chọn một khái niệm cơ bản (chìa khóa) trong đề tài nghiên cứu của mình. Định nghĩa Tháp.
- Lập bảng và trình bày theo 7 bước
- Lập sơ đồ định nghĩa
6.1. Tìm tất cả các định nghĩa hiện có
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam:
THÁP: là công trình xây dựng có chiều cao thường lớn hơn chiều ngang hoặc có dạng chóp để phục vụ nhiều chức năng khác nhau như canh gác, làm biểu tượng, tạo cho âm thanh phát đi xa, tạo khả năng nhìn từ xa, tạo khả năng phát sóng đi xa, vv.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tháp là một công trình kiến trúc có chiều cao lớn hơn chiều ngang, có hình dáng: Hình trụ đứng,dạng hình nón...và các dạng hình khác nhằm mục đích quan sát rộng, có thể nhìn thấy từ xa, tạo ra âm thanh phát đi xa hoặc phát sóng xa.
Theo từ điển: http://vdict.com thì: Tháp là công trình xây dựng cao, tròn hay vuông, thường ở đền, chùa..
6.2. Phân tích từng định nghĩa theo yêu cầu của định nghĩa

6.3. Phân loại định nghĩa, xác định những nét chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/thiếu cần bổ sung, sửa chữa.
Đặc trưng giống: Các định nghĩa trên đưa ra đặc trưng tháp là “công trình”. Tuy nhiên, định nghĩa đầu tiên thì coi tháp là “công trình xây dựng”, định nghĩa thứ 2 coi tháp là “công trình kiến trúc”, định nghĩa thứ 3 coi tháp là “công trình xây dựng cao”. à không có sự đồng bộ. Có thể tựu trung đặc trung giống: Tháp là “công trình kiến trúc”.
Đặc trưng loài: “chiều cao lớn hơn chiều ngang ngang hoặc có dạng chóp để phục vụ nhiều chức năng khác nhau như canh gác, làm biểu tượng, tạo cho âm thanh phát đi xa, tạo khả năng nhìn từ xa, tạo khả năng phát sóng đi xa, vv.”(1)
“có chiều cao lớn hơn chiều ngang, có hình dáng: Hình trụ đứng,dạng hình nón...và các dạng hình khác nhằm mục đích quan sát rộng, có thể nhìn thấy từ xa, tạo ra âm thanh phát đi xa hoặc phát sóng xa”.(2) “tròn hay vuông, thường ở đền, chùa..”(3)
Có thể tiếp thu đặc trưng giống là “công trình kiến trúc”. Đặc trưng loài cần phải chỉnh sửa lại.
6.4. Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả (3) để điều chỉnh bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng
Ở thế giới có Kim tự tháp (Ai Cập) dùng để chon xác ướp của các pharaong, tháp Eiffel ở Pháp kỷ niệm 100 năm cuộc cách mạng 1789.
Ở Ấn Độ, tháp là nơi đựng tro di hài của Phật hay của sư tổ trụ trì chùa, bắt nguồn và biến thể từ kiến trúc stupa.
Ở Việt Nam, có tháp Chăm, tháp Phổ Minh, tháp Thiên Mụ… dùng phục vụ cho nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của người dân.
6.5. Xác định đặc trưng giống
Là một công trình kiến trúc.
6.6. Xác định các đặc trưng loài cho phép khu biệt khái niệm được định nghĩa với các khái niệm cùng bậc
- Chùa: Phật giáo
- Nhà thờ: Thiên chúa giáo, Tin lành.
- Thánh đường: Hồi giáo
Tháp có đặc trưng loài rộng hơn các khái niệm trên.
Sản phẩm sơ bộ: “Tháp là công trình kiến trúc do con người xây dựng nhằm phục vụ nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của mình”.
6.7. Lập sơ đồ cấu trúc để kiểm tra định nghĩa

Sản phẩm cuối: Tháp là một công trình kiến trúc được con người xây dựng nhằm phục vụ nhu cầu văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của mình.
8. Bài tập thực hành 8: Vận dụng phương pháp loại hình, so sánh nghệ thuật điêu khắc Chăm với nghệ thuật điêu khắc thời Lý nhằm tìm ra tri thức mới.
Lập bảng:

Với việc dùng phương pháp loại hình, tôi chọn nội dung trong đề tài là Nghệ thuật điêu khắc Chăm để so sánh với Nghệ thuật điêu khắc Đại Việt (thời Lý). Tuy về đối tượng, đặc điểm, tính chất có thể khác nhau nhưng hóa ra cũng có nhiều điểm tương đồng, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.
Ở điêu khắc Chăm, nổi bật nhất ngoài đề tài các vị thần trong Ấn Độ giáo, thì hình ảnh của người phụ nữ cũng rất nổi bật. Tượng vũ nữ Apsara là một ví dụ, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, đề tài về người vũ nữ Apsara vẫn là một đề tài hấp dẫn, và luôn được sáng tạo, đổi mới cho đẹp hơn. Bên cạnh đó thì biểu tượng Linga – Yoni cũng xuất hiện rất nhiều, phong phú về hình dáng và kích thức, thể hiện rõ nét tính ngưỡng phồn thực, tiêu biểu cho loại hình văn hóa nông nghiệp lúa nước, trọng phụ nữ, dung hòa với thiên nhiên.
Điêu khắc thời Lý tinh vi và cân đối, ngoài ra cũng chịu ảnh hưởng Chăm. Những hình trang trí trên mặt của Chương Sơn có bố cục, dáng điệu và hình thể gần với điêu khắc Chăm, nhưng cách biểu hiện khuôn mặt lại thuần Việt. Đề tài thường là thiên nhiên như mây, nước, hoa sen, hoa cúc và đặc biệt là hình tượng con rồng với nhiều nếp cong mềm mại tượng trưng cho nguồn nước, niềm mơ ước cho cư dân trồng lúa nước. Nghệ thuật điêu khắc thời Lý không những tiếp thu nghệ thuật Trung Hoa mà còn của ChamPa (nhạc công và vũ nữ, hình tượng chim thần Garuda…)
Như vậy có thể nhận định rằng, tuy đặc điểm, hình thức thể hiện có khác nhau, nhưng vẫn có một mối liên hệ, tiếp thu trong nghệ thuật điêu khắc giữa Chăm và thời Lý. Sở dĩ có mối liên hệ gần gũi này là do giữa Việt và Chăm có mối quan hệ về không gian, Đại Việt và Cham Pa là hai nước láng giềng nên sự tiếp xúc, giao thoa văn hóa cũng là điều dễ hiểu. Mảng đề tài của cả hai điều gần gũi với thiên nhiên, mơ ước sự sinh sôi nảy nở, mong mỏi mưa thuận gió hòa, coi trọng thiên nhiên. Tất cả đã nói lên cả điêu khắc Chăm và điêu khắc thời Lý đều chịu ảnh hưởng của loại hình văn hóa nông nghiệp lúa nước điển hình.
Như vậy, so sánh nghệ thuật điêu khắc Chăm và nghệ thuật điêu khắc thời Lý, ta thấy tuy có những điểm khác nhau về đối tượng cũng như đặc điểm. Nhưng do có chung đặc trưng loại hình văn hóa gốc nông nghiệp nên cả hai đều có những điểm giống nhau. Tuy tiếp xúc với 2 nền văn minh lớn là Ấn Độ và Trung Hoa nhưng của Đại Việt và Cham Pa vẫn giữ được những yếu tố truyền thống của dân tộc mình, điều đó thể hiện rõ trong nghệ thuật điêu khắc.