Bài tập 5: Lập bảng
Bảng về sự thể hiện trong nội dung của truyện tranh Nhật Bản qua các thời kỳ

Bài tập 6: Lập định nghĩa
Định nghĩa cho “tôn giáo”
1. Tìm tất cả định nghĩa hiện có về “tôn giáo”:
[1] Theo Từ điển tiếng Việt (Nguyễn Văn Xô chủ biên, NXB Trẻ, 1999)- Tôn giáo: hệ thống những quan niệm tín ngưỡng về một hay những vị thần nào đó và những hình thức lễ nghi biểu hiện sự sùng bái đó; đạo.
[2] Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội: Tôn giáo là sự công nhận một sức mạnh được coi là thiêng liêng quyết định một hệ thống ý nghĩa và tư tưởng của con người về số phận của mình trong và sau cuộc đời hiện tại, do đó quyết định phần nào hệ thống đạo đức, đồng thời thể hiện bằng những tập quán lễ nghi tỏ thái độ tin tưởng và tôn sùng sức mạnh đó.
[3] The Oxford modern English Dictionary – religion: (1) belief in a superhuman controlling power, esp. in a personal God or Gods entitled to obedience and worship: niềm tin vào quyền năng siêu nhiên, đặc biệt tin vào một (hoặc vài) vị thần/thánh và tôn thờ họ. (2) expression of this in worship: biểu hiện của (1) trong việc thờ phụng. (3) particular system of faith and worship: hệ thống đức tin và sự thờ phụng. (4) life under monastic: đời sống tu hành, sự thoát tục
[4] Wikipedia: Tôn giáo thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó.
[5] Free Online Dictonary – religion: Belief in and reverence for a supernatural power or powers regarded as creator and governor of the universe: sự tin tưởng và tôn kính đối với một sức mạnh siêu nhiên, quyền hạn được coi là đã sáng tạo ra vũ trụ.
[6] Dictionary.com – religion: a set of beliefs concerning the cause, nature, and purpose of the universe, especially when considered as the creation of a superhuman agency or agencies, usually involving devotional and ritual observances, and often containing a moral code governing the conduct of human affairs: hệ thống niềm tin vào sự hình thành, bản chất và mục đích của vũ trụ, đặc biệt xem vũ trụ là sản phẩm của một thế lực siêu nhiên; thường liên quan đến việc tuân thủ đạo đức và lễ nghi, bao gồm các điều luật chi phối hoạt động, ứng xử của con người.
[7] K.Marx, “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Heghen”: Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa (…) Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.
[8] F. Engels: tất cả các tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.
2. Phân tích:
[1]: chưa nêu đủ đặc trưng của tôn giáo
[2]: nói tôn giáo chỉ liên quan đến vấn đề số phận con người là chưa đủ
[3]: chỉ nêu khái quát nên chưa đủ
[4], [5]: nói tôn giáo chỉ liên quan đến niềm tin vào thần thánh và các lễ nghi chỉ mới nói lên 1 phần của tôn giáo
[6]: tôn giáo không chỉ nói đến sự hình thành và bản chất của vũ trụ hay “sáng thế”, mà còn liên quan đến các quan niệm về số phận con người…
[7], [8]: nhìn tôn giáo trên bình diện tâm lý; khá khó hiểu
3. Phân loại và tìm điểm chung
- Đặc trưng giống: hệ thống quan niệm/niềm tin: [1], [2], [3], [4], [5], [6]; một dạng của ý thức [7], [8]
- Đặc trưng loài:
+ thế lực siêu nhiên: [1], [3], [4], [5], [6]
+ số mệnh con người: [2]
+ chấp nhận trong ý thức con người: [7], [8]
+ hệ thống lễ nghi, điều luật trong thờ phụng và trong cuộc sống: [1], [2], [4], [6]
4. Các cách sử dụng hiện có:
- Đạo: từ này xuất xứ từ Trung Hoa, tuy nhiên “đạo” không hẳn đồng nghĩa với tôn giáo vì bản thân từ đạo cũng có thể có ý nghĩa phi tôn giáo. “Đạo” có thể hiểu là con đường, học thuyết. Mặt khác, “đạo” cũng có thể hiểu là cách ứng xử làm người: đạo vợ chồng, đạo cha con, đạo thầy trò… Vì vậy khi sử dụng từ “đạo” với ý nghĩa tôn giáo thường phải đặt tên tôn giáo đó sau từ “đạo”. Ví dụ: đạo Phật, đạo Kitô…
- Giáo: từ này có ý nghĩa tôn giáo khi nó đứng sau tên một tôn giáo cụ thể. Chẳng hạn: Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo… “Giáo” ở đây là giáo hóa, dạy bảo theo đạo lý của tôn giáo. Tuy nhiên “giáo” ở đây cũng có thể được hiểu với nghĩa phi tôn giáo là lời dạy của thầy dạy học.
- Thờ: đây có lẽ là từ thuần Việt cổ nhất. Thờ có ý bao hàm một hành động biểu thị sự sùng kính một đấng siêu linh: thần thánh, tổ tiên… đồng thời có ý nghĩa như cách ứng xử với bề trên cho phải đạo như thờ vua, thờ cha mẹ, thờ thầy hay một người nào đó mà mình mang ơn… Thờ thường đi đôi với cúng, cúng cũng có nhiều nghĩa: vừa mang tính tôn giáo, vừa mang tính thế tục. Cúng theo ý nghĩa tôn giáo có thể hiểu là tế, tiến dâng, cung phụng, vật hiến tế… Ở Việt Nam, cúng có nghĩa là dâng lễ vật cho các đấng siêu linh, cho người đã khuất nhưng cúng với ý nghĩa trần tục cũng có nghĩa là đóng góp cho việc công ích, việc từ thiện… Tuy nhiên, từ ghép “thờ cúng” chỉ dành riêng cho các hành vi và nội dung tôn giáo. Đối với người Việt, tôn giáo theo thuật ngữ thuần Việt là thờ hay thờ cúng hoặc theo các từ gốc Hán đã trở thành phổ biến là đạo, là giáo.
- Tôn giáo cách ly: tại một số quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Việt Nam... hiến pháp cách ly tôn giáo và nhà nước. Các quốc gia này thường cho phép người dân tự do tín ngưỡng, nhưng không công nhận bất cứ tôn giáo nào để khỏi bị xem là thiên vị.
- Quốc giáo: Một số quốc gia có một quốc giáo, một tôn giáo được nhà nước công nhận là chính thức và nhận thuế từ dân, tuy nhiên người dân vẫn được phép tự do tín ngưỡng. Trong các nước này gồm có một số nước Hồi giáo, Công giáo và những nước như Thái Lan (Phật giáo), Anh (Anh giáo). Tuy nhiên, các viên chức quốc giáo không có địa vị quan trọng trong chính quyền, trừ quốc trưởng.
- Thần quyền: Tại một số quốc gia, điển hình là Iran và Tòa thánh Vatican, tôn giáo và chính quyền là một. Các viên chức quan trọng trong tôn giáo cũng là viên chức trong chính quyền.
- Không tôn giáo là không có niềm tin tôn giáo, thờ ơ với tôn giáo, hoặc chống đối tôn giáo. Tùy thuộc vào ngữ cảnh, thuyết không tôn giáo có thể được hiểu như là thuyết vô thần, thuyết bất khả tri, thuyết hoài nghi, thuyết tư tưởng tự do, hay thuyết nhân văn thế tục.
5. Xác định đặc trưng giống: hệ thống quan niệm, niềm tin
6. Xác định đặc trưng loài:
- Thế lực siêu nhiên (phân biệt với những gì có thực)
- Số mệnh con người (tin rằng cuộc đời con người đã được sắp xếp trước, thật ra tin vào điều này tức là tin vào thế lực siêu nhiên nên có thể gộp chung)
- Được chấp nhận trong ý thức con người (tức là không cần có cơ sở thực tế)
- Hệ thống lễ nghi, điều luật trong thờ phụng và cuộc sống
Sản phẩm sơ bộ: Tôn giáo là hệ thống quan niệm, niềm tin của con người vào thế lực siêu nhiên, được chấp nhận trong ý thức con người, bao gồm hệ thống lễ nghi, điều luật trong thờ phụng và chi phối hoạt động, cuộc sống con người.
7. Lập sơ đồ kiểm tra
