VĂN HOÁ TRÀ VIỆT THỜI HỘI NHẬP
Đề tài được chuyển từ chuyên mục " Những vấn đề chung".
Bài tập thực hành 1:.
1. Xác định từ khoá:
- Văn hoá Trà Việt ( Việt Nam).
- Trà ( chè ).
- Thời hội nhập.
2.- Các cặp đối lập mâu thuẩn:
- Trà ( chè ) là hệ thống hữu cơ những giá trị: vật chất và tinh thần.
- Thị hiếu uống trà biến đổi theo tầng lớp dân cư:
+ Lớp tuổi già - tuổi trẻ.
+ Lớp lao động cơ bắp - Lao động trí óc.
+ Lớp cư dân thành thị và nông thôn.
- Thưởng thức trà gồm : Hướng nội ( tĩnh tâm ) - Hướng ngoại ( động) để giao tiếp.
- Đời sống văn hóa tâm linh( thiêng liêng) - Cuộc sống sinh hoạt đời thường.
3.- Phương pháp Dịch lý:
3.1: Tính Tương hiện:
- Mỗi vùng miền có cách thưởng trà riêng.Người miền nam thích uống trà có ướp hoa sen, hoa nhài để hưởng trọn nồng đượm của hương vhoa kết hợp với cái thanh mát của trà và đặc biệt thích dùng trà đá. Trong khi đó, người miền Bắc lại thích dùng trà nguyên chất và uống nóng. Còn cách thưởng trà của người miền Trung lại là sự giao thoa, kết hợp của hai miền Nam Bắc.
- Trà là một loại nước giải khát đáp ứng nhu cầu cơ bản của đời sống của con người; là một cây, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường xoá đói giảm nghèo; Hơn nữa, Trà còn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt như là một phong tục, tập quán, tín ngưỡng.( trà đức, trà đạo, trà thiền).
3.2: Tính Tương hoá:
- Trà Việt do con người Việt Nam sáng tạo và tích luỹ trong quá trình sản xuất, bị tác động của môi trường tự nhiên và quá trình tiêu dùng giao tiếp trong môi trường xã hội tạo thành nét đặc trưng của trà Việt, một thành tố của văn hóa ẩm thực của người Việt Nam.
- Người Việt xem việc thưởng thức trà việc uống trà như một phong tục, tạo ra một khoảnh khắc thư giãn để tâm tĩnh lặng. Đồng thời lại có tập quán uống trà như một nghi thức giao tiếp, nét đặc trưng trong Văn hóa giao tiếp của người Việt.
3.3 Tính Hướng hoà:
- Trà Việt gồm ba lớp, tương ứng với nền văn hoá chè bản địa (chè tươi - chè mạn), rồi phát triển trong sự tiếp biến rất đậm nét với nền văn hoá trà khu vực Trung Hoa (trà tàu - trà ô long) và sau đó với nền văn hoá trà phương Tây (trà đen, trà mảnh, trà đá, trà túi). Các lớp Văn hoá trà Việt Nam đan xen lẫn nhau, là sự đan xen của các lớp văn hóa trà cổ kim Đông Tây, theo dân tộc, tâm lý, tín ngưỡng, tôn giáo nhiều màu sắc của xã hội Việt Nam.
- Văn hoá trà Việt là một vận động xã hội, tồn tại và phát triển trong một tọa độ ba chiều: thời gian, không gian và chủ thể con người, trong hệ sinh thái - nhân văn ở trạng thái luôn vận động. Từ một góc thưởng trà Việt giản dị, có thể thấy yếu tố phong thủy trong không gian Việt thiên về sự thiết thực, tiết giảm và thân thiện. Giao hòa Thiên - Địa- Nhân, xem trọng các mối quan hệ giao hòa với tự nhiên và con người.
- Người Việt Nam với lối tư duy tổng hợp trong tinh thần văn hóa truyền thống với đầy đủ mọi đặc tính trọng tình, trọng đức, trọng văn, và đời sống cộng đồng cao độ. Cho nên trong nghệ thuật uống trà, thưởng thức trà, người Việt Nam uyển chuyển nhanh nhạy, bao quát: không quá cầu kỳ, nhưng cũng không quá đơn giản: không quá nghi lễ, nhưng cũng không quá bình dân. Đó là một sự thông thái, kết hợp uyển chuyển để đi đến hoàn hảo, đến trung dung trong nghệ thuật thưởng thức trà.
Bài tập thực hành số 02:
Sơ đồ cấu trúc hệ Đề tài Văn hóa Trà Việt thời hội nhập

+ Điều chỉnh Sơ đồ cấu trúc hệ đề tài:

Bài tập thực hành 1:.
1. Xác định từ khoá:
- Văn hoá Trà Việt ( Việt Nam).
- Trà ( chè ).
- Thời hội nhập.
2.- Các cặp đối lập mâu thuẩn:
- Trà ( chè ) là hệ thống hữu cơ những giá trị: vật chất và tinh thần.
- Thị hiếu uống trà biến đổi theo tầng lớp dân cư:
+ Lớp tuổi già - tuổi trẻ.
+ Lớp lao động cơ bắp - Lao động trí óc.
+ Lớp cư dân thành thị và nông thôn.
- Thưởng thức trà gồm : Hướng nội ( tĩnh tâm ) - Hướng ngoại ( động) để giao tiếp.
- Đời sống văn hóa tâm linh( thiêng liêng) - Cuộc sống sinh hoạt đời thường.
3.- Phương pháp Dịch lý:
3.1: Tính Tương hiện:
- Mỗi vùng miền có cách thưởng trà riêng.Người miền nam thích uống trà có ướp hoa sen, hoa nhài để hưởng trọn nồng đượm của hương vhoa kết hợp với cái thanh mát của trà và đặc biệt thích dùng trà đá. Trong khi đó, người miền Bắc lại thích dùng trà nguyên chất và uống nóng. Còn cách thưởng trà của người miền Trung lại là sự giao thoa, kết hợp của hai miền Nam Bắc.
- Trà là một loại nước giải khát đáp ứng nhu cầu cơ bản của đời sống của con người; là một cây, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường xoá đói giảm nghèo; Hơn nữa, Trà còn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt như là một phong tục, tập quán, tín ngưỡng.( trà đức, trà đạo, trà thiền).
3.2: Tính Tương hoá:
- Trà Việt do con người Việt Nam sáng tạo và tích luỹ trong quá trình sản xuất, bị tác động của môi trường tự nhiên và quá trình tiêu dùng giao tiếp trong môi trường xã hội tạo thành nét đặc trưng của trà Việt, một thành tố của văn hóa ẩm thực của người Việt Nam.
- Người Việt xem việc thưởng thức trà việc uống trà như một phong tục, tạo ra một khoảnh khắc thư giãn để tâm tĩnh lặng. Đồng thời lại có tập quán uống trà như một nghi thức giao tiếp, nét đặc trưng trong Văn hóa giao tiếp của người Việt.
3.3 Tính Hướng hoà:
- Trà Việt gồm ba lớp, tương ứng với nền văn hoá chè bản địa (chè tươi - chè mạn), rồi phát triển trong sự tiếp biến rất đậm nét với nền văn hoá trà khu vực Trung Hoa (trà tàu - trà ô long) và sau đó với nền văn hoá trà phương Tây (trà đen, trà mảnh, trà đá, trà túi). Các lớp Văn hoá trà Việt Nam đan xen lẫn nhau, là sự đan xen của các lớp văn hóa trà cổ kim Đông Tây, theo dân tộc, tâm lý, tín ngưỡng, tôn giáo nhiều màu sắc của xã hội Việt Nam.
- Văn hoá trà Việt là một vận động xã hội, tồn tại và phát triển trong một tọa độ ba chiều: thời gian, không gian và chủ thể con người, trong hệ sinh thái - nhân văn ở trạng thái luôn vận động. Từ một góc thưởng trà Việt giản dị, có thể thấy yếu tố phong thủy trong không gian Việt thiên về sự thiết thực, tiết giảm và thân thiện. Giao hòa Thiên - Địa- Nhân, xem trọng các mối quan hệ giao hòa với tự nhiên và con người.
- Người Việt Nam với lối tư duy tổng hợp trong tinh thần văn hóa truyền thống với đầy đủ mọi đặc tính trọng tình, trọng đức, trọng văn, và đời sống cộng đồng cao độ. Cho nên trong nghệ thuật uống trà, thưởng thức trà, người Việt Nam uyển chuyển nhanh nhạy, bao quát: không quá cầu kỳ, nhưng cũng không quá đơn giản: không quá nghi lễ, nhưng cũng không quá bình dân. Đó là một sự thông thái, kết hợp uyển chuyển để đi đến hoàn hảo, đến trung dung trong nghệ thuật thưởng thức trà.
Bài tập thực hành số 02:
Sơ đồ cấu trúc hệ Đề tài Văn hóa Trà Việt thời hội nhập

+ Điều chỉnh Sơ đồ cấu trúc hệ đề tài:

.
.
.
.
.