Văn hoá tiếp dân trường hợp trên địa bàn TPHCM
MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ HỌC
GVHD: GS. VS. TSKH Trần Ngọc Thêm
Học viên: Ngô Thị Hồng Quế
Bài tập thực hành 1:
1. Chọn cho mình một phạm vi đề tài.
2. Xác định các cặp phạm trù đối lập, các mâu thuẩn trong đề tài.
3. vận dụng phương pháp dịch lý để nghiên cứu từng cặp đối lập.
Bài làm
1. Đề tài: Văn hoá tiếp dân trường hợp trên địa bàn TPHCM
2. Xác định các cặp phạm trù đối lập (mâu thuẫn):
1. Cán bộ > < nhân dân
2. Phục vụ> < được phục vụ
3. Nghĩa vụ> < Quyền lợi
4. TPHCM> < Tỉnh thành khác
3. Dùng phương pháp dịch lý để nghiên cứu:
Chú ý: trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu trong cán bộ công chức làm việc tại các UBND phường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Xã hội ngày càng phát triển thì người dân muốn mình được phục vụ chu đáo, tận tình. Trong khi cán bộ lại quá thờ ơ đối với họ. Đôi khi họ chưa nghĩ là họ phải làm nhiệm vụ phục vụ công dân thật chu đáo nên có những lời nói xấc xược.
Người dân đến đây với nhu cầu cá nhân, tự nguyện thực hiện theo những yêu cầu của cán bộ nhưng đôi khi vì không hiểu quy trình làm việc của phường như thế nào nên họ thường hay hỏi và điều này làm cho những cán bộ phường không được hài lòng. Thay vì phải hướng dẫn tận tình cho người dân thì họ lại nạt nộ, lớn tiếng.
Có một số nơi người dân đến rất sớm để ngồi chờ được làm các thủ tục giấy tờ mà chờ hoài chưa thấy cán bộ ra làm việc vì bận ăn sáng và tán dóc… Việc chờ đợi lâu làm cho họ cảm thấy mình bị xem thường, “là dân phải đến cửa quan”nhờ vả nên phải mất nhiều thời gian. Cán bộ thì quan liêu, việc gì cũng làm từ từ làm cho người dân sốt ruột ]
Vì nhu cầu của người dân phải đến các công sở đặt biệt là các uỷ ban nhân dân phường là thường xuyên. Khi đến đó chúng ta đều thấy nhiều câu khẩu hiệu như “ Giao tiếp hoà nhã với nhân dân” “ Phục vụ tận tình”. Nhưng sự thật lại có những nghịch lý luôn gây cho người dân những bức xúc về cách giao tiếp và ứng xử kém của các cán bộ này. Nhân dân luôn cần những cán bộ phường ứng xử và giao tiếp với họ một cách chừng mực,hoà nhã. Trong khi đó thì các cán bộ này thường nói chuyện trống không, gay gắt với họ khi họ có những điều thắc mắc. Chính lối ứng xử này đôi khi xảy ra những cãi vã giữa cán bộ phường và nhân dân. Người dân muốn mình được phục vụ chu đáo, tận tình. Trong khi cán bộ lại quá thờ ơ đối với họ. Người dân đến đây với nhu cầu cá nhân, tự nguyện thực hiện theo những yêu cầu của cán bộ nhưng đôi khi vì không hiểu quy trình làm việc của phường như thế nào nên họ thường hay hỏi và điều này làm cho những cán bộ phường không được hài lòng. Thay vì phải hướng dẫn tận tình cho người dân thì họ lại nạt nộ, lớn tiếng.
Có một số nơi người dân đến rất sớm để ngồi chờ được làm các thủ tục giấy tờ mà chờ hoài chưa thấy cán bộ ra làm việc vì bận ăn sáng và tán dóc… Việc chờ đợi lâu làm cho họ cảm thấy mình bị xem thường, “là dân phải đến cửa quan”nhờ vả nên phải mất nhiều thời gian. Cán bộ thì quan liêu, việc gì cũng làm từ từ làm cho người dân sốt ruột.
3.1. Tính tương hiện:
Trong tiếp dân, người cán bộ có nghĩa vụ phục vụ nhu cầu của người dân nhưng cán bộ cũng đồng thời là một công dân. Tương tự, nhân dân có quyền được phục vụ nhưng đồng thời cũng phải có nghĩa vụ thực hiện đúng quy định của pháp luật.
3.2. Tính tương hoá:Nhân dân nhu hoá quá cương
Cán bộ cương hoá quá nhu
(Cặp đối lập A ><B có khả năng chuyển hóa lẫn nhau)
Nhân dân nhu hoá quá cương
Cán bộ cương hoá quá nhu
- Cán bộ chuẩn mực, làm tốt nhiệm vụ làm hài lòng người dân thì sẽ có uy tín với dân, sẽ làm cho người dân có thiện cảm và ấn tượng tốt về cơ quan công quyền. Ngược lại, cán bộ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, không phục vụ tốt nhân dân sẽ làm cho nhân dân nhìn nhận tiêu cực về người cán bộ và cơ quan công quyền
- Nhân dân hiểu rõ quy định pháp luật, đưa ra yêu cầu chính đáng, sẽ giúp cho công việc của cán bộ được nhanh chóng, thuận lợi, sẽ khiến cho người cán bộ thêm nhiệt tình, yêu mến dân và cố gắng làm việc để phục vụ tốt hơn. Ngược lại, nhân dân không hiểu quy định pháp luật, yêu cầu phục vụ không chính đáng, hoặc có thái độ ứng xử không tốt với người cán bộ (quen biết lãnh đạo cao, ỷ thế coi thường cán bộ; không thực hiện hồ sơ thủ tục đúng quy định; hối lộ để được ưu tiên,…) sẽ làm cho người cán bộ chán nản trong công việc hoặc thậm chí là làm hư cán bộ (trở nên nhũng nhiễu nhân dân)
3.3. Tính tương hoà:
Từ những cuộc cãi vả lẫn nhau, cả người dân và cán bộ phường đều có những trải nghiệm và đúc kết rằng cần có thái độ hoà nhã, tinh thần cầu thị với nhau thì giao tiếp trong công sở mới thật sự đạt chuẩn. Nhân dân và cán bộ cần nhìn nhận những mặt được và những mặc chưa được của mình để tự điều chỉnh vì ông bà ta thường nói “ Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” hay “Một nụ cười là mười thang thuốc bổ”. Chỉ cần một nụ cười nơi công sở cũng đủ tạo sự thân thiện và ấm lòng nhau rồi.
Chính vì những thực tế này mà thành phố đã tổ chức rất nhiều lớp học giao tiếp dành cho những cán bộ tiếp dân để họ tự biết điều tiết thái độ và lời nói của mình, tạo cho nhân dân cảm giác an tâm, tin tưởng và được phục vụ khi đến đó. Xã hội ngày càng tiến bộ thì giao tiếp trong công sở là một nhu cầu cần thiết không thể thiếu. Vì thế cần được sự quan tâm của các cấp chính quyền để cán bộ và nhân dân cùng thực hiện tốt chức trách và nhiệm vụ của mình.
GVHD: GS. VS. TSKH Trần Ngọc Thêm
Học viên: Ngô Thị Hồng Quế
Bài tập thực hành 1:
1. Chọn cho mình một phạm vi đề tài.
2. Xác định các cặp phạm trù đối lập, các mâu thuẩn trong đề tài.
3. vận dụng phương pháp dịch lý để nghiên cứu từng cặp đối lập.
Bài làm
1. Đề tài: Văn hoá tiếp dân trường hợp trên địa bàn TPHCM
2. Xác định các cặp phạm trù đối lập (mâu thuẫn):
1. Cán bộ > < nhân dân
2. Phục vụ> < được phục vụ
3. Nghĩa vụ> < Quyền lợi
4. TPHCM> < Tỉnh thành khác
3. Dùng phương pháp dịch lý để nghiên cứu:
Chú ý: trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu trong cán bộ công chức làm việc tại các UBND phường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Xã hội ngày càng phát triển thì người dân muốn mình được phục vụ chu đáo, tận tình. Trong khi cán bộ lại quá thờ ơ đối với họ. Đôi khi họ chưa nghĩ là họ phải làm nhiệm vụ phục vụ công dân thật chu đáo nên có những lời nói xấc xược.
Người dân đến đây với nhu cầu cá nhân, tự nguyện thực hiện theo những yêu cầu của cán bộ nhưng đôi khi vì không hiểu quy trình làm việc của phường như thế nào nên họ thường hay hỏi và điều này làm cho những cán bộ phường không được hài lòng. Thay vì phải hướng dẫn tận tình cho người dân thì họ lại nạt nộ, lớn tiếng.
Có một số nơi người dân đến rất sớm để ngồi chờ được làm các thủ tục giấy tờ mà chờ hoài chưa thấy cán bộ ra làm việc vì bận ăn sáng và tán dóc… Việc chờ đợi lâu làm cho họ cảm thấy mình bị xem thường, “là dân phải đến cửa quan”nhờ vả nên phải mất nhiều thời gian. Cán bộ thì quan liêu, việc gì cũng làm từ từ làm cho người dân sốt ruột ]
Vì nhu cầu của người dân phải đến các công sở đặt biệt là các uỷ ban nhân dân phường là thường xuyên. Khi đến đó chúng ta đều thấy nhiều câu khẩu hiệu như “ Giao tiếp hoà nhã với nhân dân” “ Phục vụ tận tình”. Nhưng sự thật lại có những nghịch lý luôn gây cho người dân những bức xúc về cách giao tiếp và ứng xử kém của các cán bộ này. Nhân dân luôn cần những cán bộ phường ứng xử và giao tiếp với họ một cách chừng mực,hoà nhã. Trong khi đó thì các cán bộ này thường nói chuyện trống không, gay gắt với họ khi họ có những điều thắc mắc. Chính lối ứng xử này đôi khi xảy ra những cãi vã giữa cán bộ phường và nhân dân. Người dân muốn mình được phục vụ chu đáo, tận tình. Trong khi cán bộ lại quá thờ ơ đối với họ. Người dân đến đây với nhu cầu cá nhân, tự nguyện thực hiện theo những yêu cầu của cán bộ nhưng đôi khi vì không hiểu quy trình làm việc của phường như thế nào nên họ thường hay hỏi và điều này làm cho những cán bộ phường không được hài lòng. Thay vì phải hướng dẫn tận tình cho người dân thì họ lại nạt nộ, lớn tiếng.
Có một số nơi người dân đến rất sớm để ngồi chờ được làm các thủ tục giấy tờ mà chờ hoài chưa thấy cán bộ ra làm việc vì bận ăn sáng và tán dóc… Việc chờ đợi lâu làm cho họ cảm thấy mình bị xem thường, “là dân phải đến cửa quan”nhờ vả nên phải mất nhiều thời gian. Cán bộ thì quan liêu, việc gì cũng làm từ từ làm cho người dân sốt ruột.
3.1. Tính tương hiện:
Trong tiếp dân, người cán bộ có nghĩa vụ phục vụ nhu cầu của người dân nhưng cán bộ cũng đồng thời là một công dân. Tương tự, nhân dân có quyền được phục vụ nhưng đồng thời cũng phải có nghĩa vụ thực hiện đúng quy định của pháp luật.
3.2. Tính tương hoá:Nhân dân nhu hoá quá cương
Cán bộ cương hoá quá nhu
(Cặp đối lập A ><B có khả năng chuyển hóa lẫn nhau)
Nhân dân nhu hoá quá cương
Cán bộ cương hoá quá nhu
- Cán bộ chuẩn mực, làm tốt nhiệm vụ làm hài lòng người dân thì sẽ có uy tín với dân, sẽ làm cho người dân có thiện cảm và ấn tượng tốt về cơ quan công quyền. Ngược lại, cán bộ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, không phục vụ tốt nhân dân sẽ làm cho nhân dân nhìn nhận tiêu cực về người cán bộ và cơ quan công quyền
- Nhân dân hiểu rõ quy định pháp luật, đưa ra yêu cầu chính đáng, sẽ giúp cho công việc của cán bộ được nhanh chóng, thuận lợi, sẽ khiến cho người cán bộ thêm nhiệt tình, yêu mến dân và cố gắng làm việc để phục vụ tốt hơn. Ngược lại, nhân dân không hiểu quy định pháp luật, yêu cầu phục vụ không chính đáng, hoặc có thái độ ứng xử không tốt với người cán bộ (quen biết lãnh đạo cao, ỷ thế coi thường cán bộ; không thực hiện hồ sơ thủ tục đúng quy định; hối lộ để được ưu tiên,…) sẽ làm cho người cán bộ chán nản trong công việc hoặc thậm chí là làm hư cán bộ (trở nên nhũng nhiễu nhân dân)
3.3. Tính tương hoà:
Từ những cuộc cãi vả lẫn nhau, cả người dân và cán bộ phường đều có những trải nghiệm và đúc kết rằng cần có thái độ hoà nhã, tinh thần cầu thị với nhau thì giao tiếp trong công sở mới thật sự đạt chuẩn. Nhân dân và cán bộ cần nhìn nhận những mặt được và những mặc chưa được của mình để tự điều chỉnh vì ông bà ta thường nói “ Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” hay “Một nụ cười là mười thang thuốc bổ”. Chỉ cần một nụ cười nơi công sở cũng đủ tạo sự thân thiện và ấm lòng nhau rồi.
Chính vì những thực tế này mà thành phố đã tổ chức rất nhiều lớp học giao tiếp dành cho những cán bộ tiếp dân để họ tự biết điều tiết thái độ và lời nói của mình, tạo cho nhân dân cảm giác an tâm, tin tưởng và được phục vụ khi đến đó. Xã hội ngày càng tiến bộ thì giao tiếp trong công sở là một nhu cầu cần thiết không thể thiếu. Vì thế cần được sự quan tâm của các cấp chính quyền để cán bộ và nhân dân cùng thực hiện tốt chức trách và nhiệm vụ của mình.
