GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm
Học viên: Lâm Thị Thu Hiền
Lớp: CH VH K13B
BÀI TẬP 1
1. Chọn cho mình một (phạm vi) đề tài
2. Xác định (các) cặp phạm trù đối lập (các mâu thuẫn) trong đề tài
3. Vận dụng phương pháp dịch lý để nghiên cứu (từng) cặp đối lập đó (kiểm tra tính tương hiện, kiểm tra tính tương hóa, kiểm tra tính hướng hòa…)
BÀI LÀM
1. Đề tài: Tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh
2. Các cặp phạm trù đối lập:
- Tín ngưỡng >< Lễ hội (cặp phạm trù chính)
- Tín ngưỡng, lễ hội người của cư dân ven biển Trà Vinh
>< Tín ngưỡng, lễ hội các của cư dân ven biển miền Trung
- Truyền thống - Hiện tại
3.Vận dụng phương pháp dịch lý:
a. Tính tương hiện (cả hai cùng hiện) :
+ Từ bao đời nay, ngư dân Nam Bộ nói chung và ngư dân ven biển Mỹ Long nói riêng gắn cuộc sống với biển cả. Biển nuôi sống họ, biển gắn liền với đời sống vật chất và tinh thần.
+ Ngư dân khai thác những lợi ích từ biển, đồng thời có nghĩa vụ bảo vệ nguồn tài nguyên biển.
+ Trong đời sống tinh thần của ngư dân ven biển Mỹ Long, tín ngưỡng và lễ hội là hai yếu tố quan trọng làm nên bản sắc văn hóa độc đáo của vùng này. Trong các hoạt động văn hóa tín ngưỡng, lễ hội là phần không thể thiếu. Ngược lại, tín ngưỡng xuất hiện thông qua các hoạt động cả ở phần lễ và phần hội.
b. Tính tương hóa (động quá hóa tĩnh, tĩnh quá hóa động):
+ Tín ngưỡng (tĩnh) được biểu hiện dưới nhiều hình thức như cúng tế, sinh hoạt vui chơi nhảy múa (động). Các lễ hội đòi hỏi sự thành kính, trang nghiêm và tính thiêng ở phần lễ (tĩnh). Tĩnh hóa động, động hóa tĩnh là vì thế.
+ Ngư dân muốn tận dụng biển để mưu sinh, phục vụ nhu cầu cá nhân thì phải bảo đảm cho nguồn lợi tự nhiên từ tài nguyên thiên nhiên không cạn kiệt, bảo vệ biển, bảo tồn tài nguyên biển và không để nguồn lợi bị cạn kiệt thì ngư dân càng được hưởng lợi nhiều hơn. Vì thế, ngư dân tôn sùng biển, nâng biển lên thành thánh thần. Cho nên, hàng năm ngư dân ven biển Mỹ Long dâng cúng cho biển những sản vật mà họ đánh bắt được trong năm qua. Ngư dân ven biển Mỹ Long nguồn gốc là dân tứ xứ và dân ở ven biển miền Trung di cư vào nhưng cách thờ cúng cũng những kế thừa cách thờ cúng và cũng có những cái khác so với cách thờ cúng của ngư dân ven biển miền Trung.
c. Tính hướng hòa (cả hai hướng đến một đích):
+ Tín ngưỡng chi phối lễ hội, lễ hội biểu hiện tín ngưỡng. Cả hai đều hướng đến ước muốn đem lại đời sống an lành, hòa hảo, đoàn kết cho cư dân của cả cộng đồng. Biết hài hòa giữa tín ngưỡng và lễ hội cũng có nghĩa là đã giúp duy trì và phát triển sự độc đáo của ngư dân ven biển Mỹ Long trong xu thế hội nhập ngày nay.
+ Ngư dân và biển cùng tồn tại và phát triển, không thể tách rời nhau, ngư dân phải ứng xử đúng mực với biển thì biển mới đem lại lợi ích lâu dài cho ngư dân.
+ Ngư dân tận dụng biển sao cho phù hợp vừa để phục vụ cuộc sống, đồng thời phải bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên để bảo đảm sự cân bằng sinh thái.
+ Cách khai thác biển ngày xưa và hiện nay có những cái khác nhau. Ngày xưa khai thác theo truyền thống cho nên cách thờ cúng cũng theo truyền thống. Còn hiện nay khai thác theo hiện đại nên thờ cúng cũng theo hiện đại.
Bài tập 2: Vận dụng phương pháp dịch lý để phân tích và lập cấu trúc cho đề tài đã chọn
Xác định từ khóa: Văn hóa tinh thần
- Cấp độ 1 (Chủ thể): Tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng ngư dân ven biển
- Cấp độ 2 (Không gian): Tỉnh Trà Vinh
- Cấp độ 3 (Thời gian): Truyền thống – hiện đại

Bài tập 3: vận dụng tất cả những gì đã học để định vị đối tượng và lập đề cương chi tiết cho đề tài đã chọn.
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Trà Vinh là một tỉnh cuối nguồn sông Cửu Long, tiếp giáp biển Đông, có diện tích tự nhiên 2.369 cây số vuông. Trong đó, có khoảng 2/3 diện tích đất nông nghiệp, còn lại là đất thổ cư, đất bãi bồi và rừng ngập mặn ven biển.
Trà Vinh trong quá trình hình thành và phát triển, đã có nhiều thế hệ ngư dân sinh sống và hình thành nên nhiều nét văn hóa đặc thù gắn liền với môi trường sinh thái vùng ven biển. Trong đời sống văn hóa phong phú của các cộng đồng ngư dân vùng ven biển Trà Vinh , tín ngưỡng là một vấn đề nổi bật và cần được tìm hiểu. Với nghề nghiệp đánh bắt ở biển khơi, cuộc sống ngư dân phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên khá nhiều. Hoạt động tín ngưỡng của họ chính là phương thức để giảm đi nỗi lo sợ, căng thẳng khi đối mặt với nhiều yếu tố bất trắc từ biển cả. Thông qua việc tìm hiểu tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân góp phần vào việc tìm hiểu hiểu nhân sinh quan, thế giới quan của họ và mối quan hệ giữa tín ngưỡng với các điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường sự hiểu biết những đặc trưng văn hóa của cộng đồng này.
Mặt khác, tín ngưỡng và các hình thức liên quan đến như: Lễ hội, văn học dân gian, cơ sở tín ngưỡng, diễn xướng nghệ thuật,….còn là tài sản văn hóa của cộng đồng và mang nhiều ý nghĩa. Cho nên, việc nghiên cứu đời sống tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân ở Trà Vinh còn góp phần vào việc nhận diện, thúc đẩy việc bảo tồn và phát huy các giá trị của nó trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt là cho việc tạo nguồn lực cho phát triển du lịch địa phương và trao truyền văn hóa cho các thế hệ sau.
Từ trước đến nay, mặc dù đã có một số công trình đề cập đến tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng ngư dân ven Trà Vinh, nhưng nhìn chung vẫn chưa mang tính hệ thống, không đầy đủ. Vì thế, việc triển khai nghiên cứu lĩnh vực này cần được tiếp tục hơn nữa, góp phần thấy rõ các giá trị của nó cũng như nhận diện các đặc điểm văn hóa của cộng đồng. Vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài “Tín ngưỡng và lễ hộicủa cộng đồng ngư dân vùng ven biển Trà Vinh” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của chúng tôi nhằm tìm hiểu các loại hình tín ngưỡng và lễ hội có liên quan trong đời sống của cộng đồng ngư dân vùng ven biển Trà Vinh. Đồng thời, việc phân tích đâu là nguyên nhân hình thành nên các đặc điểm và những giá trị cơ bản, sự biến đổi của chúng là gì còn là mục tiêu quan trọng mà chúng tôi hướng đến. Từ kết quả nghiên cứu sẽ đề xuất một số biện pháp hữu hiệu nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng cộng đồng ngư dân vùng ven biển Trà Vinh vào việc giáo dục, gắn kết đời sống cộng đồng hơn nữa và làm cơ sở phát triển du lịch địa phương.
3. Lịch sử vấn đề
Hiện nay, nghiên cứu về cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh được nhiều nhà khoa học quan tâm, trong đó có lĩnh vực văn hóa và tín ngưỡng. Tuy nhiên, việc giới thiệu về tín ngưỡng của cộng đồng này còn rời rạc, chưa mang tính hệ thống và toàn diện. Trong khi đó, việc nghiên cứu về cộng đồng ngư dân, về tín ngưỡng của cư dân vùng ven biển ở Việt Nam hoặc ở một số địa phương được giới thiệu rộng rãi qua nhiều công trình khoa học.
Đầu tiên, đó là hướng nghiên cứu về cộng đồng ngư dân ở Việt Nam và Nam bộ, nhất là ở lĩnh vực văn hóa-xã hội. Năm 2000, Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian Việt Nam có xuất bản công trình Văn hoá dân gian làng ven biển do Ngô Đức Thịnh chủ biên. Đây là quyển sách khá dày, tập trung giới thiệu các làng ven biển tiêu biểu từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên-Huế và được nghiên cứu dưới góc nhìn Folklore học. Đây là một hướng nghiên cứu, tiếp cận thú vị và mới mẻ. Bài viết Một số vấn đề về cư dân ven biển làm nghề cá ở miền Bắc Việt Nam của Nguyễn Dương Bình đăng trên Tạp chí Dân tộc học (số 1/2000) giới thiệu khá nhiều nét cơ bản về đời sống xã hội-kinh tế của ngư dân ở Bắc bộ. Đặc biệt, quyển Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam (2002) do Nguyễn Duy Thiệu viết là công trình mang tính tổng quan, làm cơ sở tiếp cận cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về cộng đồng ngư dân ven biển ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, Cộng đồng ngư dân Việt ở Nam bộ do Trần Hồng Liên chủ biên (2004) là quyển sách đầu tiên giới thiệu về cộng đồng ngư dân ven biển ở Nam bộ qua hai trường hợp cụ thể: Vàm Láng (Tiền Giang) và Phước Tỉnh (Bà Rịa-Vũng Tàu). Đặc biệt, không thể không nhắc đến bài viết Tìm hiểu văn hoá biển ở Nam bộ của Phan Thị Yến Tuyết trong sách Nam bộ Đất và Người (tập 6) của Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh (2008). Bài viết giới thiệu sơ lược về các địa phương ven biển Nam bộ và nhắc đến một số dạng thức văn hoá vật thể và phi vật thể của ngư dân. Năm 2008, tập sách Văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam bộ do Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Viện Nghiên cứu Văn hóa-Sở Văn hóa-Thông tin Quãng Ngãi-Hội Văn học-Nghệ thuật Kiên Giang đồng xuất bản (2008) là công trình có ý nghĩa khoa học, thực tiễn trong việc nghiên cứu văn hóa vùng ven biển từ miền Trung trở vào, đặc biệt là Tây Nam bộ. Quyển sách này, với nhiều bài viết, đã cung cấp cho người viết khá nhiều tư liệu quí giá về văn hóa, tín ngưỡng và lễ hội của các địa phương ven biển Tây Nam bộ như: Trà Vinh, Kiên Giang,…Từ năm 2008 đến năm 2010, Phan Thị Yến Tuyết thực hiện đề tài nghiên cứu trọng điểm cấp Đại học quốc gia TpHCM: ”Những vấn đề văn hóa xã hội của cư dân vùng biển Nam bộ”. Đề tài đã giới thiệu diện mạo văn hóa, xã hội của cư dân ven biển Nam bộ từ Bà Rịa-Vũng Tàu cho đến Kiên Giang, trong đó có giới thiệu về đời sống tín ngưỡng của nhóm cư dân này. Nhìn chung, những công trình này giúp cho người nghiên cứu hiểu rõ các đặc điểm lịch sử, văn hóa, xã hội, kinh tế cùng môi trường cư trú của ngư dân ven biển nước ta.
Tiếp đến, có nhiều công trình công bố có giá trị về tín ngưỡng và tín ngưỡng của ngư dân ven biển ở Việt Nam. Những bài viết, sách liên quan đến lĩnh vực tín ngưỡng ở trong nước thì có nhiều và khó mà kể hết. Tuy nhiên, một số công trình nổi bật, có giá trị lí luận và thực tiễn cho nghiên cứu là: Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng Việt Nam-Ngô Đức Thịnh chủ biên (2001), Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á -Ngô Đức Thịnh chủ biên (2004), Về tín ngưỡng lễ hội cổ truyền- Ngô Đức Thịnh xuất bản (2007), Đạo Mẫu Việt Nam-Ngô Đức Thịnh xuất bản (2010), Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam-Lê Như Hoa chủ biên (2001)...Trong các công trình này, các tác giả tập trung giới thiệu về các hình thức tín ngưỡng phổ biến ở Việt Nam và có đề cập đến những vị thần được ngư dân thờ cúng: Cá Ông, Bà Thủy, Tứ Vị Đại Càn Thánh Nương Vương,….Bên cạnh đó, nghiên cứu về tín ngưỡng của ngư dân ven biển Việt Nam đã được giới khoa học chú trọng. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu là: Sách Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa-Lê Quang Nghiêm viết (1970), Một số tín ngưỡng tục lệ của cư dân ven biển từ Bình Trị Thiên đến Bình Thuận- Tôn Thất Bình đăng trên Tạp chí Dân tộc học (số 3/1982), Tục thờ Cá Voi ở các làng ven biển từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân-Trần Hoàng trên Tạp chí Văn hóa dân gian (số 3/1999), Bài viết Việc tổ chức đời sống tín ngưỡng trong cộng đồng ngư dân ở Việt Nam - Nguyễn Duy Thiệu in trong Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật (số 1/2001), Sách Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam Đà Nẵng-Nguyễn Xuân Hương xuất bản (2009),….Các nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào việc nhận diện đời sống tín ngưỡng của lớp cư dân ven biển ở một số địa phương nước ta.
Cuối cùng, các nghiên cứu về tín ngưỡng của ngư dân ven biển ở Nam bộ thì phong phú, đa dạng. Với chủ đề tín ngưỡng ở Nam bộ, một số sách được nhiều người biết đến: Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Văn hóa tâm linh Nam bộ -Nguyễn Đăng Duy xuất bản (1997), Đình Nam bộ xưa và nay của Huỳnh Ngọc Trảng-Trương Ngọc Tường viết (1999), Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam bộ- Huỳnh Quốc Thắng công bố (2003), Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam của Sơn Nam tái bản (2006),….Các tác giả ít nhiều giới thiệu về các hình thức tín ngưỡng của cư dân ven biển ở Nam bộ. Riêng về tín ngưỡng của ngư dân ven biển Nam bộ nói chung và Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng đã được giới thiệu rộng rãi qua sách và các bài báo trên tạp chí khoa học, luận văn,….Các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu từng loại hình tín ngưỡng đặc thù của ngư dân ven biển nên có giá trị khoa học lẫn thực tiễn, gắn kết ở từng địa phương khác nhau. Đầu tiên, liên quan đến lĩnh vực này, sách địa chí ở một số tỉnh ven biển ở Nam bộ đã đề cập đến các hình thức tín ngưỡng của ngư dân: Địa chí Bà Rịa-Vũng Tàu (2005), Địa chí Tiền Giang (2007), Địa chí Bến Tre (2001), Địa chí Sóc Trăng (2012),….Nổi bật, trong một số công trình nghiên cứu văn hóa dân gian ở một số địa phương nhắc đến tín ngưỡng ở vùng ven biển. Sách Một số hiện tượng văn hóa dân gian Bến Tre của Nguyễn Chí Bền (1997) có hẳn một chương viết về tục thờ Cá Ông ở vùng ven biển tỉnh này. Đôi nét phác thảo văn hóa dân gian Cà Mau do Hội Văn học nghệ thuật tỉnh xuất bản (2008) có phần viết khá dài Vài nét về lễ hội Nghinh Ông trong đời sống ngư dân Cà Mau. Đề tài nghiên cứu khoa học Lễ hội các dân tộc ở Trà Vinh do Huỳnh Thanh Sơn làm chủ nhiệm (nghiệm thu 2006) giới thiệu về Lễ hội cúng biển Mỹ Long gắn với tục thờ Bà Chúa Xứ của ngư dân ở đây. Ngoài ra, một số bài viết đi sâu vào việc giới thiệu về tín ngưỡng thờ Cá Ông ở Nam bộ cũng như ở một số địa phương cụ thể. Nguyễn Thanh Lợi với hàng loạt bài viết về tục thờ Cá Ông: Tục thờ Cá Ông ở Cần Thạnh (Cần Giờ) và ven biển Nam bộ (Sách Thông báo Văn hóa dân gian-2002), Tín ngưỡng thờ Cá Voi ở Thành phố Hồ Chí Minh (Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á-số 6/2003), Tục thờ Cá Ông ở Nam bộ (Sách Nam bộ đất và người-tập 2/2004),….Bên cạnh đó, về tín ngưỡng này, còn có một số bài viết khác như: Lễ hội Nghinh Ông ở Bình Thắng,một cách tiếp cận-Nguyễn Chí Bền trên Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á (số 6/2002), Một số tập tục kiêng kỵ và thờ cúng Cá Voi của ngư dân xã Phước Tỉnh huyện Long Đất tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu –Phan An và Nguyễn Thị Nhung trong Tạp chí Dân tộc học, số 5/2002, Tục thờ Cá Ông ở Cần Giờ- Đặng Văn Thắng trong Sách Nam bộ đất và người tập 6 (2008), Lễ hội Nghinh Ông vùng ven biển Cà Mau-Nguyễn Thị Thanh Hương ở Tạp chí Văn hóa nghệ thuật (số 4/2006), Tín ngưỡng thờ Cá Ông của cộng đồng ngư dân An Thủy (huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre)-Dương Hoàng Lộc trong sách Nam bộ đất và người tập 7 (2009),….Những nghiên cứu này cho thấy vai trò quan trọng của tín ngưỡng thờ Cá Ông trong đời sống tinh thần của ngư dân ven biển Nam bộ, là nguồn tư liệu quí để khảo sát, nghiên cứu. Song song đó, với ngư dân ven biển Trà Vinh, tín ngưỡng thờ Mẫu cũng rất quan trọng. Vì vậy, một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu vấn đề này trong thời gian gần đây. Giá trị của tiểu luận này ở chỗ tác giả đã nghiên cứu tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân ven biển tại một địa phương cụ thể ở Trà Vinh. Nhìn chung, bằng nhiều hình thức khác nhau, những nghiên cứu được nhắc đến ở trên có vai trò rất lớn ở phương diện lí luận cũng như thực tiễn cho đề tài nghiên cứu Tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh.
Tóm lại, việc nghiên cứu tín ngưỡng của ngư dân ở Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và ở Trà Vinh nói riêng đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học. Điều này cho thấy lĩnh vực này có tính hấp dẫn riêng của nó và cần phải được đi sâu tìm hiểu hơn nữa. Nhiều công trình đã đề cập đến từng hình thức tín ngưỡng cụ thể của ngư dân, về một số loại hình tín ngưỡng tiêu biểu ở từng địa phương ven biển và tại cơ sở thờ tự cụ thể là những tư liệu vô cùng quí giá cho việc kế thừa nghiên cứu. Tuy nhiên, việc hệ thống và phân tích các giá trị, đặc điểm của tín ngưỡng cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh cần được tiếp tục, đào sâu hơn nữa. Đó là mục tiêu mà chúng tôi hướng đến.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài này tập trung khảo sát, nghiên cứu các loại hình tín ngưỡng và lễ hội ở phạm vi cộng đồng và những hoạt động thờ cúng liên quan của các cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh
Phạm vi nghiên cứu: Vùng ven biển Trà Vinh là địa bàn chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát phục vụ cho tiểu luận nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học của đề tài này là đóng góp vào việc nghiên cứu tín ngưỡng cũng như lĩnh vực văn hóa biển ở Nam Bộ. Từ các lí thuyết được áp dụng nghiên cứu chắc chắc vấn đề này sẽ được làm sáng tỏ thông qua những giá trị đặc trưng. Đồng thời, việc hệ thống lại các hình thức tín ngưỡng cũng như các hoạt động thờ cúng của cộng đồng góp phần hiểu hơn về tín ngưỡng và văn hóa ở vùng đất Trà Vinh. Kết quả nghiên cứu còn góp phần lí giải mối quan hệ giữa tín ngưỡng với môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa của cộng đồng, tăng cường sự hiểu biết của xã hội về ngư dân ven biển ở Trà Vinh.
Qua nghiên cứu thực tế theo hướng tiếp cận trên, đề tài còn xác định được đâu là những vấn đề đang đặt ra trong đời sống tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh, vai trò của tín ngưỡng trong việc liên kết nội bộ cộng đồng và giữa các cộng đồng với nhau. Mặt khác, nghiên cứu còn góp phần chỉ ra các giá trị văn hóa hữu ích giúp cho việc quảng bá đặc trưng văn hóa của địa phương trong việc phát triển du lịch, đề ra chính sách bảo tồn di sản văn hóa cho địa phương và cộng đồng sở tại.
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp lý thuyết là chủ yếu, áp dụng các phương pháp như:
Phương pháp điền dã dân tộc học với hai hình thức quan sát và tham dự
Phương pháp nghiên cứu định tính bằng hình thức phỏng vấn sâu ở hai cấp cộng đồng và trên cộng đồng.
Phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua bảng hỏi có sẵn nhằm hiểu rõ và lượng hóa các mục tiêu cần thiết về tần suất tham gia hoạt động tín ngưỡng, cấp bậc cao thấp của niềm tin vào các vị thần, số lượng đóng góp cho các cơ sở thờ tự,….
Phương pháp phân tích – tổng hợp: đi vào phân tích, nhằm làm nổi bật nội dung mà đề tài muốn đề cập. Sau đó tổng hợp lại vấn đề cần nghiên cứu.
Phương pháp hệ thống: Hệ thống lại toàn bộ vấn đề đã nêu và rút ra kết luận.
6.2 Nguồn tư liệu
Đi khảo sát thực địa. Tư liệu viết về tín ngưỡng và lễ hội của ngư dân ven biển ở các vùng miền
7. Bố cục đề tài
Tiểu luận gồm 4 chương với các nội dung như sau:
_ Chương Một: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Trong chương này, chúng tôi sẽ thảo luận về các lí thuyết của văn hóa học có liên quan và khái niệm tín ngưỡng, lễ hội, giới thiệu về tổng quan cộng đồng ngư dân vùng ven biển Trà Vinh.
_Chương Hai: Các hình thức tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh. Ở đây, chúng tôi sẽ đi sâu nhận diện các hình thức tín ngưỡng cơ bản (Tín ngưỡng thờ Cá Ông, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ Quan Công,…) của ngư dân. Chúng tôi tìm hiểu đâu là cơ sở hình thành và vai trò của các loại hình tín ngưỡng trong đời sống tinh thần của cộng đồng.
_Chương Ba: Các lễ hội của cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh. Trong chương này, chúng tôi sẽ tiếp tục khảo sát những hoạt động của các lễ hội. Các hoạt động này góp phần làm cho các hình thức tín ngưỡng trên thật sự sống động, mang nhiều giá trị và ý nghĩa.
_Chương Bốn: Nhận diện các đặc điểm, giá trị và những biến đổi của tín ngưỡng cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh. Mục tiêu chương này sẽ khái quát các đặc trưng cơ bản và nhận diện giá trị của tín ngưỡng cộng đồng ngư dân vùng ven biển Trà Vinh. Ngoài ra, đời sống tín ngưỡng của ngư dân tại đây có những biến đổi gì trong bối cảnh hiện tại là nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi.
_Phần Kết luận sẽ tập trung vào việc đề ra giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của tín ngưỡng ngư dân vùng ven biển Trà Vinh trong việc phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa, đặc biệt là việc kết nối cộng đồng lại với nhau.
NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Tổng quan về cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh
1.1.1 Môi trường tự nhiên
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
1.1.3 Hoạt động kinh tế-xã hội
1.1.4. Các đặc điểm văn hóa
1.2. Các lí thuyết Nhân học được áp dụng nghiên cứu
1.2.1. Lí thuyết Chức năng luận
1.2.2. Lí thuyết Vùng văn hóa
1.3. Khái niệm tín ngưỡng và lễ hội
CHƯƠNG HAI : CÁC HÌNH THỨC TÍN NGƯỠNG CỦA
CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN TRÀ VINH
2.1. Tín ngưỡng thờ Cá Ông
2.2. Tín ngưỡng thờ Mẫu
2.2.1 Tín ngưỡng Chúa Xứ Thánh Mẫu
2.2.2 Tín ngưỡng thờ Cố Hỉ Tiên Phi
2.2.3. Tín ngưỡng Thủy Long Thánh Mẫu
2.3. Tín ngưỡng thờ Quan Công
CHƯƠNG BA: CÁC LỄ HỘI CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN TRÀ VINH
3.1 Lễ hội Nghinh Ông
3.1.1 Các nghi thức trong lễ nghinh Ông
3.1.2 Các hình thức diễn xướng trong lễ nghinh Ông
3.1.3 Các hình thức trò chơi trong lễ hội Nghinh Ông
CHƯƠNG BỐN: NHẬN DIỆN ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN TRÀ VINH
4.1. Các đặc điểm của tín ngưỡng và lễ hội cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh
4.2. Những giá trị tín ngưỡng và lễ hội cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh
4.3. Một số biến đổi trong tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh hiện nay
4.4. Bảo tồn và phát huy các giá trị của tín ngưỡng và lễ hội cộng đồng ngư dân ven biển Trà Vinh
Kết luận: kiến nghị và giải pháp
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
NHỮNG CHUẨN BỊ CHO VIỆC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Hướng thực hiện
Cách tiếp cận tài liệu: tài liệu văn bản, tài liệu mạng Internet.
2. Kế hoạch làm việc
Sưu tầm tài liệu: 20%
Xử lý tài liệu: 30%
Viết: 50%.
Bài tập 4: Sưu tầm tư liệu đa ngành, đa công cụ, đa ngôn ngữ, đa chủng loại, đa phương tiện một cách hệ thống phục vụ cho đề tài NGKH đã chọn ( trên diendan công bố danh sách và path). PP tổng hợp hệ thống trong sắp xếp tư liệu.
Sử dụng Document Map để sắp xếp tư liệu sao cho hợp lý nhất, chụp ảnh đưa lên topic của mình trên diễn đàn.
1. Huỳnh Ngọc Trảng, Tìm hiểu nguồn gốc và đặc điểm của múa bóng Nam bộ. In trong: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 5/1993.
2. Huỳnh Thanh Sơn (chủ nhiệm), Lễ hội các dân tộc ở Trà Vinh, Đề tài của Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Trà Vinh, 2006.
3. Lê Như Hoa (chủ biên), Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, Hà Nội, Nxb.Văn hoá Thông tin, 2001.
4. Lê Văn Chiêu, Nghệ thuật sân khấu Hát bội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb.Trẻ, 2008.
5. Ngô Đức Thịnh (chủ biên), Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á, Hà Nội, Nxb.Khoa học Xã hội, 2004.
6. Ngô Đức Thịnh, Về tín ngưỡng lễ hội cổ truyền, Hà Nội, Viện Văn hóa- Nxb.Văn hoá Thông tin, 2007.
7. Nguyễn Công Bình-Lê Xuân Diệm-Mạc Đường, Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội, Nxb.Khoa học Xã hội, 1990.
8. Nguyễn Chu Hồi, Cơ sở tài nguyên và môi trường biển, Hà Nội, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
9. Nguyễn Duy Thiệu, Việc tổ chức đời sống tín ngưỡng trong cộng đồng ngư dân ở Việt Nam. In trong: Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 1/2001.
10. Nguyễn Duy Thiệu, Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam, Hà Nội, Nxb.Khoa học Xã hội, 2002.
11. Nguyễn Dương Bình, Một số vấn đề về cư dân ven biển làm nghề cá ở miền Bắc Việt Nam. In trong: Tạp chí Dân tộc học, số 1/2000.
12. Nguyễn Đức Toàn, Quan hệ Chăm - Việt trong lịch sử qua tín ngưỡng dân gian. In trong: Tạp chí Dân tộc học, số 4/1994.
13. Nguyễn Hồng Dương-Phùng Đạt văn (chủ biên), Tín ngưỡng tôn giáo và xã hội dân gian, Hà Nội, Nxb.Từ điển Bách khoa, 2009.
14. Nguyễn Thanh Lợi, Tục thờ cá ông ở Việt Nam. In trong: Viện Dân tộc học, Thông báo Dân Tộc học 2006, Hà Nội, Nxb.Khoa học Xã hội, 2007.
15. Nguyễn Thành Đức, Múa bóng ở Nam bộ. In trong: Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, Nam bộ Đất và Người (tập 5), Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb.Trẻ, 2007.
16. Nguyễn Thị Thanh Hương, Lễ hội Nghinh Ông ở vùng ven biển Cà Mau, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 4/2006.
17. Nguyễn Xuân Hương, Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam-Đà Nẵng, Hà Nội, Nxb.Từ điển bách khoa, 2009.
18. Phan An-Nguyễn Thị Nhung, Một số tập tục kiêng kỵ và thờ cúng cá voi của ngư dân xã Phước Tỉnh huyện Long Đất tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.In trong: Tạp chí Dân tộc học, số 5/2002.
19. Phan Thị Yến Tuyết , Tìm hiểu văn hóa biển ở Nam bộ. In trong: Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, Nam bộ Đất và Người (tập 6)- Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb.Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2008.


