gửi bởi Thanh Tâm » Thứ 5 22/08/13 23:44
BÀI TẬP 3 LẬP ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Thành phố Khâm Châu, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc xưa vốn thuộc tiểu vùng Lạc Việt, một chi tộc Bách Việt cổ sinh sống từ đồng bằng sông Hồng- sông Mã trải qua vịnh Bắc Bộ (vùng Cảng Phòng Thành, Khâm Châu và Bắc Hải của Quảng Tây, vùng Lôi Châu của Quảng Đông và toàn bộ đảo Hải Nam). Giống như nhiều chi tộc Bách Việt khác từ Nam Dương Tử đến Bắc Đông Nam Á, người Việt Cổ tại Khâm Châu sớm biết khai thác nguồn đất hiếm có chứa nhiều khoáng chất đặc biệt để chế tác đồ gốm kiểu Lạc Việt dùng trong tế lễ, dùng làm vật biểu trưng và dùng trong sinh hoạt, loại gốm sau này được người Hán đặt tên là gốm Ni Hưng.
Đồ gốm Ni Hưng hiện đại đã trở thành nền công nghiệp sản xuất mũi nhọn của Khâm Châu. Đi đến đâu cũng thấy gốm Ni Hưng, người Khâm Châu khi đi ra thế giới mang theo gốm Ni Hưng làm quà. Trong số các lại sản phẩm Ni Hưng người ta tìm thấy có cả những kiểu đồ gốm Việt Cổ được phục dựng, có hoa văn hình thuyền Lạc Việt, hình tượng cóc (tựa như trên trống Đông Sơn ở Việt Nam), hình tượng người Việt Cổ mở hội tế thần (giống như tranh bích họa Hoa Sơn ở Ninh Minh, Quảng Tây), hình bò u (như hoa văn trống đồng Điền Việt ở Vân Nam), hình Khổng Tử và môn đệ chu du liệt quốc (bích họa Hoa Bắc), các bài thơ chữ Hán v…v. Có thể nói, người Khâm Châu hiện nay đã dung hòa những dòng chảy văn hóa Việt cổ và văn hóa các tộc người Choang, Hán hiện đại. Bên cạnh bảo tàng gốm Ni Hưng thì Khâm Châu còn có các chiến lược lâu dài nhằm quảng bá hình ảnh gốm sứ Ni Hưng ra thế giới như tổ chức luận đàm về gốm sứ Khâm Châu hay Festival về văn hóa gốm sứ nhân dịp Hiệp hội Mỹ thuật tổ chức cuộc thi làm gốm sứ. Năm 2009 cùng với chính sách “sản nghiệp hóa văn hóa” thì Trung Quốc đã thành công trong việc tạo dựng thương hiệu cho gốm sứ Ni Hưng như một đặc sản riêng có của vùng bắc vịnh Bắc Bộ. Chỉ có điều, trống đồng là báu vật thiêng liêng của người Việt cổ, là lễ khí, là biểu tượng sự hội tụ tộc người, nay người ta mang ra chế tác các công cụ rất thế tục như làm ghế ngồi hay bộ đựng ấm trà chẳng hạn.
Ở Việt Nam vẫn tồn tại các làng gốm ở hầu hết các vùng miền trên cả nước như Làng Thổ Hà (Bắc Giang); Phù Lãng (Quế Võ, Bắc Ninh); Chu Đậu (Nam Sách, Hải Dương); Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội), làng gốm Thanh Hà (Hội An, Quảng Nam); Mỹ Thiện (Bình Sơn, Quảng Ngãi); gốm An Thuận (An Giang) đặc biệt là sự tồn tại các làng nghề gốm ở Bình Dương mà chủ nhân của nó là những người Hoa từ miền duyên hải Trung Hoa sang Việt Nam định cư. Tuy nhiên, gốm Việt Nam chưa đa dạng và chưa có sản phẩm đặc trưng, hấp dẫn riêng có, nhất là chưa có sự kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai. Giá trị phi vật chất trong sản phẩm gốm sứ Việt Nam còn thấp, đồng thời mới chỉ dừng lại ở mức độ bảo tồn chứ chưa có hướng đi chiến lược trong việc sản xuất công nghiệp và quảng bá thương hiệu gốm sứ nước nhà ra thị trường thế giới.
Từ đó người nghiên cứu đặt ra câu hỏi: “Tại sao một dòng gốm gốc Việt cổ lại phát triển và trở thành sản phẩm độc đáo riêng có của Trung Hoa? Cùng với đó gốm sứ Việt Nam giàu truyền thống và tiềm năng như thế vẫn không thể phát triển vượt bậc trong khu vực và thế giới? Và hướng đi nào trong tương lai cho việc bảo tồn các giá trị phi vật chất cũng như phát triển thương hiệu gốm sứ Việt Nam?”
Để góp phần trả lời những câu hỏi ấy, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Dòng gốm Ni Hưng gốc Việt cổ ở Quảng Tây- Trung Quốc” làm đề tài cho luận văn của mình.
Ngoài ra, người thực hiện đề tài có điều kiện thuận lợi vốn tốt nghiệp cử nhân tiếng Trung và từng du học tại Quảng Tây Trung Quốc, vì thế việc thực hiện đề tài vừa đáp ứng nhu cầu nâng cao năng lực chuyên môn bản thân vừa góp phần phục vụ cho quê hương đất nước.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của đề tài:
- Tìm hiểu nguồn gốc xuất sứ của dòng gốm Ni Hưng. Miêu tả và phân loại các sản phẩm nổi bật và riêng có của dòng gốm sứ này, trong đó đặc biệt nhất mạnh tố chất Lạc Việt cổ trong gốm Ni Hưng hiện đại.
- Miêu tả, phân tích, đánh giá quá trình “sản nghiệp hóa” gốm Ni Hưng gốc Việt cổ, từ đó làm nền tảng để đề xuất các giải pháp tăng cường bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam.
- Nêu lên những giá trị phi vật chất mà người Việt cổ để lại trong các sản phẩm gốm sứ hiện đại, thực trạng sử dụng các chất liệu đó ở Trung Hoa như thế nào.
- Từ đó, phân tích những nguyên nhân các làng nghề gốm sứ Việt Nam còn thiếu sót, trên cơ sở ấy đưa ra những kiến nghị về mô hình “sản nghiệp hóa” văn hóa truyền thống góp phần phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa gốm sứ Việt Nam.
3. Lịch sử vấn đề
Việt Nam là một đất nước của những di sản thế giới, di sản thế giới ở nước ta rất đa dạng từ di sản thiên nhiên (Vịnh Hạ Long, vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng); di sản văn hóa (quần thể di tích cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, thành nhà Hồ, phố cổ Hội An, hoàng thành Thăng Long- Hà Nội); di sản văn hóa phi vật thể ( nhã nhạc cung đình Huế, không gian cồng chiêng Tây Nguyên, dân ca quan họ Bắc Giang, Bắc Ninh, Hội Gióng ở Sóc Sơn, hát xoan, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương- Phú Thọ); di sản tư liệu thế giới (Mộc bản Triều Nguyễn và bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long)
Lý luận về di sản đã được thế giới (UNESCO) và Việt Nam nghiên cứu nhiều năm.
Di sản là một môn khoa học ra đời muộn, Peter Howard cho rằng là vào thời hậu- hậu hiện đại. Ở nước ta, môn học “di sản văn hóa” cũng được đưa vào giảng dạy trong các khoa ngành khoa học xã hội và nhân văn.
Vào cuối năm 80, trường Đại học Văn Hóa Hà Nội đã cho in bộ giáo trình Cơ sở bảo tàng học gồm 3 tập, do tập thể giáo viên bộ môn bảo tàng học biên soạn. Đây là tập sách trình bày những vấn đề cơ bản của bảo tàng học và quan điểm của Lenin về bảo tồn di sản văn hóa. Tiếp đó là giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa do Nguyễn Đăng Duy và Trịnh Thị Minh Đức biên soạn.
Bước sang thế kỉ XXI, sau khi luật di sản văn hóa được Quốc hội thông qua 1/1/2002 và Việt Nam hội nhập quốc tế với nhiều di sản vật thể và phi vật thể được UNESCO vinh danh. Theo đó có rất nhiều công trình nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí Di sản văn hóa; tạp chí Thế giới di sản; tạp chí Heritage; tạp chí Nghiên cứu văn hóa. Nổi bật à giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch do PGS. TS Lê Hồng Lý (chủ biên) dành cho sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật.
Các công trình nghiên cứu chủ yếu với nội dung mô tả một lĩnh vực riêng biệt di sản như một ngành khoa học nhân văn ứng dụng, hay nghiên cứu về đặc điểm các loại hình di sản và vấn đề quản lý di sản trong xu thế mới. Nghĩa là mới chỉ dừng lại ở góc độ bảo tồn chứ chưa đi sâu vào khai thác theo hướng phục vụ phát triển kinh tế và gìn giữ văn hóa nhằm phát triển bền vững các di sản văn hóa. Đó chính là mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, nó nằm trong khái niệm nội hàm của chính sách “sản nghiệp hóa” văn hóa truyền thống của Trung Hoa sẽ được làm rõ trong đề tài này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ của văn hóa truyền thống với phát triển kinh tế thời hội nhập toàn cầu hóa
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: thành phố Khâm Châu, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
+ Phạm vi thời gian: cả quá trình hình thành và phát triển của dòng gốm Ni Hưng
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về khoa học, luận văn góp phần:
- Hệ thống hóa các sản phẩm gốm sứ Ni Hưng
- Xác định những giá trị văn hóa phi vật chất có nguồn gốc Việt cổ.
- Làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế
- Định hướng kế thừa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa gốm sứ truyền thống.
Về mặt thực tiễn, luận văn có thể góp phần giúp:
- Nghiên cứu sản nghiệp hóa làng gốm Việt cổ ở Trung Quốc để tăng cường bảo tồn các di sản văn hóa Việt Nam.
- Định hướng phát triển kinh tế thông qua “sản nghiệp hóa” văn hóa.
- Đồng thời miêu tả, phân loại các sản phẩm Ni Hưng hiện đại thấy được các vấn đề liên quan đến mỹ thuật ứng dụng.
Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy cho ngành văn hóa du lịch, văn hóa kinh doanh,....
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1. Quan điểm tiếp cận
- Quan điểm hệ thống
- Quan điểm liên ngành
- Tiếp cận từ góc độ địa văn hóa
- Tiếp cận từ góc độ sử văn hóa
6.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát thực địa để có thể tiếp cận một cách toàn diện về quá trình sản nghiệp hóa văn hóa gốm sứ Ni Hưng trong tổng thể thời gian và không gian.
- Vận dụng phương pháp so sánh để tìm ra nét tương đồng và khác biệt của gốm sứ Việt cổ và Ni Hưng- Trung Quốc ngày nay.
- Phương pháp hệ thống – cấu trúc: nghiên cứu gốm Việt cổ như là một thành tố nằm trong hệ thống văn hóa Bách Việt
- Ngoài ra còn có phương pháp thu thập và xử lý thông tin, những tài liệu có liên quan đến đề tài trên tạp chí, các công trình nghiên cứu, website…
- Nguồn tư liệu: được thu thập từ các bài nghiên cứu, tạp chí, sách, Internet và các nguồn tư liệu khác.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và kết luận, Luận văn dự kiến gồm 3 chương.
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương này làm rõ các khái niệm về di sản, mỹ thuật ứng dụng, văn hóa kinh tế, sản nghiệp hóa văn hóa, phân tích mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế. Đồng thời sơ lược về vùng đất và con người Khâm Châu từ các khía cạnh địa lý, lịch sử, kinh tế - xã hội… giới thiệu rõ nét hơn về không gian nghiên cứu. Toàn chương góp phần làm rõ vấn đề và làm tiền đề khoa học cho các chương sau.
- Chương 2: Nguồn gốc hình thành và đặc trưng của dòng gốm Ni Hưng. Chương này nêu rõ về nguồn gốc, xuất sứ, đặc trưng và những giá trị “di sản” gốc Việt cổ của dòng gốm Ni Hưng.
- Chương 3: Quá trình “sản nghiệp hóa” văn hóa truyền thống qua dòng gốm Ni Hưng và giá trị của nó. Chương ba sẽ làm rõ các vấn đề về chính sách “sản nghiệp hóa” văn hóa của Trung Quốc và những tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế và văn hóa du lịch Khâm Châu nói chung và dòng gốm Ni Hưng nói riêng.
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Lý luận về di sản
1.1.1. Khái niệm di sản
1.1.2. Phân loại di sản
1.1.3. Định nghĩa di sản văn hóa
1.2 . Lý luận về văn hóa- kinh tế
1.2.1. Lý thuyết tiếp cận văn hóa – kinh tế
1.2.2. Mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế
1.2.3. Khái niệm và nội hàm “sản nghiệp hóa” văn hóa
1.3. Tổng quan về vùng đất Khâm Châu, Quảng Tây, Trung Quốc
1.3.1. Không gian văn hóa
1.3.2. Người Việt cổ và người Hán hiện đại và tiến trình lịch sử văn hóa vùng đất Khâm Châu
Tiểu kết chương 1
Chương 2: NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA DÒNG GỐM NI HƯNG
2.1. Nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển của dòng gốm Ni Hưng
2.1.1. Nguồn gốc Lạc Việt cổ của dòng gốm Ni Hưng
2.1.2. Quá trình phát triển của dòng gốm Ni Hưng
2.2. Phân loại gốm Ni Hưng
2.2.1. Dòng gốm phục dựng di vật văn hóa Lạc Việt cổ
2.2.2. Dòng gốm pha trộn văn hóa Việt – Hán
2.2.3. Dòng gốm văn hóa Hán
2.3. Đặc trưng văn hóa của dòng gốm Ni Hưng
2.3.1. Tính lịch sử
2.3.2. Tính dung hợp
2.3.3. Tính thị trường
2.3.4. Các đặc trưng khác
Tiểu kết chương 2
Chương 3: QUÁ TRÌNH “SẢN NGHIỆP HÓA” VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG QUA DÒNG GỐM NI HƯNG VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ
3.1. Chính sách sản nghiệp hóa và tác động của nó
3.2. Sự thể hiện của chính sách “sản nghiệp hóa” ở dòng gốm Ni Hưng
3.3. Hệ quả và giá trị của quá trình “sản nghiệp hóa” gốm Ni Hưng
3.4. Tính quy luật của quá trình khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triển kinh tế qua dòng gốm Ni Hưng và bài học cho Việt Nam
Tiểu kết chương 3
Kết luận
Phụ lục hình ảnh
Những chuẩn bị cho viêc thực hiện đề tài
1. Hương thực hiện đề tài
Tiếp cận tài liệu: tài liệu sách, thực địa và mạng internet
2. Kế hoạc làm việc
Sưu tầm tài liệu: 20%
Xử lý tài liêu: 30%
Viết: 50%