Phụ nữ đơn thân trong xã hội Việt Nam hiện nay
Bài tập môn: Phương pháp nghiên cứu văn hóa học và Văn hóa trong khu vực học
Giảng viên: GS. TSKH. Trần Ngọc Thêm
Học viên: Trần Thị Gái – Lớp Châu Á học 2012 đợt 1
----------------------------
1. Chọn phạm vi, đề tài: Phụ nữ đơn thân trong xã hội Việt Nam hiện nay
2. Các cặp phạm trù đối lập
Phụ nữ đơn thân – Nam đơn thân
Văn hóa truyền thống – Văn hóa hiện đại
Nguyên nhân khách quan – nguyên nhân chủ quan
Điều kiện sinh sống – ý thức giáo dục
3. Nghiên cứu từng cặp đối lập (kiểm tra tính tương hiện, tương hóa, hướng hòa)
* Tương hiện
Văn hóa truyền thống – Văn hóa hiện đại: Đa số những người phụ nữ đơn thân đều mong muốn có một gia đình, có một đứa con do chính họ sinh ra. Điều đó thể hiện họ luôn là người biết coi trọng gia đình, giữ gìn nòi giống, phát triển dòng họ. Đây chính là nét đặc thù của văn hóa truyền thống Việt Nam. Để sinh ra được những đứa con của mình, họ đã vượt qua sự e ngại của bản thân, vượt qua dư luận xã hội chê cười, vượt qua gia đình chỉ trích. Điều đó chứng tỏ rằng, trong bản thân người phụ nữ đơn thân tồn tại yếu tố hiện đại và trong hiện đại toát lên yếu tố truyền thống.
Nguyên nhân khách quan – nguyên nhân chủ quan: Theo như kết quả nghiên cứu, lý do mà những phụ nữ đơn thân thường không lập gia đình được đều là do khách quan như do định kiến xã hội phụ nữ chính chuyên có một chồng, chồng chết là ở vậy nuôi con suốt đời; một số chị em phụ nữ đi bộ đội, thanh niên xung phong trở về địa phương đã cao tuổi, sức yếu nên khó khăn trong việc lập gia đình; một số chị em không tìm được người ưng ý để xây dựng gia đình; một số chị em do lỡ dở tình yêu ban đầu nên không muốn kết hôn nữa; …Bên cạnh đó, có một số chị em phụ nữ tiến bộ được học cao, hiểu biết rộng nên có một số chị nghĩ rằng lấy chồng rất khổ nên muốn ở vậy, tự sinh con và nuôi con theo ý muốn của họ. Vì vậy, ta thấy rằng trong cái khách quan luôn tồn tại cái chủ quan và ngược lại.
* Tương hóa
Điều kiện sinh sống – ý thức giáo dục: Hầu hết những người phụ nữ đơn thân là những người có hoàn cảnh kinh tế khó khan, họ phải tự mình đi làm kiếm sống và nuôi con. Điều đó dẫn đến việc giáo dục con cái không được chu đáo, chăm sóc con cái chưa được toàn diện nên có nhiều trường hợp những đứa con của những người phụ nữ đơn thân khi lớn lên dễ sa vào những tệ nạn xã hội do thiếu thốn tình cảm gia đình, học hành không cao, thiếu hiểu biết.
* Hướng hòa
Hiểu được hoàn cảnh của những người phụ nữ đơn thân, Đảng và Nhà nước ta cần có những chính sách để giúp đỡ họ về kinh tế, tạo công ăn việc làm them thu nhập để họ có thể chăm sóc và dạy dỗ con cái của họ nên người. Đồng thời, Nhà nước cũng thường xuyên vận động họ tham gia vào các hoạt động tích cực mà địa phương tổ chức. Hơn nữa, Nhà nước cũng cần có những quy định cụ thể về quyền tự do kết hôn và không kết hôn, không lập gia đình của nam và nữ; quyền tự do sinh con và nuôi con của phụ nữ mặc dù họ chưa lập gia đình; quyền của trẻ em sinh ngoài giá thú được đối xử bình đẳng như những trẻ em khác.
4. Sử dụng phương pháp Dịch lý để phân tích đề tài
- Từ khóa: phụ nữ đơn thân, xã hội Việt Nam hiện nay
- Cấu trúc ngữ pháp tên đề tài: Phụ nữ đơn thân (Danh từ trung tâm) + xã hội Việt Nam hiện nay (định tố)
- Cấu trúc đề tài: [Định vị đối tượng nghiên cứu] + cách nhìn văn hóa, xã hội
- Cấu trúc cấp hệ:
Giảng viên: GS. TSKH. Trần Ngọc Thêm
Học viên: Trần Thị Gái – Lớp Châu Á học 2012 đợt 1
----------------------------
1. Chọn phạm vi, đề tài: Phụ nữ đơn thân trong xã hội Việt Nam hiện nay
2. Các cặp phạm trù đối lập
Phụ nữ đơn thân – Nam đơn thân
Văn hóa truyền thống – Văn hóa hiện đại
Nguyên nhân khách quan – nguyên nhân chủ quan
Điều kiện sinh sống – ý thức giáo dục
3. Nghiên cứu từng cặp đối lập (kiểm tra tính tương hiện, tương hóa, hướng hòa)
* Tương hiện
Văn hóa truyền thống – Văn hóa hiện đại: Đa số những người phụ nữ đơn thân đều mong muốn có một gia đình, có một đứa con do chính họ sinh ra. Điều đó thể hiện họ luôn là người biết coi trọng gia đình, giữ gìn nòi giống, phát triển dòng họ. Đây chính là nét đặc thù của văn hóa truyền thống Việt Nam. Để sinh ra được những đứa con của mình, họ đã vượt qua sự e ngại của bản thân, vượt qua dư luận xã hội chê cười, vượt qua gia đình chỉ trích. Điều đó chứng tỏ rằng, trong bản thân người phụ nữ đơn thân tồn tại yếu tố hiện đại và trong hiện đại toát lên yếu tố truyền thống.
Nguyên nhân khách quan – nguyên nhân chủ quan: Theo như kết quả nghiên cứu, lý do mà những phụ nữ đơn thân thường không lập gia đình được đều là do khách quan như do định kiến xã hội phụ nữ chính chuyên có một chồng, chồng chết là ở vậy nuôi con suốt đời; một số chị em phụ nữ đi bộ đội, thanh niên xung phong trở về địa phương đã cao tuổi, sức yếu nên khó khăn trong việc lập gia đình; một số chị em không tìm được người ưng ý để xây dựng gia đình; một số chị em do lỡ dở tình yêu ban đầu nên không muốn kết hôn nữa; …Bên cạnh đó, có một số chị em phụ nữ tiến bộ được học cao, hiểu biết rộng nên có một số chị nghĩ rằng lấy chồng rất khổ nên muốn ở vậy, tự sinh con và nuôi con theo ý muốn của họ. Vì vậy, ta thấy rằng trong cái khách quan luôn tồn tại cái chủ quan và ngược lại.
* Tương hóa
Điều kiện sinh sống – ý thức giáo dục: Hầu hết những người phụ nữ đơn thân là những người có hoàn cảnh kinh tế khó khan, họ phải tự mình đi làm kiếm sống và nuôi con. Điều đó dẫn đến việc giáo dục con cái không được chu đáo, chăm sóc con cái chưa được toàn diện nên có nhiều trường hợp những đứa con của những người phụ nữ đơn thân khi lớn lên dễ sa vào những tệ nạn xã hội do thiếu thốn tình cảm gia đình, học hành không cao, thiếu hiểu biết.
* Hướng hòa
Hiểu được hoàn cảnh của những người phụ nữ đơn thân, Đảng và Nhà nước ta cần có những chính sách để giúp đỡ họ về kinh tế, tạo công ăn việc làm them thu nhập để họ có thể chăm sóc và dạy dỗ con cái của họ nên người. Đồng thời, Nhà nước cũng thường xuyên vận động họ tham gia vào các hoạt động tích cực mà địa phương tổ chức. Hơn nữa, Nhà nước cũng cần có những quy định cụ thể về quyền tự do kết hôn và không kết hôn, không lập gia đình của nam và nữ; quyền tự do sinh con và nuôi con của phụ nữ mặc dù họ chưa lập gia đình; quyền của trẻ em sinh ngoài giá thú được đối xử bình đẳng như những trẻ em khác.
4. Sử dụng phương pháp Dịch lý để phân tích đề tài
- Từ khóa: phụ nữ đơn thân, xã hội Việt Nam hiện nay
- Cấu trúc ngữ pháp tên đề tài: Phụ nữ đơn thân (Danh từ trung tâm) + xã hội Việt Nam hiện nay (định tố)
- Cấu trúc đề tài: [Định vị đối tượng nghiên cứu] + cách nhìn văn hóa, xã hội
- Cấu trúc cấp hệ:


