HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO TẠI VN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO TẠI VN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Gửi bàigửi bởi trinh khanh giang » Thứ 4 19/02/14 23:20

Môn: Phương pháp nghiên cứu Văn hóa học
SVTH: Trịnh Thị Khánh Giang
Lớp: Cao học Văn hóa học K14A

Bài tập 1:
1. Tên đề tài: “Hôn nhân khác tôn giáo tại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa học”
2. Các cặp phạm trù đối lập:
- Hôn nhân khác tôn giáo >< Hôn nhân cùng tôn giáo
- Quan điểm hôn nhân khác tôn giáo truyền thống >< Quan điểm hôn nhân khác tôn giáo hiện nay
- Giữ đạo >< cải đạo
3. Vận dụng phương pháp dịch lý:
• Tính tương hiện:
Hôn nhân là kết quả của tình yêu, xây dựng trên cơ sở tự nguyện của 2 người và phù hợp với quy định pháp luật. Những cuộc hôn nhân cùng tôn giáo thường hạnh phúc, thuận lợi hơn so với những cuộc hôn nhân khác tôn giáo chính vì thế mà hôn nhân cùng tôn giáo luôn là đích đến của những cuộc hôn nhân khác tôn giáo.
Hôn nhân khác tôn giáo ngày xưa là một điều không thể chấp nhận và bị lên án mạnh mẽ, nhưng vẫn có một số ít người vượt qua những rào cản để bảo vệ hạnh phúc cá nhân, nhằm hướng đến sự tự do hôn nhân như ngày nay. Hôn nhân khác tôn giáo hiện nay được quan niệm cởi mở, chấp nhận hơn nhưng những thống kê về tình trạng ly hôn do khác tôn giáo khiến nhiều người vẫn duy trì định kiến về những cuộc hôn nhân khác tôn giáo.
Những cuộc hôn nhân khác tôn giáo giữa những đôi vợ chồng (1 bên có đạo - 1 bên không; 1 bên theo đạo này - 1 bên theo đạo khác), chính vì thế ai cũng muốn bảo vệ tôn giáo của mình và luôn có xu hướng làm cho đối phương cải đạo giống mình. Mặc khác, niềm tin tôn giáo là một điều thiêng liêng và khó lý giải, nên khi một ai đó cố gắng thay đổi đức tin của mình thì họ càng ra sức bảo vệ tôn giáo của mình đang tin theo.
• Tính tương hóa:
Nếu quá bảo thủ, không chấp nhận những cuộc hôn nhân khác tôn giáo thì tôn giáo vô tình tạo ra những rào cản hạn chế hạnh phúc của con người.
Nếu chấp nhận hôn nhân khác tôn giáo thì bản thân những tín đồ lại đánh mất sự thiêng liêng trong niềm tin tôn giáo.
• Tính hướng hòa:
Cuộc hôn nhân khác tôn thường không dẫn đến hạnh phúc nhưng cũng không hẳn hôn nhân cùng tôn giáo sẽ được hạnh phúc. Chính vì thế hôn nhân khác tôn giáo hay cùng tôn giáo luôn đặt hạnh phúc lứa đôi là trọng yếu.
Bài tập 2:
1. Có 3 từ khóa: hôn nhân, khác tôn giáo, văn hóa học.
2. Cấu trúc ngữ pháp: Hôn nhân khác tôn giáo (danh từ trung tâm); Việt Nam (định tố); dưới góc nhìn văn hóa học (định tố)
3. Cấu trúc cấp hệ của các đối tượng

Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
trinh khanh giang
 
Bài viết: 24
Ngày tham gia: Thứ 6 13/09/13 21:24
Cảm ơn: 1 lần
Được cám ơn: 5 lần

Re: HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO TẠI VN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Gửi bàigửi bởi nguyễn thị quỳnh » Thứ 7 22/02/14 4:40

Chào bạn Khánh Giang. Theo mình thấy, hầu hết đàn ông cưới vợ "có đạo" đều không phải theo tôn giáo nhà vợ. Nhưng hầu hết phụ nữ cưới chống "có đạo" đều phải học tập giáo lý của đạo bên nhà chồng chán chê rồi mới được lấy. Vậy cái này không biết có nên đặt tên thành 1 cặp phạm trù hay ko?
RANDOM_AVATAR
nguyễn thị quỳnh
 
Bài viết: 47
Ngày tham gia: Thứ 3 18/02/14 15:51
Đến từ: Vĩnh Phúc
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 7 lần

Re: HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO TẠI VN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Gửi bàigửi bởi trinh khanh giang » Thứ 7 22/02/14 20:29

cảm ơn bạn đã góp ý vấn đề này! theo mình quan sát thì đàn ông lấy vợ có đạo vẫn đi học tập giáo lý bình thường rồi mới tiến hành kết hôn, mình cũng suy nghĩ về góp ý của bạn nhưng mình nghĩ vấn đề này chung quy lại cũng là một bên cố gắng giữ đạo, một bên cố cải đạo của đối phương! nhưng cảm ơn bạn đã gợi ý cho mình một hướng nghiên cứu để có thể phân tích sâu thêm trong phần triển khai!
cảm ơn Quỳnh nhiều nhé!
RANDOM_AVATAR
trinh khanh giang
 
Bài viết: 24
Ngày tham gia: Thứ 6 13/09/13 21:24
Cảm ơn: 1 lần
Được cám ơn: 5 lần

Re: HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO TẠI VN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Gửi bàigửi bởi trinh khanh giang » Thứ 5 27/02/14 23:46

BÀI TẬP 3: Định vị đối tượng và lập đề cương chi tiết cho đề tài đã chọn
1. Lý do chọn đề tài
Con người ai cũng có nhu cầu, khát khao tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân trong cuộc sống hôn nhân, tuy nhiên đôi khi điều mong ước ấy lại chính là một điều rắc rối, thậm chí là một bi kịch cho thế giới con người. Con người tạo ra vẻ đẹp của tình yêu và sức mạnh của hôn nhân nhưng chính họ cũng tạo nên những rào cản đối với những khát vọng lớn nhất trong cuộc đời chính mình. Những quan niệm khắt khe về hôn nhân khác tôn giáo đã đặt tình yêu, hôn nhân vào những quy phạm ngặt nghèo và những sự chọn lựa khắc nghiệt.
Thế kỷ XXI đã đến, sự phát triển vượt bậc về khoa học kĩ thuật, xu hướng toàn cầu hóa thuật kéo theo sự thay đổi về nhận thức, cách nhìn nhận về hôn nhân ngày nay. Hôn nhân hiện nay là quyền lợi của cá nhân và các cuộc hôn nhân đều là kết quả của sự tự do, lựa chọn đối phương sau một thời gian tìm hiểu lâu dài. Những rào cản tôn giáo cũng dần được giải phóng nhưng trên thực tế có nhiều cuộc hôn nhân khác tôn giáo thường không hoàn toàn hạnh phúc. Chính vì thế những cuộc hôn nhân khác tôn giáo gần như không được khuyến khích và nếu nhận được sự ưng thuận thì những cuộc hôn nhân đó trở thành mối bận tâm, lo lắng cho cả hai bên gia đình.
Hôn nhân không cùng tôn giáo dù quá khứ hay hiện đại vẫn còn là một vấn đề làm cho nhiều người suy ngẫm. Bản thân tôi đã chứng kiến vài cuộc tình khác đạo đầy ngang trái, khổ đau và chia tay trong nhiều nuối tiếc cũng đã khiến tôi suy nghĩ và cố gắng luận giải khi tôi bắt đầu học nghiên cứu văn hóa. Chính vì thế, tôi quyết định chọn đề tài “Hôn nhân khác tôn giáo tại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa học” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm chỉ ra những điểm tích cực và hạn chế trong những cuộc hôn nhân khác tôn giáo, đồng thời lý giải những định kiến về hôn nhân khác đạo dưới cách tiếp cận của người nghiên cứu văn hóa. Để từ đó đưa ra những cách nhìn khách quan cho những người trong cuộc và đề xuất giải pháp cho vấn đề nay.
3. Lịch sử vấn đề
Đề tài về hôn nhân khác tôn giáo cũng đã được một số nhà nghiên cứu đề cập nhưng chủ yếu là những bài thuyết giảng với các tín đồ, nhưng phần lớn những bài thuyết giảng này ít tính khách quan và thiên về sự bảo vệ giáo lý tôn giáo.
Hoặc một số bài được đăng tải trên tạp chí như tác giả Hồ Xuân Định 2011: Một số đóng góp tôn giáo với văn hóa Việt Nam – Trong “Tạp chí nghiên cứu tôn giáo”. Số 7, tr 25-35, nhưng cũng chỉ dừng lại trong việc hệ thống lại những ảnh hưởng của tôn giáo nhưng không làm rõ vấn đề hôn nhân. Tác giả Lê Thi trong bài nghiên cứu của mình, Lê Thi 2011: Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về hôn nhân gia đình giữa các thế hệ Việt Nam hiện nay – Trong “Tạp chí khoa học xã hội”. Số 1, tr 13-18, đã phần nào tái hiện được những quan niệm hôn nhân, có đề cập đến vấn đề hôn nhân khác đạo nhưng vẫn chưa đi vào chi tiết hoặc nhìn hôn nhân khác tôn giáo dưới nhiều góc độ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hôn nhân giữa cặp vợ chồng mà 1 bên theo đạo, 1 bên không theo đạo; 1 bên theo đạo này, 1 bên theo đạo khác. Đề tài chủ yếu nghiên cứu tại Việt Nam, và đi từ quá khứ đến hiện đại nhưng chủ yếu tập trung phân tích vào giai đoạn hiện nay.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Nếu đề tài thành công, tác giả hi vọng có thể đóng góp vào nguồn tư liệu về những xu hướng đề hôn nhân trong giai đoạn hiện nay và đề tài sẽ là một cẩm nang giúp những người chuẩn bị, đang và đã có những cuộc hôn nhân khác tôn giáo có cách nhìn khách quan và đưa ra những chọn lựa chính xác trong đời sống hôn nhân.
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hệ thống: được sử dụng để nghiên cứu một cách bao quát và toàn diện mối quan hệ giữa tôn giáo và hôn nhân theo bình diện chủ thể - không gian – thời gian. Phương pháp này bao gồm cách tiếp cận liên ngành để tổng hợp thông tin, kết quả nghiên cứu của những ngành có liên quan như tôn giáo, xã hội học, luật học, nhân học, chính trị…
Phương pháp dịch lý: tìm ra mối quan hệ tác động lẫn nhau từ những vấn đề mâu thuẫn trong vấn đề nghiên cứu để đưa ra nguyên nhân cũng như hướng giải quyết cho công trình nghiên cứu.
Phương pháp so sánh: được thực hiện nhằm so sánh hôn nhân khác tôn giáo giữa Việt Nam và các quốc gia khác trên thế giới để tìm thấy những nét tương đồng và dị biệt trong cùng một vấn đề. So sánh lịch đại để thấy được sự biến đổi theo thời gian từ đó có thể dự báo hướng phát triển.
* Nguồn tài liệu
Đề tài dựa trên các nguồn tư liệu chính sau:
- Những công trình nghiên cứu về hôn nhân, tôn giáo, văn hóa tôn giáo tại Việt Nam và một số quốc gia khác.
- Các bài viết trên tạp chí có uy tín tại Việt Nam về các lĩnh vực như văn hóa, tôn giáo, đời sống hôn nhân, gia đình.
- Bài thuyết giảng về vai trò của tôn giáo trong hôn nhân tại các buổi tọa đàm với tín đồ.
- Một số bài báo, tư vấn hôn nhân liên quan đến đề tài công bố trên website.
7. Bố cục
Chương 1: Những tiền đề lý thuyết về hôn nhân khác tôn giáo.
Nội dung chương này trình bày các vấn đề lý thuyết, giải thích các khái niệm, khảo sát quy định hôn nhân trong giáo lý của các tôn giáo tại Việt Nam, bao gồm các quan niệm từ quá khứ đến hiện đại về đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Chương 2: Thực trạng hôn nhân khác tôn giáo tại Việt Nam
Chương này gồm 2 nội dung chính là phân tích để chỉ ra những ảnh hưởng của hôn nhân khác tôn giáo tại Việt Nam, đồng thời tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra những định kiến về hôn nhân khác đạo.
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra trong hôn nhân khác tôn giáo và những đề xuất.
Những vấn đề phát sinh trong hôn nhân khác đạo và đưa ra những đề xuất nhằm giúp những cặp vợ, chồng có được hạnh phúc trọn vẹn trong hôn nhân khác tôn giáo tại Việt Nam.
Cấu trúc trình bày
Chương 1: Những tiền đề lý thuyết hôn nhân khác tôn giáo.
1.1. Các khái niệm.
1.1.1. Hôn nhân.
1.1.2. Tôn giáo.
1.1.3. Văn hóa
1.2. Quan điểm hôn nhân trong các giáo lý tôn giáo.
1.2.1. Tôn giáo ngoại lai.
1.2.2. Tôn giáo bản địa.
Tiểu kết
Chương 2: Thực trạng hôn nhân khác tôn giáo tại Việt Nam.
2.1. Vai trò của tôn giáo trong hôn nhân.
2.1.1. Hôn nhân cùng tôn giáo.
2.1.2. Hôn nhân khác tôn giáo.
2.2. Những ảnh hưởng của hôn nhân khác tôn giáo
2.2.1. Cuộc sống hôn nhân.
2.2.2. Niềm tin tôn giáo.
2.3. Những giá trị của hôn nhân khác tôn giáo.
2.3.1. Cá nhân.
2.3.2. Cộng đồng.
Tiểu kết
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra cho hôn nhân khác tôn giáo và những đề xuất.
3.1. Cải đạo trong hôn nhân khác tôn giáo.
3.2. Hòa hợp giữa tôn giáo và hôn nhân khác đạo.
3.3. Những giải pháp trong hôn nhân khác tôn giáo.
Tiểu kết
KẾT LUẬN
RANDOM_AVATAR
trinh khanh giang
 
Bài viết: 24
Ngày tham gia: Thứ 6 13/09/13 21:24
Cảm ơn: 1 lần
Được cám ơn: 5 lần

Re: HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO TẠI VN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Gửi bàigửi bởi trinh khanh giang » Thứ 6 28/02/14 0:03

Bài tập 4: Sưu tầm tư liệu
A. Sách
1. Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa 2000: Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay.- Thanh niên:Nxb,
2. Lê Đức Hạnh 2012: Hôn nhân và nếp sống đạo trong gia đình người Việt Công Giáo.-Văn hóa Thông tin:Nxb,
3. Trương Sĩ Hùng 2010: Tôn giáo trong đời sống văn hóa Đông Nam Á.-VHTT & Viện Văn hóa:Nxb,
4. Trương Sĩ Hùng (chủ biên) 2003: Mấy tín ngưỡng tôn giáo Đông Nam Á.-Thanh niên:Nxb,
5. Thích Tâm Quang (biên dịch) 2007: Những tôn giáo trong đời sống nhân loại.-Tôn giáo:Nxb,
6. Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) 1998: Những vẫn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam.-Khoa học Xã hội:Nxb,
B. Tạp chí
1. Nguyễn Thành Nam 2008: Quan niệm, điều kiện và một số biến đổi trong hôn nhân của người Việt theo Công giáo ở Việt Nam hiện nay - Trong “Tạp chí nghiên cứu tôn giáo”. Số 11, tr 35-41,
2. Hồ Xuân Định 2011: Một số đóng góp tôn giáo với văn hóa Việt Nam – Trong “Tạp chí nghiên cứu tôn giáo”. Số 7, tr 25-35,
3. Nguyễn Quốc Tuấn 2011: Trở lại mối quan hệ giữa tôn giáo, văn hóa và chính trị - Trong “Tạp chí nghiên cứu tôn giáo”. Số 2, tr 17-26,
4. Đặng Thế Đại 2010: Tôn giáo cách nhìn văn hóa học – Trong “Tạp chí nghiên cứu tôn giáo”. Số 12, tr 16-21,
5. Lê Thi 2011: Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về hôn nhân gia đình giữa các thế hệ Việt Nam hiện nay – Trong “Tạp chí khoa học xã hội”. Số 1, tr 13-18,
C. Internet
1. http://chuaphuclam.vn/index.php?/phat-g ... t-hiu.html
2. http://giacngo.vn/chude/hoithaohdpttoan ... 10/7F6649/
3. http://phatgiao.org.vn/loi-phat-day/201 ... -dat-8932/
4. http://www.ubmvgiadinh.org/article/h%E1 ... -gi%C3%A1o
5. http://baobaovephapluat.vn/suc-khoe-doi ... n-2305734/

* SỬ DỤNG DOCUMENT MAP


Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
trinh khanh giang
 
Bài viết: 24
Ngày tham gia: Thứ 6 13/09/13 21:24
Cảm ơn: 1 lần
Được cám ơn: 5 lần

Re: HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO TẠI VN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Gửi bàigửi bởi trinh khanh giang » Thứ 4 12/03/14 22:15

Bài số 5 so sánh 2 đối tượng

Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
trinh khanh giang
 
Bài viết: 24
Ngày tham gia: Thứ 6 13/09/13 21:24
Cảm ơn: 1 lần
Được cám ơn: 5 lần

Re: HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO TẠI VN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Gửi bàigửi bởi trinh khanh giang » Thứ 6 21/03/14 22:56

Bài tập số 8: Chọn nội dung thích hợp trong đề tài để vận dụng phương pháp loại hình nhằm phát hiện những tri thức mới.
1. Lựa chọn hệ thống loại hình
Vận dụng hệ thống loại hình phổ quát nam - nữ vào đề tài
Hình ảnh
2. Phân loại các phần tử và đối tượng nghiên cứu thành các nhóm
Trong hôn nhân khác tôn giáo, nam và nữ đều muốn giữ đạo của mình, chỉ có điều khác biệt là nam không có nhu cầu cải đạo đối phương -> ai giữ đạo nấy. Ngược lại, nữ luôn cố gắng cải đạo đối phương -> cả 2 cùng đạo.
3. Lập ánh xạ giữa hệ thống các nhóm của đối tượng nghiên cứu với hệ thống loại hình đã chọn
Hình ảnh
4. Vận dụng phương pháp loại hình nam (dương tính ) – nữ (âm tính) để lý giải những tan vỡ trong hôn nhân khác đạo. Nữ với tính linh hoạt, biến đổi không ngừng nên luôn ứng biến thoát khỏi sự ép buộc của nam giới (nếu có) một cách dễ dàng, hiếu hòa. Nữ quá âm tính nên có xu hướng hướng đến sự ổn định lâu dài chính vì thế, nữ giới trong hôn nhân khác đạo luôn tìm đủ mọi cách chi phối khiến cho đối phương cải đạo giống mình. Nam vì quá trọng nguyên tắc, độc tôn trong cách thức tiếp nhận chính do đó họ khó có thể chấp nhận việc bị cải đạo nên luôn phản kháng một cách quyết liệt và cứng rắn. Kết quả là nam và nữ khó có thể hòa hợp trong hôn nhân khác đạo khi 2 đối tượng hướng đến 2 mục tiêu hoàn toàn khác nhau.
RANDOM_AVATAR
trinh khanh giang
 
Bài viết: 24
Ngày tham gia: Thứ 6 13/09/13 21:24
Cảm ơn: 1 lần
Được cám ơn: 5 lần

Re: HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO TẠI VN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Gửi bàigửi bởi trinh khanh giang » Thứ 7 29/03/14 23:45

Bài tập số 6
1. Các định nghĩa hiện có
1. Theo Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt
Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng.
2. Theo từ điển bách khoa Wikipedia:
Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội và/hoặc tôn giáo một cách hợp pháp.
3. Theo Thomas Barfield, The Dictionary of Anthropology, 1999, tr 304.
Hôn nhân (Marriage) là sự ràng buộc được công nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà, và như thuật ngữ này thường được hiểu về mặt văn hóa là nhằm mục đích sinh sản hợp pháp, xây dựng một gia đình hạt nhân, hoặc tạo ra một hộ gia đình mới.
4. En.wikipedia. Hôn nhân (còn gọi là tình trạng hôn nhân) là một liên minh xã hội hoặc nghi thức được công nhận hoặc hợp đồng pháp lý giữa những cặp vợ chồng, để thiết lập quyền và nghĩa vụ giữa họ, giữa họ và con cái của họ, và giữa họ với pháp luật.
2. Phân tích từng định nghĩa
Hình ảnh
3. Phân loại các định nghĩa, xác định những nét nghĩa chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai, thiếu cần được sửa chữa.
Định nghĩa Hoàng Phê và Wikipedia có đặc trưng giống: là việc nam nữ, là sự kết hợp của các cá nhân.
Những đặc trưng có thể tiếp thu: sự kết hợp của các cá nhân, sự ràng buộc giữa một người đàn ông và đàn bà, được công nhận, một cách hợp pháp.
4. Tìm tất cả các khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả để điều chỉnh bổ sung các đặc trưng của nội dung định nghĩa.
Hiện nay xuất hiện hôn nhân đồng tính (đồng giới) nghĩa là không phải là hôn nhân giữa nam và nữ đơn thuần. Hôn nhân đồng giới (đồng tính) là sự kết hợp giữa 2 đối tượng cùng giới với nhau.
5. Xác định đặc trưng giống (khái nhiệm chung cùng loại)
Là sự ràng buộc hợp pháp
6. Xác định các đặc trưng loài (khu biệt được khái niệm cần định nghĩa với những khái niệm cùng bậc)
- Cùng giới hoặc khác giới
- Được công nhận
- Tại nơi họ sinh sống
-> Sản phẩm sơ bộ: Hôn nhân là sự ràng buộc (Kết hợp) hợp pháp giữa người cùng giới hoặc khác giới với nhau được công nhận tại nơi họ sinh sống.
7. Lập sơ đồ, kiểm tra việc đáp ứng các nhu cầu về hình thức và nội dung, chỉnh sửa lại
Hình ảnh
Điều chỉnh một số từ cho phù hợp: sự ràng buộc -> sự kết hợp; sống -> cư trú; được công nhận không rõ đối tượng nào công nhận -> được cộng đồng và luật pháp công nhận.
- Sản phẩm cũ: Hôn nhân là sự ràng buộc hợp pháp giữa người cùng giới hoặc khác giới được công nhận tại nơi họ sinh sống.
-> Sản phẩm hoàn thiện: Hôn nhân là sự kết hợp hợp pháp giữa hai người cùng giới hoặc khác giới với nhau, được cộng đồng và luật pháp nơi họ cư trú công nhận.
RANDOM_AVATAR
trinh khanh giang
 
Bài viết: 24
Ngày tham gia: Thứ 6 13/09/13 21:24
Cảm ơn: 1 lần
Được cám ơn: 5 lần

Re: HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO TẠI VN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Gửi bàigửi bởi Duong Thanh Mai » Chủ nhật 30/03/14 1:22

Chào Giang, mình có thắc mắc:
"Hôn nhân là sự kết hợp hợp pháp giữa hai người cùng giới hoặc khác giới với nhau, được cộng đồng và luật pháp nơi họ cư trú công nhận"
Sản phẩm định nghĩa trên của bạn không khu biệt đặc trưng ở từ khóa "kết hợp". Kết hợp gì? là kết hợp tình cảm, tình dục (có thể có thêm kết hợp tài sản,...) giữa vợchồng hoặc giữa hai người cùng giới. Bạn không khu biệt chỗ này, nên dẫn đến trường hợp như mẹ và con gái, bố và con trai cũng có sự kết hợp hợp pháp trên giấy tờ, hộ khẩu..., được cộng đồng và luật pháp toàn thế giới (bao gồm cả nơi cư trú) công nhận, thỏa mãn nội hàm định nghĩa trên của bạn.
Thêm ý nữa, chữ "và" trong cụm từ "được cộng đồng và luật pháp" ở trên có hợp lý không? Tại rất nhiều nơi và nhiều cộng đồng thuộc châu Á, châu Phi; sự gắn kết tình cảm, tình dục (có thể thêm tài sản, con cái....) giữa vợ và chồng thì được xã hội và tập quán xem là hôn nhân, dù chẳng có hôn thú hay giấy tờ gì cả (hôn nhân thực tế theo góc độ xã hội). Theo thiển ý của mình, thay bằng hoặc sẽ đúng hơn. "A hoặc B", thì lấy A cũng được, lấy B cũng được, cả A lẫn B cũng được. Và khi đã dùng chữ "hoặc", thì từ "hợp pháp" trong cụm từ "kết hợp hợp pháp" không cần thiết nữa.
RANDOM_AVATAR
Duong Thanh Mai
 
Bài viết: 25
Ngày tham gia: Thứ 3 14/02/12 10:00
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: HÔN NHÂN KHÁC TÔN GIÁO TẠI VN DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Gửi bàigửi bởi trinh khanh giang » Chủ nhật 30/03/14 23:33

Chào bạn Thanh Mai!
Cảm ơn bạn vì những đóng góp rất tinh tế của bạn, bạn nói đúng về phần mình chưa khu biệt rõ ràng chỗ sự kết hợp hợp pháp. Thật sự là mình quên nghĩ tới vấn đề là sự kết hợp giữa mẹ và con gái, giữa bố và con trai cũng là sự kết hợp hợp pháp. Bạn góp ý rất chính xác. Mình đang suy nghĩ lại để bổ sung thêm phần đặc trưng giống để khu biệt được rõ ràng hơn. Mình cũng định bổ sung thêm vào phần cuối là "được cộng đồng hoặc pháp luật nơi họ cư trú thừa nhận là vợ, chồng" để khu biệt chuyện là bố - con gái, mẹ - con trai có những quan hệ tình cảm, tình dục thì luật pháp và cộng đồng vẫn không thừa nhận đó là vợ, chồng.
Còn phần "được cộng đồng và pháp luật" mà bạn góp ý, chỗ này lúc làm mình cũng phân vân, lúc đầu thì mình định viết ""được cộng đồng, pháp luật", nhưng lại bị chi phối chỗ ""2 người cùng giới"" nên mình mới thêm từ ""và"" vào như là muốn khẳng định là hôn nhân đồng giới được luật pháp công nhận. nhưng có vẻ lại làm rối thêm.
Mỗi lần up bài tập lên diễn đàn mình luôn chờ đợi xem có ai phản hồi hay đóng góp ý kiến cho bài của mình không, cảm giác chờ đợi giống như là chờ đợi tin nhắn của người yêu vậy :D . Hôm nay được bạn góp ý mình rất là vui!
Cảm ơn bạn! Chúc bạn luôn vui nhé!
RANDOM_AVATAR
trinh khanh giang
 
Bài viết: 24
Ngày tham gia: Thứ 6 13/09/13 21:24
Cảm ơn: 1 lần
Được cám ơn: 5 lần

Trang kế tiếp

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến4 khách

cron