Lớp: NCS – K3 (VHH)
MÔN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
GV: GS.TSKH Trần Ngọc Thêm
BÀI TẬP 1+2:
1. Chọn cho mình một (phạm vi) đề tài và xác định (các) cặp phạm trù đối lập (các mâu thuẫn).
2. Vận dụng phương pháp dịch lý để nghiên cứu (từng) cặp đối lập đó (kiểm tra tính tương hiện, kiểm tra tính tương hóa, kiểm tra tính hướng hòa…).
3. Vận dụng phương pháp dịch lý để phân tích và lập cấu trúc đề tài.
BÀI LÀM
Đề tài: QUẢN LÝ ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG
1. Xác định các cặp phạm trù đối lập
1.1. Quản lý (vì những mục tiêu nào đó)>< các hiện tượng tự phát (nằm ngoài các mục tiêu)
1.2. Tính đại chúng (Popular )>< Tính tinh hoa (Elite, High )
1.3. Các sản phẩm truyền hình truyền thống><các sản phẩm nghe nhìn phi truyền thống (new media)
2. Phân tích từng cặp phạm trù đối lập
2.1. Tính tương hiện
2.1.1. Quản lý và tự phát
Trong quản lý luôn tiềm ẩn những hành động tự phát:
Quản lý là một lĩnh vực rất rộng gắn liền với con người và các hoạt động của con người. Nếu buông lỏng quản lý, lập tức sẽ xuất hiện những hiện tượng tự phát. Đối với hoạt động truyền hình, quản lý nhằm tới mục đích đem tới cho khán giả những sản phẩm truyền hình đáp ứng các mục tiêu thông tin, giáo dục và giải trí. Riêng ở Việt Nam sản phẩm truyền hình còn phải đáp ứng mục tiêu tuyên truyền theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quản lý truyền hình vì thế sẽ hạn chế những hiện tượng chệch hướng khỏi mục tiêu, không đạt mục tiêu hoặc vượt quá giới hạn mong muốn của mục tiêu.
Trong những hiện tượng tự phát vẫn có những yếu tố hướng tới những mục tiêu rõ rệt
Loại trừ những hành động có chủ đích nhằm đi ngược lại với mục tiêu quản lý của một cơ quan truyền thông, các hiện tượng tự phát khác trong nội bộ cơ quan truyền thông như giật gân, câu khách, thương mại hóa..hoặc ở trên không gian mạng như ăn cắp bản quyền, chiều theo thị hiếu số đông, tạo scandal…cũng nhắm tới mục tiêu phục vụ nhu cầu giải trí và nhu cầu giao tiếp, tự khẳng định bản thân của công chúng…
Những hiện tượng này nhiều khi cũng phục vụ mục tiêu thu hút khán giả của một chương trình nào đó như thường thấy trong các chương trình truyền hình thực tế gần đây.
2.1.2. Văn hóa đại chúng và văn hóa tinh hoa
Trong văn hóa tinh hoa luôn luôn có những nét tinh túy của các hình thức văn hóa thuộc về quần chúng
Nếu không có những tác phẩm của nhà văn Anh Daniel Defoe (1660-1731) hay nhà văn Nga Matvei Komarov (1730-1812) được viết bằng thứ ngôn ngữ trong sáng, rõ ràng và giản dị cho giới bình dân thì sẽ không có tiền đề cho những nền văn học Anh và Nga rực rỡ sau này. Nếu không có điệu dân vũ allemande của Đức xuất phát từ Áo thì giới quý tộc Pháp đâu có điệu nhảy Valse cuốn hút.
Trong văn hóa đại chúng ngày nay, các hình thức của văn hóa tinh hoa xuất hiện ngày càng nhiều
Cách tiếp cận hậu hiện đại cho rằng ranh giới giữa văn hóa tinh hoa và văn hóa đại chúng ngày càng mờ dần. Đó cũng chính là một trong những biểu hiện của tính tương hiện của hai khái niệm văn hóa vốn được xem là “đối lập”. Các chương trình truyền hình thực tế về tài năng ca hát gần đây đã đem loại hình “opera” vào thành các vòng thi đấu như “The Ultimate Entertainer – Tuyệt định tranh tài” (HTV7-Tháng 4-2014), hay làm tiêu chí cho các ca sĩ tranh tài như “The oprera star- Tranh tài đỉnh cao” (VTV3 – 2013)…
2.1.3. Các sản phẩm của Đài truyền hình và các sản phẩm nghe nhìn của new media.
Truyền hình đầu thế kỷ XXI khác hẳn với truyền hình thế kỷ XX nhờ tính hội tụ của công nghệ. Các bản tin thời sự chính thống của truyền hình xuất hiện ngày càng nhiều các video clip của khán giả gởi tới bằng điện thoại di động thông qua mạng xã hội. Trong khi đó các chương trình truyền hình có thể được cư dân mạng theo dõi qua hình thức OTT khi được post trên trang Youtube…
2.2. Tính tương hóa
2.2.1.Quản lý và “vượt rào” tự phát
Quản lý một cách nguyên tắc và cứng nhắc dễ dẫn tới hiệu ứng ngược, không đạt được mục tiêu, làm nảy sinh sai phạm.
Trong truyền hình, những quy định không xuất phát từ thực tế mặc dù có thể đạt kết quả về mặt số lượng nhưng chất lượng thường không đạt yêu cầu. Quy định tỷ lệ phim truyện Việt Nam phải đạt 50% giờ phát sóng phim truyện đã tạo ra cơn sốt sản xuất và phát sóng phim Việt Nam mặc dù chưa đủ điều kiện về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực. Kết quả là phim Việt Nam ngày càng dở, ít thu hút người xem như ban đầu, đồng thời việc chạy theo số lượng đã làm phát sinh một số sai phạm trong quản lý.
Những hành động “vượt rào” vì mục đích cải tiến, đổi mới thường đem lại hiệu quả tích cực làm thay đổi quan niệm quản lý
Lịch sử Việt Nam đã từng có nhiều trường hợp như vậy và điển hình nhất là “sáng kiến” khoán hộ của Kim Ngọc trong sản xuất nông nghiệp. Đài Truyền hình TP.HCM cũng đã từng mạnh dạn kêu gọi các doanh nghiệp tài trợ để tổ chức cuộc đua xe đạp tranh Cúp Truyền hình từ năm 1989 (thời điểm đài phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách Nhà nước) đã mở đầu cho xu hướng “xã hội hóa” trong lĩnh vực văn hóa, thể thao để Nhà nước chính thức khuyến khích đẩy mạnh từ năm 1997.
2.2.2. Tính đại chúng và tính tinh hoa
Nếu xét tính hệ thống, ngay trong nội bộ truyền thông đại chúng hay các phương tiện truyền thông đại chúng cũng tồn tại cặp phạm trù đối lập tinh hoa và đại chúng ( mang tính quần chúng nhiều hơn, trẻ hơn, mau thay đổi hơn). Khi bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam, truyền thông internet và các hoạt động báo chí trên mạng được coi là không chính thống mặc dù đó là một hoạt động ngày càng đại chúng. Các thông tin từ internet thường được báo chí chính thống (tự xem là tinh hoa) không tin tưởng và không dùng làm cơ sở để tác nghiệp. Trước sự lớn mạnh của công nghệ số, hoạt động truyền thông trên mạng đã hình thành xu hướng We-media và Citizen –Journalism trên thế giới. Tại Việt Nam, báo mạng ngày càng phát huy những mắt tích cực (nhanh, tương tác cao, có khả năng hội tụ báo in, báo nói và báo hình…) và theo định hướng báo chí Việt Nam đến năm 2020, loại hình báo mạng (dĩ nhiên do các cơ quan báo chí quản lý) sẽ là lực lượng chủ yếu.
Ngược lại một ví dụ dễ thấy cho sự tương hóa từ tinh hoa tới đại chúng là trường hợp đầu tư sản xuất các chương trình truyền hình thực tế. Nhà sản xuất sẵn sàng bỏ tiền mời cho được các đạo diễn hàng đầu, các nhạc sĩ nổi tiếng trong giới Showbiz, thậm chí các chính khách tham gia chương trình nhằm mục đích thu hút nhiều càng nhiều khán giả thuộc nhiều phân khúc khác nhau càng tốt.
2.2.3, Các sản phẩm truyền hình truyền thống và phi truyền thống.
Dẫn lại ví dụ về các sản phẩm truyền hình và các sản phẩm OTT. Các chương trình truyền hình đỉnh cao, thu hút khán giả sẽ được cư dân mạng (Internet users) post lên các trang mạng tạo thành cơn sóng view, like rầm rộ trên mạng. Ngược lại các đoạn video clip trên mạng gây ấn tượng sẽ được các nhà sản xuất truyền hình góp nhặt xây dựng thành các chương trình truyền hình như “Just for fun”…
2.3. Tính hướng hòa
2.3.1.Việc quản lý truyền hình thật ra là tìm giải pháp để tận dụng và khai thác nhiều vấn đề thực tiễn đang diễn ra nhằm mục đích hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan truyền thông trong lĩnh vực tuyên truyền đồng thời thỏa mãn nhu cầu thông tin, học tập nâng cao trình độ và giải trí của công chúng khán giả.
2.3.2. Ranh giới giữa tính tinh hoa và tính đại chúng trong truyền thông thật ra không rõ ràng. Thứ nhất bản chất của truyền hình là đại chúng vì nó ra đời để phục vụ đại chúng. Thứ hai, ngoài những học giả và những nhà chuyên môn về truyền hình, đa số công chúng đều coi truyền hình là một dạng văn hóa tinh hoa (vì các hoạt động của nó nằm ngoài tầm hiểu biết và sinh hoạt hàng ngày của họ). Truyền hình có sức hút khá đặc biệt kiểu “người xa lạ- thân quen”. Truyền hình mà không hướng tới đại chúng sẽ đánh mất khán giả. Nhưng nếu truyền hình lại quá dễ dãi trong việc hoàn thiện chính mình, trong cách “tạo ra hào quang” trong mắt khán giả để xây dựng thương hiệu, hình ảnh, diện mạo…thì cũng sẽ nhanh chóng bị lu mờ .
2.3.3. Sản phẩm của truyền hình đang bị cạnh tranh ngay trên “mảnh đất của mình” (màn hình tivi truyền thống trong nhà) một khi công nghệ hội tụ multi-screen cho phép chia nhỏ màn hình để khán giả theo dõi nhiều nguồn truyền thông khác nhau trên các hạ tầng phát sóng khác nhau. Ngoài ra truyền hình còn bị công nghệ OTT (theo dõi các đoạn video trên internet) giành mất khán giả và tạo cho khán giả thói quen “xài hàng nhái”, “hàng kém chất lượng” khi họ ngày càng hứng thú với việc xem các chương trình truyền hình được post lên mạng (công bằng mà nói kiểu xem này cho họ quyền chủ động về mặt thời gian và cách xem cộng với nhiều chức năng tương tác). Không thể cấm khán giả xem truyền hình qua mạng cũng không thể thủ tiêu thú vui xem truyền hình mang tính cộng đồng với chiếc màn hình to lớn đặt ở phòng khách.Truyền hình tương lai phải hướng đến việc dung hòa giữa truyền thông cũ và truyền thông mới, giữa yếu tố cố định về mặt nhu cầu là“nội dung” và yếu tố thay đổi liên tục về cung cấp là “công nghệ”.
3. Lập cấu trúc đề tài
3.1. Các từ khóa
Đề tài trên có ba từ khóa:
Quản lý, Đài truyền hình TP.HCM từ góc nhìn văn hóa đại chúng
3.2. Cấu trúc ngữ pháp
Quản lý: Danh từ trung tâm
Đài Truyền hình TP.HCM: Định tố 1
Văn hóa đại chúng: Định tố 2
3.3. Cấu trúc đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý truyền hình
Giới hạn nghiên cứu: Đài TP.HCM
3.4. Cấu trúc cấp hệ





