Bạn đang xem trang 1 / 2 trang
chiếc nón lá: má»™t biểu tượng văn hóa truyá»n thống

Đã gửi:
Thứ 3 08/04/08 10:03
gửi bởi banmaixanh
[center]
chiếc nón lá: một biểu tượng văn hóa truyền thống
[/center]
[center]

[/center]
Từ lâu chúng ta đã biết đến chiếc nón lá như một đồ vật rất quen thuộc bởi nó đã gắn bó và trở thành một phần cuộc sống của người dân Việt.Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, duyên dáng và thực tiễn với đời sống nông dân một nắng hai sương trên đồng lúa, bờ tre làng.Cùng với áo dài thì chiếc nón lá đã trở thành một biểu tượng, một hình ảnh truyền thống của văn hóa Việt Nam.
Nếu xét về tính lịch sử thì chiếc nón lá là một đồ vật có từ lâu đời; trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh cách đây mấy ngàn năm đã ghi lại dấu ấn của nó.
Về tính giá trị: nón lá là một đồ vật rất thực dụng.Nó dùng để che mưa, che nắng,để quạt mát, có thể dùng làm ca múc nước,giỏ đựng đồ đi chợ...Ngoài ra nón lá còn để làm đẹp và phù hợp với cảm quan thẩm mĩ của người Việt Nam: đẹp một cách tế nhị, kín đáo. Người ta đội nón đi làm đồng, đi chợ, đi chơi hội...
Tính nhân sinh: từ cây mác, cây tre...con người đã tạo ra chiếc nón lá để phục vụ cho nhu cầu đời sống và làm đẹp của mình.
Về tính lựa chọn thì tùy theo từng miền, từng mục đích và sở thích của người sử dụng mà có thể lựa chọn những loại nón lá phù hợp, vì nón lá có rất nhiều loại như nón rơm, nón quai thao, nón bài thơ(Huế)...
Tính biểu trưng: cũng như áo dài, nón lá là một nét đặc thù của người phụ nữ Việt Nam.Nó tạo nên những nét bình dị, đoan trang, duyên dáng và dịu dàng của các cô gái Việt.
Dù đời sống văn minh phát triển nhưng nón lá vẫn thuần túy nguyên hình của nó.Ở bất cứ nơi đâu trên khắp mọi miền Tổ quốc, đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay, nó đã trở thành một biểu tượng văn hóa truyền thống của người Việt Nam.
Re: chiếc nón lá: má»™t biểu tượng văn hóa truyá»n thống

Đã gửi:
Thứ 2 28/04/08 22:00
gửi bởi ngoctuyen_999
Cùng với áo dài, áo cánh, váy lĩnh, yếm đào, thắt lưng bao... chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam.
Trước hết, nón là một đồ dùng rất gắn bó với đời sống hàng ngày của người Việt. Nó dùng để che mưa nắng. Nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh dẻ hơn... tất cả đều để che chắn cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. Dù nón có nhiều loại, song nét đặc thù chung của nó là rộng vành (để chống nóng) và có mái dốc (để thoát nước nhanh, che mưa). Ngoài chức năng ứng phó với môi trường tự nhiên, chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị, kín đáo. Dưới vành nón, đôi mắt, nụ cười, lúm đồng tiền, những sợi tóc mai, cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng, kín đáo mà không kém phần quyến rũ...
Re: chiếc nón lá: má»™t biểu tượng văn hóa truyá»n thống

Đã gửi:
Thứ 3 29/04/08 21:31
gửi bởi nhothuong
Nón lá quả thật là một biểu tượng văn hóa truyền thống.Nhưng mình thấy hiện nay nón lá không được dùng phổ biến bởi vì một phần là do ngày nay mọi người đều đội mũ bảo hiểm cả để an toàn.Ngay cả ở những vùng quê thì nón lá hầu như cũng không còn được dùng phổ biến.
Nhưng dù sao theo mình con gái đội nón lá vẫn là đẹp nhất đúng không.Hi hi

Re: chiếc nón lá: má»™t biểu tượng văn hóa truyá»n thống

Đã gửi:
Thứ 4 30/04/08 21:43
gửi bởi Ton Nu Thuy Duong
Mình hoàn toàn đồng ý với bạn
nhothuong. Mình cũng là con gái gốc Huế nhưng từ nhỏ đến lớn sống ở tp nên chưa bao giờ mặc áo dài , đội nón lá , chạy xe máy để đi học cả

mặc dù mình rất thích hình ảnh đó. Dịp hè vừa rồi được về Huế chơi, mình có vào thăm trường Quốc học Huế, lúc đó cũng gần giờ tan trường rồi, định canh me vài tấm hình chụp nữ sinh Huế mặc áo dài, đội nón lá, đạp xe đạp nhưng tiếc là chẳng ai mặc áo dài hết, toàn là áo trắng quần xanh thôi ( chắc tại học hè chứ không phải chính quy). nhưng mà hình như bây giờ các bạn nữ sinh ở Huế ( đặc biệt là tai trường Quốc học Huế) đã trở lại với hình ảnh đáng yêu đó ( cái này do xem báo Hoa Học trò nên biết ).Hy vọng hình ảnh đó sẽ được duy trì mãi, đấy cũng là cách mà các bạn trẻ ( dĩ nhiên là bao gồm cả chúng mình) góp phần, chung tay giử gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đúng không?

Re: chiếc nón lá: má»™t biểu tượng văn hóa truyá»n thống

Đã gửi:
Thứ 4 07/05/08 11:14
gửi bởi ngoctuyen_999
Là người Việt Nam, không ai trong đời không một lần nhìn thấy gương mặt của bà, của mẹ, của chị, của em, của người con gái mình thương trong vành nón. Những chiếc nón từ lúc trắng tinh màu lá cho đến khi ngả màu thời gian bao đời nay đã là hình ảnh quen thuộc, thân thiết trong cuộc sống và tâm hồn quê hương.
Nghề làm nón lá xuất hiện trên dải đất hình chữ S đã hàng ngàn năm, khi người Việt vừa vung những nhát cuốc lật từng khoảnh đất để gieo trồng cuộc sống, dựng nhà, mở lối, làm nên làng mạc. Theo nhịp khoan nhặt của vó câu thời gian, người dân chằm những chiếc nón để che nắng che mưa khi làm ruộng, đi thuyền, ra chợ rồi làm nên thư mục nghề nón của nước Nam. Ở những ngôi làng có làn không khí óng ánh bụi nước trên đồng ruộng, trên những nếp nhà bình lặng có những người phụ nữ giản dị mà rất đỗi khéo léo và cần mẫn cứ mải mê làm nón sau những giờ trồng lúa, trồng khoai, nấu nướng, chăn heo, nuôi gà. Trên mọi miền của đất nước trăm mến ngàn yêu của chúng ta, những chiếc nón lá không cầu kỳ, phức tạp mà vẫn có thể khiến lòng người xao xuyến mỗi khi cầm nón trên tay, đội nón lên đầu hoặc nhìn ngắm nón theo ai đi, về trong mỗi sớm mỗi chiều. Đặc điểm chung rất đỗi thường tình ấy của chiếc nón lá đã hơn một lần neo vào thi ca vẻ đẹp đoan trang, dịu dàng của người con gái như trong câu thơ tràn ngập cảm xúc băn khoăn ý nhị của chàng trai là thi nhân, sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón.
Trong mỗi lớp lá, mỗi nuộc kim, những người phụ nữ của làng quê Việt Nam không ngờ rằng họ đang lặng lẽ cắt nghĩa về vẻ đẹp của từng chiếc nón. Chọn lá dừa, lá kè, lá cọ xong họ mang về ủi thật phẳng trên hơi nóng của ngọn lửa phả vào đĩa sắt rồi vót mung, chuốt vành. Tỉ mỉ là vậy nhưng không gì ngăn được họ say mê xây từng lớp lá lên khuôn nón, luồn kim từng sợi gấc mỏng mảnh thật dài mà chằm hết vành nón này đến vành nón khác. Cho đến khi hoàn tất mũi gấc nức vành cuối cùng là lúc người phụ nữ lần nữa làm dày thêm nét đẹp cuộc đời. Đó là nét đẹp được những đôi bàn tay mẫn cảm và sự tinh tế của họ gom từ những tàu lá dừa miền Nam, những đọt lá kè của núi rừng miền Trung, lá cọ miền Bắc, những cây lồ ô mảnh khảnh, những sợi gấc nhẹ mềm như tơ. Nhìn dáng điệu miệt mài của những người phụ nữ ấy, có thể hiểu tại sao nghề làm nón đã được truyền đời từ rất lâu trong chính thời gian và không gian bình dị của những miền quê dân dã Việt Nam. Với họ, nón đẹp và nón bền đã là mục đích trong những ngày tháng ấu thơ nhìn người lớn làm nón rồi không rõ từ lúc nào, những ngón tay nhỏ của họ biết chọn từng lá xếp lên khuôn, chọn sợi gấc và gửi gắm vào từng nuộc kim ước vọng vươn tới cái đẹp, cái có ích trong cuộc đời. Và để giúp những người phụ nữ của làng mình sáng tạo ra cái phần nên thơ trong cuộc sống, những người đàn ông trong làng tìm cách làm khuôn nón sao cho thật đẹp, thật bền. Ở mỗi làng nón thường chỉ có một hoặc hai người có thể làm khuôn nón mà trong một vòng quay nhẫn nại của trái đất quanh mặt trời, người ấy làm được một chiếc khuôn nón bầu liêu hay nhọn, sâu hay cạn, mười bốn hay mười sáu hoặc mười tám vành bằng gỗ có độ dai thật tốt cùng trọn vẹn lòng kiên nhẫn, sự chăm chỉ và khéo léo của mình. Đó là cách để họ khai sinh những chiếc khuôn nón có độ bền rất lâu thường được tính bằng tuổi nghề làm nón của một phụ nữ. Còn nữa ở những làng nón một nếp cũ của nghề nón mang ý nghĩa truyền đời là khi người con gái lấy chồng, trong những gì mà cha mẹ của cô cho làm hồi môn có chiếc khuôn nón. Người con gái đem chiếc khuôn nón ấy theo về nhà chồng như một tặng phẩm của làng quê ruột thịt, để cô có thể làm nón cho mẹ, chị và em gái của chồng hoặc gây dựng một làng nón mới. Về sau, con gái của cô lớn khôn, đến lượt cô sắm cho con gái của mình một chiếc khuôn nón với mục đích không hề khác.
Trong mỗi nếp nhà thân thuộc ở những làng nón, có thể nghe những giọng nói nhẹ êm, trầm ấm về một trạng thái tâm tư của người phụ nữ rằng, họ không thể xa rời những lá, những vành, những kim và khuôn nón lâu hơn một buổi. Bởi với họ, chằm nón là đời sống và hơn thế nữa, đã là máu thịt, là điều luôn làm bận rộn trái tim của họ nhất khi vừa xong việc đồng áng, nấu chín bữa cơm gia đình, nhắc nhở con trẻ chăm ngoan... Chỉ bằng cái với tay là họ chạm vào lá, vào khuôn, vào vành và với vài người ngồi bên nhau trong mái hiên hoặc gian nhà nhỏ mà ủi lá, bắt vành, xây lớp, xâu kim, nứt vành là họ có thể chằm nón suốt ngày này qua mùa khác bất kể nắng, mưa. Bỗng chốc đã xuất hiện một thế giới nhỏ nhắn, vui lành là nơi ra đời của những chiếc nón mà rồi đây sẽ theo cô học trò nhỏ đến trường trong tà áo dài tha thướt, cùng cô thôn nữ tát nước đầu đình, che mưa nắng cho những bà, những mẹ tần tảo trên ruộng lúa, vườn khoai, bãi bắp, triền sông, chợ quê.
Đã rất lâu rồi, những chiếc nón lá làm khô ráo và dịu mát bao mái đầu của người thân trên quê nhà, đã tạo nên sức lan xa của nón lá Việt Nam tới các chân trời văn hóa của muôn phương với những nét duyên trứ danh như nón Huế, nón bài thơ, nón Thúy... Để dòng chảy bất diệt của nón lá Việt Nam mãi mãi là một trong những cội nguồn và biểu tượng của vẻ đẹp dân tộc cũng là giấc mộng trắng trong của lòng người ở những ngôi làng nón. Vậy nên, trong mỗi ban mai vừa lên trên quê hương mình, bao giờ cũng gặp những vành nón đơn sơ với mặt lá mịn màng hương tóc có thể làm vương vấn nỗi lòng. Cho đến mai sauTháng giêng hiền như cỏ
Và tóc mềm như mây
Tóc bay qua bến lạ
Sông thương ai sông đầy
Tháng giêng ướt như mắt
Tháng giêng hồng như môi
Trái tim ai hóa bướm
Bay theo nhau bồi hồi
Re: chiếc nón lá: má»™t biểu tượng văn hóa truyá»n thống

Đã gửi:
Thứ 4 07/05/08 22:11
gửi bởi iluso
Re: chiếc nón lá: má»™t biểu tượng văn hóa truyá»n thống

Đã gửi:
Thứ 5 29/05/08 20:52
gửi bởi banmaixanh
Mình đồng ý với các bạn là hiện nay thì nón lá không còn được dùng phổ biến như xưa nữa nhưng theo mình thì nó vẫn sẽ mãi là biểu tượng văn hóa truyền thống của Việt Nam,bằng chứng là trong các dịp giới thiệu với bạn bè quốc tế về văn hóa Việt thì đi kèm với áo dài thì chiếc nón lá cũng là một biểu tượng văn hóa truyền thống đặc sắc không thể thiếu và nó được người nước ngoài rất thích.Cũng như Hanbok của người Hàn hay Kimono của người Nhật,áo dài và nón lá của người Việt là một biểu tượng văn hóa truyền thống của cả dân tộc và nó mang một giá trị vĩnh cửu.
Ở những vùng nông thôn của Việt Nam thì nón lá vẫn còn được dùng rất nhiều bởi những tiện dụng mà nó mang lại và nó phù hợp với cuộc sống"một nắng hai sương" của người nông dân trên đồng ruộng,bờ tre làng.Nếu bạn muốn nhìn thấy biểu tượng văn hóa nay thì xin mời bạn ghé thăm những vùng nông thôn Việt(đặc biệt là ở Bắc), nơi mà chiếc nón lá vẫn gắn bó mật thiết với đời sống và sinh hoạt của người dân.
thế hệ trẻ Việt hôm nay hãy gắn giữ gìn những biểu tượng văn hóa truyền thống này của dân tộc bạn nhé!


Re: chiếc nón lá: má»™t biểu tượng văn hóa truyá»n thống

Đã gửi:
Thứ 6 30/05/08 17:14
gửi bởi GAUMAP
Co phai non la la khia canh van hoa cua ngươi Viet trong ung xu voi moi trương tu nhien hay khong cac Anh , Chi?
Mong giai dap!
Thanks!
CMH
Re: chiếc nón lá: má»™t biểu tượng văn hóa truyá»n thống

Đã gửi:
Thứ 4 02/07/08 22:18
gửi bởi tecahat
Để các bạn đọc thêm, mình sưu tầm được bài này:
“Trời mưa thì mặc trời mưa
Em không có nón thì chừa em ra”
(Ca dao)
Cùng với chiếc áo bà ba, chiếc “nón lá” đã theo chân người phụ nữ miệt quê miệt vườn, cùng với chiếc xuồng ba lá, bồng bềnh theo con nước lớn nước ròng, dầm dãi nắng mưa sớm chiều... Từ lâu chiếc nón lá đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong trang phục của người phụ nữ miền Nam nói riêng và phụ nữ Việt Nam nói chung.
Ngày nay chiếc nón là hình ảnh quen thuộc và gần gũi với mọi người, nhưng có ai biết đâu để có cái nón lá đội đầu che mưa che nắng, và để làm duyên nữa, ngày xưa tổ tiên chúng ta đổ bao tâm sức để nghĩ ra và làm nên?
Chiếc nón có lá mặt ở xứ mình từ khi nào thì không ai biết? Nhưng từ xưa cái nón đã xuất hiện trong thơ cổ, không biết tác giả là ai.
“Dáng tròn vành vạnh vốn không hư,
Che chở bao la khắp bốn bờ.
Khi để (đội) tưởng nên dù với tán,
Khi ra thì nhạt (lạt) nắng cùng mưa.
Che đầu bao quản lòng tư túi,
Giúp chúa nào quen nghĩa sớm trưa.
Vòi vọi ngồi trên ngôi thượng đỉnh,
Ai ai lớn nhỏ đội ơn nhờ.”
(Thơ cổ)
Nón như vậy đã có mặt lâu đời ở nước mình rồi. Nón là là “Ðồ dùng để đội đầu, hình chóp, tròn, thường lợp bằng lá màu trắng”.
Từ khi có mặt với chức năng là “cái nón”, thì chiếc nón đã theo chân người nông phu ra đồng, theo người phụ nữ đi sớm về trưa, được bà dùng để quạt đưa cháu vào giấc ngủ, được các bà mẹ vỗ về đội vào đầu và nắm tay dìu con đến trường.
Nón cùng với người lính thú xông pha ngoài chiến trận, nón theo tài tử giai nhân đi trẩy hội, nón theo cung phi vào cung cấm, nón theo các nàng công chúa, các bà hoàng đi chùa cầu duyên cầu tự.
Nón cũng được các bà mẹ sục sùi nước mắt đặt nhẹ lên đầu người con gái thương yêu trước khi lên xe hoa về nhà chồng...
Chiếc nón còn có mặt trong sách vở thi ca, qua câu hò tiếng hát của người bình dân để ngợi ca tình yêu trai gái... và chiếc nón thực sự trở thành một phần trong đời sống vô cùng đẹp và lãng mạn của người mình.
Nhiều loại nón ngày xưa, nay không còn được sử dụng và mai một.
Có loại nón được cách tân cho hạp với thời đại và thị hiếu thẩm mỹ của con người, làm cho chiếc nón vượt lên khỏi chức năng “che mưa che nắng”, trở thành đồ trang sức, làm duyên cho người phụ nữ. Có thể nói không sợ quá lời rằng: không có dân tộc nào có chiếc nón, như chiếc “nón lá” gắn bó, gần gũi với con người như dân tộc Việt Nam mình!
(còn tiếp)
Re: chiếc nón lá: má»™t biểu tượng văn hóa truyá»n thống

Đã gửi:
Thứ 4 02/07/08 22:20
gửi bởi tecahat
Nói về tên gọi chiếc nón thì ở nước mình phong phú lắm.
Theo thông thường, chiếc nón khi ra đời được đặt tên theo vật liệu làm nên nó. Như nón lá, nón rơm, nón đệm, nón lá buông, nón dứa, nón gõ, nón quai thao, nón móp, nón bài thơ... Chiếc nón cũng được đặt tên theo hình dạng, như nón chóp, nón dấu, nón mê, nón mẻ, nón thúng, nón chân tượng giống chân voi...
-“Tiếc vì nón lá quai mây,
Nên em chẳng dám trao tay chàng cầm”.
-“ Ông già ông đội nón còi,
Ông ve con nít ông Trời dánh ông.”
(Ca dao)
Nón cũng còn được đặt tên theo địa phương sản xuất, như nón Nghệ, nón Huế, nón Tây Ninh, nón Tân Hiệp (Mỹ tho)...
“Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.”
(Ca dao Huế)
Nón chuyên dùng thì có tên như “nón tu lờ” của các nhà sư, “nón ngựa” dùng cỡi ngựa, “nón cụ”, nón quai thao, dành cho cô dâu, “nón dấu” dành cho lính thú đời xưa,...
(Cùng có nhiệm vụ để “đội chụp trên đầu”, nhưng không làm bằng lá thì gọi là cái mũ. Như mũ nan, mũ ni, mũ bạc, mũ cánh chuồn, mũ cánh tiên, mũ tai bèo, mũ bê rê, mũ cối,...)
“Ngang lưng thì thắt bao vàng,
Ðầu đội nón dấu vai mang súng dài.”
Chiếc nón xuất hiện ở nước mình đầu tiên ra sao? - Không ai biết.
Bùi Xuân Phát chỉ biết lúc cái nón Bắc xuất hiện ở phố cổ Hà Nội cách đây 500 năm. Nón Bắc bấy giờ sản xuất ở làng quê với cái tên là làng Chuông, Thanh Oai tỉnh Hà Tây. Rồi chiếc nón làng Chuông được đem ra bán cho người Hà Hội. Tại phố cổ Hà Nội, nơi phố phường chật hẹp, người đông đúc, có khoảng 100 con đường nhỏ gọi là Phố, với bao ngõ ngách chằng chịt. Nhà mặt tiền dành buôn bán, hẹp thắp và tối phát triển theo chiều sâu, được ngăn làm nơi ăn ở sanh hoạt gia đình, vừa buôn bán.
Nón Bắc làng Chuông là mặt hàng đặc trưng ở Bắc lúc bấy giờ, bày bán ở phố Hàng Nón, cùng với phố Hàng Ðiếu, hàng Ðồng, Hàng Ðào, Hàng Buồm, Hàng Giầy, Hàng Chiếu, Hàng Than,... làm nên Hà Nội “băm sáu phố phường”.
(Hà Nội 36 phố phường nay đã thay đổi. Hàng Ðiếu không còn bán điếu mà bán chè thập cẩm, Hàng Gà bây giờ không bán gà mà bán phở bò; Hàng Than nay bán quần áo; Hàng Giày nay bán khăn. Và Hàng Nón nay không còn bán nón nữa!)
Nón làng Chuông “mang tánh lịch sử”, ngày nay được người Hà Nội làm sống lại qua/trong các lễ hội, được biết/được nhắc tới như là chiếc nón tiêu biểu cho Hà Hội.
Tới chiếc cái nón Nghệ, rộng trên 80cm, sâu 10cm, đan bằng những sợi tre chuốt nhỏ, to và nặng, có đôi quai thao dài 1m50 làm bằng 8 sợi tơ, hai đầu có một quả găng... Quai thao xưa nổi tiếng thời thế kỷ 17, được làm ra ở làng Triều Khúc, Thanh Trì, còn gọi là làng Ðơ Thao. Làng Ðơ Thao là làng nghề làm quai nón nổi tiếng ngày xưa, có thờ tượng tổ sư của nghề dệt quai thao, tới nay còn được dân làng tự hào.
(còn tiếp)