Cùng Tìm Hiểu về tranh dân gian Đông Hồ

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về văn hoá Việt Nam

Cùng Tìm Hiểu về tranh dân gian Đông Hồ

Gửi bàigửi bởi dongho » Thứ 7 26/07/08 16:10

[center]Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát có nghề làm tranh[/center]
Ðông Hồ, một cái tên làng quen thuộc xinh xắn nằm bên bờ sông Ðuống thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã từ lâu đi vào cuộc sống tinh thần của mỗi người dân Việt Nam bằng những bức tranh dân gian nổi tiếng, đậm đà sắc thái dân tộc.
Tại http://dongho.bacninh.com Chúng ta có thể thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật từ những "chăn trâu thả diều", "đám cưới chuột", "vinh hoa", "Phú quý"....
Ngoài ra bạn có thể biết nhiều thông tin sản phẩm do những nghệ nhân của làng tranh cung cấp. Đây chính là 1 nét văn hoá của người Việt xưa và nay.
RANDOM_AVATAR
dongho
 
Bài viết: 1
Ngày tham gia: Thứ 7 26/07/08 15:59
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Cùng Tìm Hiểu về tranh dân gian Đông Hồ

Gửi bàigửi bởi phanthikimanh » Thứ 7 02/08/08 0:17

TRANH ĐÔNG HỒ- NÉT DÂN GIAN LƯU GIỮ HỒN DÂN TỘC

"Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp"

(Bên kia sông Đuống- Hoàng Cầm)

Tranh dân gian góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ các vốn văn hoá cổ xưa của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người Việt Nam thêm phong phú và đa dạng. Trong các dòng tranh dân gian, tranh Đông hồ khá gần gũi với đại đa số dân chúng Việt Nam, nhắc tới hầu như ai cũng đều biết. Tranh gần gũi vì nó gắn với làng quê, ngõ xõm, với cuộc sống lao động của người nông dân bình dị, chất phác và hình ảnh của nó đã đi vào thơ, văn:

“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”


Không phải tự nhiên mà tranh Đông Hồ được nhà thơ Hoàng Cầm nhắc đến đầy tự hào và kiêu hãnh trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” như một đặc sản nghệ thuật của vùng quê Kinh Bắc. Cái làm nên nét đặc sắc độc đáo của tranh Đông Hồ chính là chất liệu làm tranh, được chế biến thủ công từ các nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên: Giấy làm từ cây dó, màu đỏ từ gạch non, màu vàng từ hoa điệp vàng, màu đen từ lá tre đốt, màu trắng được nghiền từ vỏ sò, ốc… Trên cơ sở những màu sắc cơ bản ấy người dân đã tạo thêm nhiều màu sắc khác nhau từ việc trộn lẫn các màu. Để hoàn thành một sản phẩm, không kể khâu khắc tranh trên bản gỗ, có sẵn giấy và màu, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận trong từng giai đoạn: sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô hồ, quết điệp rồi lại phơi giấy cho khô lớp điệp, khi in tranh phải in từng màu lần lượt, nếu có 5 màu thì 5 lần in, mỗi lần in là một lần phơi… Cứ thế, dưới ánh sáng mặt trời lấp lánh từng hình ảnh, đường nét của cảnh sắc thiên nhiên, nếp sinh hoạt của người dân, những hình ảnh của cuộc sống thường ngày ... như “bừng” sáng trên giấy dó. Mọi giai đoạn đều thật công phu nên đòi hỏi người làm tranh luôn cẩn trọng, cầu kì, chú ý đến từng chi tiết nhỏ để có được một bức tranh đẹp.

Trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới. Tranh Đông Hồ xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Làng Mái là tên gọi dân gian xưa kia của làng tranh Đông Hồ bây giờ. Vào thế kỷ XVI tranh Đông Hồ xuất hiện nhưng không ai thống kê hết được có bao nhiêu mẫu tranh mà chỉ biết gồm có 5 loại là: Tranh thờ, Tranh lịch sử, Tranh chúc tụng, Tranh sinh hoạt và Truyện tranh. Từ cuối thế kỷ XIX đến 1944 là thời kì cực thịnh của làng tranh. Lúc ấy, trong làng có 17 dòng họ thì tất cả đều làm tranh. Đến hẹn lại lên, cứ khoảng tháng 7, tháng 8 hàng năm là cả làng đã tất bật để chuẩn bị cho mùa tranh Tết, khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp, không một mảnh đất trống nào không được người dân làng Hồ tận dụng để phơi giấy: từ sân nhà, sân đình, ven các ngõ xóm, đường làng, dọc theo triền đê cho đến các nóc nhà, nóc bếp….Không khí trong làng rộn rạo từ sáng đến tối suốt mấy tháng liền như thế.

Mỗi năm, chợ tranh chỉ nhộn nhịp và tấp nập nhất vào tháng Chạp, họp 5 phiên vào các ngày 6, 11,16, 21 và 26. Bà con, du khách thập phương đổ về mua tranh đông vui, tấp nập. Hàng nghìn, hàng triệu bức tranh các loại được mang ra xếp gọn lại bán cho những lái buôn, hoặc bán lẻ cho các gia đình mua về làm tranh treo tết để mang phú quý, vinh hoa cho nhà mình. Sau phiên chợ tranh cuối cùng (26/12 âm lịch) những gia đình nào còn lại tranh đều bọc kín đem cất đi chờ đến mùa tranh năm sau lại mang ra chợ tranh bán. Đến chợ tranh làng Hồ không chỉ có khách buôn và mua tranh, mà có cả những người hâm mộ nghệ thuật tranh dân gian thích thăm thú, xem tranh và đi trảy hội mùa xuân.

Tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và có sức cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ con người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài cũng bởi những đề tài trên tranh phản ánh đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị, gần gũi gắn liền với văn hoá người Việt. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã giải thích về ý nghĩa của việc dùng màu sắc sao cho phù hợp với mỗi đề tài khác nhau: nền màu đỏ cho tranh đánh ghen để lột tả được cái nóng giận bực bội ngột ngạt của không khí lúc đó, nền màu vàng cho cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân trên các bức tranh ngày tết, nền màu hồng nhạt cho tranh làng quê yên bình …

Đôi khi những bức tranh Đông Hồ còn được những nghệ nhân trang trí kèm theo những từ chỉ dẫn hoặc những tứ thơ tình tứ, lãng mạn,

“Trong như ngọc, trắng như ngà

Đây chèo đấy hứng cho vừa lòng nhau”

(Hứng Dừa)


“Thôi thôi một giận làm lành

Chị đừng tức giận cho nhục lòng ta”…

( Đánh Ghen)

Trạng Chuột ơn vua cưới vợ làng,

Kiệu son lộng lẫy lọng hoa vàng !

Nàng dâu xứ chuột chân đi đất,

Ngón nhỏ bùn non vẫn dính chân !


(Đám cưới chuột)

Cứ bóc tách từng lớp nang văn hoá hiện trên mỗi bức tranh Đông Hồ cũng đủ cho chúng ta thấy vốn liếng văn hoá Việt thuần khiết và trong sáng, đa dạng và vô cùng độc đáo.

Các nghệ nhân Đông Hồ đã chuyển hóa những lời hay - ý đẹp, những kinh nghiệm đúc rút trong cuộc sống từ ngàn đời để lại vào tranh dân gian với những cách thể hiện rất riêng:

Những ai đã yêu thích tranh Đông Hồ hẳn rất quen thuộc với các tranh gà: Gà mẹ con, gà đại cát, gà dạ xướng, kê cúc. Chẳng hạn bức "Gà thủ hùng".

Theo sử sách xưa kể lại, vào khoảng năm 1915 cụ Chánh Hoàn gả con gái cho một anh Phán, Cụ Đám Giác ( tên thật là Nguyễn Thể Thức (1882 - 1943) là một nghệ nhân sáng tác nổi tiếng của Đông Hồ. Ngoài tranh về cuộc sống ở nông thôn cụ còn vẽ nhiều tranh truyện tranh phong cảnh, tranh tố nữ...)đã mừng đám cưới bằng một mẫu tranh mới: một gia đình gà gồm gà trống, gà mái và đàn con. Bằng ngôn ngữ ước lệ, các con gà được cách điệu hóa, chúng sống động mà không cần giống thực. Gà mái có bố cục theo đường xoắn ốc - tạo nên sự nũng nịu. Gà trống được đặt trong một hình thang, đáy lớn nằm trên - tạo nên tư thế chủ gia đình, che chở cho gà mái và đàn con. Bức tranh gợi không khí hạnh phúc, đầm ấm trong một gia đình. Trên tranh có dòng chữ nôm "Lắm con nhiều cháu, giống cánh giống lông" một lời chúc thật sâu sắc! Bức tranh này được xây dựng từ câu phương ngôn: "Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh".

Con trâu "đầu cơ nghiệp của nhà nông", cũng được các nghệ nhân Đông Hồ dành nhiều tâm huyết.Tranh cưỡi trâu thổi sáo có chữ: "Hà diệp cái thanh thanh" (Lọng lá sen xanh xanh). Một tàu lá sen dựng đứng như chiếc ô - ý tưởng thật thú vị. Con trâu nghển cổ thưởng thức tiếng sáo, tư thế, dáng vẻ của nó khiến ta cùng nghe thấy tiếng sáo réo rắt, thấy bầu trời trong xanh lồng lộng, thấy cuộc sống thanh bình...

Tranh cưỡi trâu thả diều có chữ "Vũ thu phong nhất tướng" (Một hình ảnh gió thu múa). Một cậu bé nằm ngửa trên lưng trâu thả diều... thật thú vị. Một câu phương ngôn về trẻ chăn trâu: " Đầu đội nón mé như lộng che - Tay cầm cành tre như roi ngựa". Thực tế khó có thể nằm trên lưng trâu mà dong các diều bằng nón mê như vậy? Thế mà ngắm tranh ta vẫn thấy khoái! Bức tranh thả diều còn có hai dị bản khác, một bức có chữ "Vũ thu phong nhất dực" (gió thu múa, một cánh), bức kia có chữ "Nhất tương phúc lộc điền" (một hạnh phúc của nhà nông) - cũng thú vị không kém.

Xuất phát từ câu phương ngôn: "Tre già măng mọc" nghệ nhân Nguyễn Thể Thức có đôi tranh, bức thứ nhất có tên: "Cử chỉ hữu cương thường", trên đó có câu thơ: "Tre già dẻo đã có thì - còn phần tráng trực để tùy người sau". Bức kia có tên: "Kim ngân hóa luật lệ" với câu thơ: "Lệ luật thì giáp là trên - Kim ngân hóa ắt vượt lên ai bì".

Trải qua nhiều thăng trầm, lệ mua tranh Đông Hồ treo ngày Tết đã mai một, làng tranh cũng thay đổi nhiều: Trong những năm kháng chiến chống pháp, khi cả nước điêu linh, Đông Hồ cũng rơi vào cảnh đạn bom lay lắt, làng tranh bị giặc đốt phá tan hoang, người dân trong làng lo chạy loạn khắp nơi, các bản khắc tranh cũng bị thiêu cháy rụi. Nghề tranh từ đó cũng bị gián đoạn. Hoà bình lập lại (1954) làng tranh được khôi phục. Nhiều tổ hợp tác sản xuất tranh Đông Hồ được thành lập, đây cũng là thời điểm tranh Đông Hồ được xuất khẩu sang các nước XHCN đạt kết quả cao. Nhưng từ năm 1985- 1990, do tác động của nền kinh tế thị trường, nhu cầu thẩm mỹ của người dân thay đổi, việc xuất khẩu tranh gặp nhiều khó khăn. Người dân làng tranh chuyển dần sang làm hàng mã. Nghề làm tranh tồn tại yếu ớt, chỉ còn lẻ tẻ một vài gia đình bám trụ với nghề tranh như: gia đình ông Nguyễn Đăng Chế, gia đình ông Nguyễn Hữu Sam… Đến nay, nhờ công gìn giữ của các nghệ nhân ấy mà tranh dân gian này được khôi phục lại. Cùng với nhiều sáng tạo mới mẻ, tranh dân gian Đông Hồ lại chiếm được cảm tình của nhiều du khách trong và ngoài nước mỗi khi đặt chân đến mảnh đất văn vật hữu tình này.

Tuy nhiên, điều đáng buồn là giờ đây tranh Đông Hồ không còn mang tính “thuần Việt” như thời xưa mà đang dần bị thương mại hoá. Theo đánh giá của một số họa sĩ, tranh Đông Hồ in ở thời điểm hiện tại thường không có màu sắc thắm như tranh cổ, nguyên nhân là người ta trộn màu trắng vào điệp quét giấy để bớt lượng điệp khiến giấy mất độ óng ánh và trở nên "thường", màu sắc sử dụng cũng chuyển sang loại màu công nghiệp, các bản khắc mới có bản không được tinh tế như bản cổ. Một điểm đáng lưu ý khác nữa là một số bản khắc đã đục bỏ phần chữ Hán (hoặc chữ Nôm) bên cạnh phần hình của tranh khiến tranh ít nhiều bị què cụt về mặt ý nghĩa. Dự đoán nguyên nhân dẫn tới tình trạng này là:

Có một thời chữ Hán (và chữ Nôm) bị coi là phong kiến lạc hậu, liệt vào danh mục bài xích nên thợ in đục bỏ đi.

Thế hệ sau này không phải ai cũng đọc và hiểu được các ký tự ấy nên tự ý bỏ đi.

Cũng do không đọc hiểu được nên các ván khắc truyền lại "tam sao thất bản", đến mức còn lại các ký tự nhưng không đọc được ra chữ gì.

Đến với chợ tranh Đông Hồ bây giờ, người ta không còn được thấy cảnh tấp nập bán mua, cũng không còn cảnh người người, nhà nhà ưa chuộng tranh Đông Hồ như ngày xưa nữa. Các thế hệ sau cũng ít muốn học và theo nghề tranh truyền thống của cha ông vì quá vất vả mà lại ít lợi nhuận. Du khách đến làng tranh bây giờ vẫn thấy cảnh phơi giấy nhưng đó lại là giấy để làm hàng mã chứ không phải giấy dó in tranh...

Mặc dù gần đây đã có nhiều dự án khôi phục lại làng nghề, phát triển du lịch làng nghề truyền thống song làng tranh dân gian Đông Hồ vẫn chỉ đang tồn tại ở mức độ "phảng phất", chưa thực sự được quan tâm đầu tư để phát triển. Hi vọng trong tương lai gần, cùng với các làng nghề truyền thống khác trên cả nước, làng tranh Đông Hồ sẽ tìm lại được vị trí vốn có của mình và ngày càng phát triển, làm giàu thêm cho nền văn hoá đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam.

CINET

Nguồn: http://www.cinet.gov.vn/sacmau/dongho/dongho.htm
Tiếng chim hót trong bụi mận gai...
Hình đại diện của thành viên
phanthikimanh
 
Bài viết: 381
Ngày tham gia: Thứ 7 30/06/07 20:55
Đến từ: TP. Hồ Chí Minh
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Cùng Tìm Hiểu về tranh dân gian Đông Hồ

Gửi bàigửi bởi chuonchuonkim » Thứ 7 02/08/08 1:07

Tranh tết Đông Hồ- Hàng Trống

Theo phong tục cổ truyền, hàng năm cứ vào dịp Tết Nguyên đán, những tờ tranh in màu sắc tươi rói lại bày bán la liệt khắp nơi từ nông thôn đến thành thị, lên cả các vùng núi xa xôi làm cho hông khí hội xuân ngày Tết càng thêm vui, hồ hởi.

Do nhu cầu tín ngưỡng và thú chơi tranh ngày Tết của nhân dân ngày càng tăng. Tranh vẽ tay không đủ đáp ứng, nên các nghệ nhân phải tìm cách in tranh thành nhiều bản. Từ đó tranh dân gian, tranh Tết truyền từ đời này sang đời khác bằng kỹ thuật in bản gỗ.

Tranh khắc gỗ dân gian được sản xuất ở nhiều địa phương hoặc tập trung từng làng, hoặc (in từng hộ gia đình in riêng). Nổi tiếng có: Đông Hồ (Hà Bắc), Hàng Trống (Hà Nội), Kim Hoàng (Hà Tây), Nam Hoành (Nghệ An), Sình (Huê), tranh Nam bộ. tranh của các dân tộc miền núi. Từ nhiều quê tranh, nổi lên hai dòng tranh có truyền thống lâu đời hơn cả là tiếng tranh Đông Hồ và dòng tranh Hàng Trống. Sự khác biệt từ đề tài, chất liệu đến kỹ thuật khắc ván và in tranh đã tạo nên tính cách nghệ thuật riêng biệt giữa hai dòng tranh.

Tiêu biểu cho dòng tranh Đông Hồ là loại tranh khắc gỗ in trên giấy "điệp" Tranh in cả nét lẫn mầu, ván gỗ của tranh khắc bằng những mũi đục còn là " vẻ" nét khắc đục thẳng đậm nét, đứng cạnh và to đậm. Còn ván in tranh Hàng Trống lại khắc hình trên mặt gỗ bằng mũi tràng đục hay mũi dao nhọn đầu. Nét khắc cắt gọt vát cạnh chân thang, nhỏ nét, tinh tế.

Tranh Đông Hồ màu in trước, nét in sau. Tờ tranh có bao nhiêu màu. In bấy nhiêu lần ván màu. In màu xong, cuối cùng mới in ván nét to đậm, mềm mại bao quanh lấy những mảng màu to bẹt, đồng bộ, tạo thành một đường viền làm ổn định hình trên tranh (ngoại lệ sau này cũng có tranh chỉ in nét, còn màu phẩm tô bằng bút lông).

Giấy in tranh là giấy dó dai bền, trên mặt giấy quét phủ một lớp điệp tạo cho tờ giấy dó cứng xốp và nổi lên chất nghệ thuật đặc sắc của những thô điệp phát sáng lung linh hấp dẫn.

Màu mực in chế từ những nguyên liệu cỏ cây, đất đá săn có trong thiên nhiên từ trên rừng dưới biển:

- Màu đen xốp, êm nhẹ chế từ chất than lá tre khô.

-Màu xanh mát chiết từ lá chàm màu vàng ấm lấy từ hoa hoè hay quả dành dành - màu đỏ tươi, chắc nịch từ bột sỏi son tán nhỏ hay đỏ vang từ chất gỗ vang trên rừng, chẻ nhỏ sắc kỹ cô đặc, còn màu trắng óng ánh thì dùng vỏ trai điệp ở biển nghiền mịn.

Khi in tranh, các màu pha trộn với hồ nếp, quấy kỹ thành chất màu quánh dính gọi là "thuốc cái" in tranh dễ ăn màu và chịu được ánh sáng không phai nhạt. Điều này rất quan trọng vì tờ tranh ra đời chủ yếu phục vụ công dân. Tranh mua về không lồng kính đóng khung mà dán thẳng tờ tranh lên mặt tường, vách đất, liếp tre hay cánh cửa cổng nhà là những nơi tranh chịu tác động của mưa nắng nhiều.

Tranh Hàng Trống là loại tranh khắc gỗ của một số gia đình nghệ nhân sản xuất ở Hà Nội, hoặc ở một số địa phương làm tranh theo cùng một phong cách, chủ yếu là tranh thờ, mang ra Hà Nội bán tập trung ở phố Hàng Trống cùng với các đồ thờ khác

Loại tranh này đã có từ lâu, còn tên "Tranh Hàng Trống" chỉ là cái tên gọi chung cho một loại tranh có cùng một kỹ thuật, phong cách mới đặt ra gần đây để phân biệt cho khỏi lẫn với đòng tranh khắc gỗ sản xuất ở làng Đồng Hồ (Hà Bắc)'.

Khác với tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống thể hiên với một kỹ thuật nửa in nửa vẽ, nghĩa là tranh chỉ in ván nét lấy hình, còn màu là thuốc nước, tô bằng bút lông mềm rộng bản, một nửa ngọn bút chấm màu, cỡn nửa ngọn bút kia chấm nước lã, tô tranh theo kỹ thuật "vờn" màu, nên luôn luôn tạo được những chuyển sắc đậm nhạt, tinh tế như vậy màu sắc, đường nét của tranh rất uyển chuyển đáp ứng đòi hỏi thẩm mỹ của khách mua tranh nơi kẻ chợ.

Tranh Hàng Trống in trên giấy dó bồi dầy hay giấy báo khổ rộng. Có những tranh bộ khổ to và dài, thường bồi dầy, hai đầu trên dưới lồng suốt trục để tiện treo, phù hợp với những ngôi nhà cao cửa rộng nơi thành thị.

Cùng với các đề tài phải ánh sinh hoạt thường ngày, hay minh họa cổ tích. Tranh Hàng Trống còn nổi trội về thể loại tranh thờ, ảnh hưởng Phật giáo và Đạo giáo với hình tượng tương đối bình dị, gần gũi với con người, mà thể lại khá hiện công phu không bao giờ thiếu sắc thái uy vệ, sùng kính (như tranh các Thánh mẫu, ông Hoàng, Bà Cô).

Từ góc độ thẩm mỹ nhìn nhận về tranh dân gian Việt Nam, ta thấy toàn bộ tranh vẽ bằng một nét gói gọn mọi chi tiết của hình vào trong. Do đó tranh dân gian của ta mang yếu tố của nghệ thuật đồ họa. Nghệ nhân làm tranh đã dùng kỹ thuật khắc trên gỗ, nghĩa là làm bức vẽ nổi bật hình trên mặt gỗ, rồi qua hình khắc nổi trên đó để in tranh. Từ đó một bản khắc có chất lượng nghệ thuật tốt sẽ in ra nhiều bức tranh có giá trị như nhau phục vụ đông đảo nhân dân.

Nghệ nhân xưa vẽ tranh theo quan niệm sống hơn giống. Do vậy, cảnh vật con người vẽ trong tranh tuy là hình ảnh thực trong đời sống, nhưng khi thể.hiện vào tranh, nghệ nhân đã tạo dựng bằng đường nét khái quát, hết sức gạn lọc thuần khiết cốt sao sợi ý gây được rung cảm cho người xem hơn là vẽ đúng luật giống như thực nhưng lại khô cứng chẳng diễn tả truyền cảm được gì. Tranh dân gian nhỏ bé, nên bố cục trong tranh thường chắc gọn, chặt chẽ; nhưng cũng không kém phần linh hoạt phóng túng.

Có tranh lại bố cục phóng lãng táo bạo, vượt hẳn ra ngoài mọi khuôn khổ luật lệ mà vẫn đạt tính nghệ thuật cao về hình thức và nội dung.

Văn Hiến Việt Nam

Nguồn: http://hanoi.vnn.vn/chuyen_de/0212/datviet/bai10.asp
Chuồn chuồn kim bé nhỏ, lặng lẽ bay trong chiều vàng...
Hình đại diện của thành viên
chuonchuonkim
 
Bài viết: 110
Ngày tham gia: Thứ 6 20/06/08 14:05
Đến từ: Bờ ao nhà mình
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Cùng Tìm Hiểu về tranh dân gian Đông Hồ

Gửi bàigửi bởi phanthikimanh » Thứ 7 02/08/08 1:11

Nghệ thuật chuyển hóa phương ngôn trên tranh Đông Hồ

Phương ngôn là những lời hay - ý đẹp, những kinh nghiệm đúc rút trong cuộc sống từ ngàn đời để lại, đã được các nghệ nhân Đông Hồ chuyển hóa thành tranh dân gian với những cách thể hiện độc đáo.

Những ai đã yêu thích tranh Đông Hồ hẳn rất quen thuộc với các tranh gà: Gà mẹ con, gà đại cát, gà dạ xướng, kê cúc. Chẳng hạn bức "Gà thủ hùng".

Theo sử sách xưa kể lại, vào khoảng năm 1915 cụ Chánh Hoàn gả con gái cho một anh Phán, cụ Đám Giác* đã mừng đám cưới bằng một mẫu tranh mới: một gia đình gà gồm gà trống, gà mái và đàn con.

Bằng ngôn ngữ ước lệ, các con gà được cách điệu hóa, chúng sống động mà không cần giống thực. Gà mái có bố cục theo đường xoắn ốc - tạo nên sự nũng nịu. Gà trống được đặt trong một hình thang, đáy lớn nằm trên - tạo nên tư thế chủ gia đình, che chở cho gà mái và đàn con.

Bức tranh gợi không khí hạnh phúc, đầm ấm trong một gia đình. Trên tranh có dòng chữ nôm "Lắm con nhiều cháu, giống cánh giống lông" một lời chúc thật sâu sắc!

Bức tranh này được xây dựng từ câu phương ngôn: "Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh".

Con trâu "đầu cơ nghiệp của nhà nông", cũng được các nghệ nhân Đông Hồ dành nhiều tâm huyết.

Tranh cưỡi trâu thổi sáo có chữ: "Hà diệp cái thanh thanh" (Lọng lá sen xanh xanh). Một tàu lá sen dựng đứng như chiếc ô - ý tưởng thật thú vị. Con trâu nghển cổ thưởng thức tiếng sáo, tư thế, dáng vẻ của nó khiến ta cùng nghe thấy tiếng sáo réo rắt, thấy bầu trời trong xanh lồng lộng, thấy cuộc sống thanh bình...

Tranh cưỡi trâu thả diều có chữ "Vũ thu phong nhất tướng" (Một hình ảnh gió thu múa). Một cậu bé nằm ngửa trên lưng trâu thả diều... thật thú vị. Một câu phương ngôn về trẻ chăn trâu: " Đầu đội nón mé như lộng che - Tay cầm cành tre như roi ngựa".

Thực tế khó có thể nằm trên lưng trâu mà dong các diều bằng nón mê như vậy? Thế mà ngắm tranh ta vẫn thấy khoái!

Emmannel Kant (1724 - 1804) nhà triết học lỗi lạc người Đức cho rằng: "Coi cái đẹp chân chính mang lại cho ta khoái cảm, làm cho ta thích thú, tình cảm khi đó là tình cảm thẩm mỹ. Sự thỏa mãn vì cái đẹp nảy sinh không hề có sự tham gia của lý tính và bởi vậy không thể luận chứng nó về mặt lôgic được" .

Bức tranh thả diều còn có hai dị bản khác, một bức có chữ "Vũ thu phong nhất dực" (gió thu múa, một cánh), bức kia có chữ "Nhất tương phúc lộc điền" (một hạnh phúc của nhà nông) - cũng thú vị không kém.

Xuất phát từ câu phương ngôn: "Tre già măng mọc" nghệ nhân Nguyễn Thể Thức có đôi tranh, bức thứ nhất có tên: "Cử chỉ hữu cương thường", trên đó có câu thơ: "Tre già dẻo đã có thì - còn phần tráng trực để tùy người sau". Bức kia có tên: "Kim ngân hóa luật lệ" với câu thơ: "Lệ luật thì giáp là trên - Kim ngân hóa ắt vượt lên ai bì".

* Cụ Đám Giác tên thật là Nguyễn Thể Thức (1882 - 1943) là một nghệ nhân sáng tác nổi tiếng của Đông Hồ. Ngoài tranh về cuộc sống ở nông thôn cụ còn vẽ nhiều tranh truyện tranh phong cảnh, tranh tố nữ...

Theo Du lịch

Nguồn:
http://www.bacninh.gov.vn/Story/VanHoaD ... /2690.html
Tiếng chim hót trong bụi mận gai...
Hình đại diện của thành viên
phanthikimanh
 
Bài viết: 381
Ngày tham gia: Thứ 7 30/06/07 20:55
Đến từ: TP. Hồ Chí Minh
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần


Quay về Văn hóa Việt Nam

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách