Cảm ơn ý kiến đóng góp của tất cả các bạn.
Ý kiến của Hoangphuong về Văn hóa sùng bái Tam tòng tứ đức, hiện tại mình cũng chưa biết viết gì, theo bạn thì ở phần Văn hóa sùng bái sẽ viết những gì. Nếu được bạn cho một vài gợi ý nhe! cảm ơn bạn trước!
mình đang nghiên cứu và sẽ xây dựng một đề cương chi tiết, cụ thể hơn.
Trước hết, mình làm bài tập của thầy về Quy trình định nghĩa:
1.1. Định nghĩa “Tam tòng, tứ đức”:
1.1.1. Tam tòng:
- Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê, Nxb Đà Nẵng 2009, Tam tòng là nguyên tắc bắt buộc của lễ giáo phong kiến đối với người đàn bà xưa, là khi ở nhà phải theo cha, khi lấy chồng phải theo chồng, khi chồng chết phải theo con. Giữ đạo tam tòng.
- Theo Từ điển từ và ngữ Hán- Việt (có chú giải từ tố), Nguyễn Lân, Nxb Tp Hồ Chí Minh 1989, Tam tòng (tòng: theo) quy tắc đạo đức phong kiến đòi hỏi người phụ nữ lúc nhỏ phải theo cha, lúc đi lấy chồng phải theo chồng, lúc chồng chết phải theo con (cũ): đạo tam tòng là do tính ích kỷ của bọn đàn ông phong kiến đặt ra để áp bức phụ nữ. [608].
- Theo Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nxb Văn hóa- Thông tin, 1999, Tam tòng là ba nguyên tắc của giáo lý phong kiến bắt người đàn bà phải tuân thủ là khi ở nhà phải theo cha, khi lấy chồng phải theo chồng, khi chồng chết phải theo con trai: trọn đạo tam tòng. [1488]
- Theo
http://vi.wikipedia.org, Tam tòng: tam là ba; tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”
+ Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,
+ Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,
+ Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con.
* Phân tích: các định nghĩa đều có điểm chung: Tam tòng là nguyên tắc bắt buộc của lễ giáo phong kiến đối với người đàn bà xưa, là khi ở nhà phải theo cha, khi lấy chồng phải theo chồng, khi chồng chết phải theo con. Tuy nhiên, định nghĩa Tam tòng theo quan niệm của Nguyễn Như Ý là hoàn chỉnh nhất, bởi lẽ, đạo đức phong kiến luôn xem trọng người đàn ông, còn người phụ nữ luôn sống phụ thuộc vào đàn ông trong gia đình, lúc nhỏ thì phụ thuộc cha, lấy chồng phụ thuộc chồng, chồng chết thì phụ thuộc con trai. Vì vậy định nghĩa này hoàn chỉnh nhất: Tam tòng là ba nguyên tắc của giáo lý phong kiến bắt người đàn bà phải tuân thủ là khi ở nhà phải theo cha, khi lấy chồng phải theo chồng, khi chồng chết phải theo con trai.
1.1.2. Tứ đức:
- Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê, Nxb Đà Nẵng 2009 và Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nxb Văn hóa- Thông tin, 1999, tứ đức là bốn đức của con người theo đạo đức phong kiến: hiếu, đễ, trung, tín đối với đàn ông, và công, dung, ngôn, hạnh đối với phụ nữ. [1375], [1761].
- Theo Từ điển từ và ngữ Hán- Việt (có chú giải từ tố), Nguyễn Lân, Nxb Tp Hồ Chí Minh 1989, Tứ đức (đức: đức hạnh) bốn đức hạnh của người phụ nữ trong thời phong kiến tức là công, dung, ngôn, hạnh (cũ): hãy xem xưa những bậc dâu hiền kiêm tứ đức: dung, công, ngôn, hạnh (gia huấn ca) [799].
- Theo Từ điển Việt Nam văn hóa tín ngưỡng phong tục, Vũ Ngọc Khánh- Phạm Minh Thảo, Nxb Văn hóa- Thông tin, Hà Nội, 2005, tứ đức là bốn đức tính chung mà mọi người phải theo là hiếu, để, trung, tín. Tứ đức còn chỉ bốn đức tính mà phụ nữ cần có là công, ngôn, dung, hạnh (tính nết hiền thảo, nói năng dịu dàng, vẽ mặt tươi đẹp và công việc đảm đang) [1056]
- Theo
http://vi.wikipedia.org, Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt. Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: công - dung - ngôn - hạnh.
+ Công: khéo léo trong việc làm.
+ Dung: hòa nhã trong sắc diện.
+ Ngôn: mềm mại trong lời nói.
+ Hạnh: nhu mì trong tính nết.
* Phân tích:
- Định nghĩa của Hoàng Phê, Nguyễn Như Ý, Vũ Ngọc Khánh là những định nghĩa theo nghĩa rộng, tứ đức không chỉ là những tính nết tốt cần có của người phụ nữ mà còn là bốn đức tính chung của con người (nam + nữ). Tứ đức trong đề tài không phải là tứ đức riêng lẽ mà tứ đức trong quan hệ với tam tòng. Do đó những định nghĩa này không xác với đề tài.
- Định nghĩa của Nguyễn Lân xác nghĩa với đề tài, nhưng chưa đầy đủ, rõ ràng.
- Định nghĩa rõ ràng, hoàn chỉnh là định nghĩa vi.wikipedia.org, Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt. Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: công - dung - ngôn - hạnh. Công: khéo léo trong việc làm. Dung: hòa nhã trong sắc diện. Ngôn: mềm mại trong lời nói. Hạnh: nhu mì trong tính nết.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy và các bạn!