XÂY DỰNG ĐỊNH NGHĨA VỀ HÔN NHÂN
Bước 1: Tìm tất cả định nghĩa hiện có về khái niệm này
1.Theo Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb.Đà Nẵng, 2006, tr 461: Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng.
2. Theo từ điển bách khoa Wikipedia: Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội và/hoặc tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu. Hôn nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội. Về mặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân. Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn. Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người đàn bà được gọi là vợ.
3. Sách chuyên luận, các bài báo khoa học
a. Theo Thomas Barfield, The Dictionary of Anthropology, 1999, tr 304.
Hôn nhân (Marriage) là sự ràng buộc được công nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà, và như thuật ngữ này thường được hiểu về mặt văn hóa là nhằm mục đích sinh sản hợp pháp, xây dựng một gia đình hạt nhân, hoặc tạo ra một hộ gia đình mới.
b. Theo Emely A. Schultz, Robert H. Lavend, Nhân học – một quan điểm về tình trạng nhân sinh, Nxb. Chính trị quốc gia, 2001, tr. 306.
Mỗi nền văn hóa có định nghĩa riêng về hôn nhân, nhưng không nơi nào hôn nhân lại đồng nghĩa với quan hệ tính giao. Hôn nhân bao hàm một sự thay đổi trong vị trí xã hội của hai người và ảnh hưởng đến vị trí xã hội của con cháu.
Một hôn nhân mẫu bao gồm: (1) đòi hỏi phải có một người nam và một người nữ; (2) quy định mức độ quan hệ tính giao các thành viên trong hôn nhân có thể có với nhau, xếp từ quan hệ độc quyền đến quan hệ ưu tiên; (3) tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra; (4) thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng.
Bước 2: Phân tích từng định nghĩa đã nêu theo các yêu cầu của định nghĩa. Nếu có định nghĩa đáp ứng được tất cả các yêu cầu thì chấp nhận và sử dụng.
1. Theo Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2006, tr 461. “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng”
Định nghĩa này ngắn gọn, dễ hiểu bởi nó chỉ nêu ra một tiêu chí là “nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng”, nhưng chưa đủ bởi vì trong xã hội hiện còn có một lớp người thuộc “giới thứ ba” và giữa họ bây giờ vẫn diễn ra kết hôn với nhau. Do đó, dùng từ “nam và nữ” ở đây là thiếu.
Ngoài ra, việc lấy nhau làm vợ chồng cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như gia đình, pháp luật,…
2. Theo từ điển bách khoa Wikipedia: “Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội và/hoặc tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu. Hôn nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội. Về mặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân. Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn. Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người đàn bà được gọi là vợ.”
Định nghĩa hôn nhân này mang tính liệt kê. Do đó, nó thiếu tính khái quát, rất dài dòng, nhưng không đủ bởi vì khi nêu “Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội và/hoặc tôn giáo một cách hợp pháp, có thể là kết quả của tình yêu” thì nó chưa đủ. Nó chưa đủ vì ngoài những yếu tố này ra có thể còn nhiều yếu tố khác như hoàn cảnh gia đình (môn đăng hộ đối), là sự ép buộc của cha mẹ,…
a. Theo Thomas Barfield, The Dictionary of Anthropology, 1999, tr 304: “Hôn nhân (Marriage) là sự ràng buộc được công nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà, và như thuật ngữ này thường được hiểu về mặt văn hóa là nhằm mục đích sinh sản hợp pháp, xây dựng một gia đình hạt nhân, hoặc tạo ra một hộ gia đình mới”.
Trong định nghĩa này có thể thay thế cụm từ “giữa một người đàn ông và một người đàn bà” thành cụm từ “giữa hai người khác giới hoặc cùng giới với nhau được pháp luật công nhận” vì hiện nay ở một số nước phương Tây đã công nhận. Lúc này định nghĩa sẽ trở nên đầy đủ hơn và dễ được chấp nhận hơn.
b. Theo Emely A. Schultz, Robert H. Lavend, Nhân học – một quan điểm về tình trạng nhân sinh, Nxb. Chính trị quốc gia, 2001, tr. 306.
“Một hôn nhân mẫu bao gồm: (1) đòi hỏi phải có một người nam và một người nữ và (2) quy định mức độ quan hệ tính giao các thành viên trong hôn nhân có thể có với nhau, xếp từ quan hệ độc quyền đến quan hệ ưu tiên. Hôn nhân cũng (3) tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra, và (4) thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng
So với 3 định nghĩa trên thì định nghĩa này có phần rõ ràng hơn, đầy đủ hơn. Định nghĩa này cũng mang các tính chất liệt kê, nhưng trong trường hợp này có thể nói là liệt kê khá đầy đủ. Tuy nhiên, khái niệm được thể hiện hơi dài dòng và rườm rà, không mang tính chất của một định nghĩa.
Bước 3. Phân loại các định nghĩa, xác định những điểm chung có thể tiếp thu, có những đặc điểm sai, thiếu cần bổ sung sữa chữa
Điểm chung của các định nghĩa nêu ra ở đây là “hôn nhân là sự kết hợp với nhau giữa người đàn ông và người đàn bà”.
Bước 4: Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả bước 3 để điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của nó.
Trong xã hội, có những trường hợp kết hợp giữa người đàn ông và đàn bà với nhau, nhưng đây không phải là hôn nhân mà đó là sự yêu đương, tán tỉnh. Mục đích cuối cùng của nó có thể không dẫn đến việc kết hôn giữa hai người mà đó là để thỏa mãn nhu cầu dục vọng của mình.
Hoặc trong trường hợp kết bạn bình thường với nhau giữa người nam và nữ thì mục đích có thể có hoặc không dẫn đến hôn nhân.
Bước 5: Xác định đặc trưng giống để quy khái niệm được định nghĩa vào
Hôn nhân là sự việc kết hợp giữa người đàn ông và người đàn bà với nhau nhằm xây dựng nên một gia đình hạt nhân, được cộng đồng và xã hội nơi người đó sinh sống thừa nhận.
Bước 6: Xác định các đặc trưng loài cho phép khu biệt khái niệm được định nghĩa với các khái niệm khác cùng bậc.
Hôn nhân tạo nên các mối quan hệ mới giữa họ hàng người chồng và họ hàng người vợ. Các quan hệ này được gọi là quan hệ thông gia (quan hệ tạo nên qua hôn nhân) và tương phản với quan hệ huyết thống “ruột thịt”.
Hai quan hệ thông gia và quan hệ huyết thống nằm ở trung tâm điểm của định nghĩa về hôn nhân và sự hình thành các nhóm xã hội. Một mình quan hệ tính giao không tạo nên quan hệ với họ hàng bên chồng hay bên vợ, cũng không tạo nên một cách thức xác định về không gian và thời gian, tư cách thành viên của con cháu trong một nhóm xã hội nào đó. Nhưng hôn nhân lại thực hiện được cả hai công việc này.
Do đó, nếu nói “hôn nhân là sự kết hợp giữa người đàn ông và người đàn bà với nhau”, điều này mang tính chất là quan hệ tính giao hơn là hôn nhân.
Bước 7: Xây dựng định nghĩa hoàn chỉnh
“Hôn nhân là mối quan hệ ràng buộc giữa những người khác giới hoặc cùng giới với nhau, được cộng đồng hoặc pháp luật nơi họ sinh sống thưà nhận là vợ chồng”
