Tình bạn trong sáng giữa nam và nữ bậc cao học ở thành phố H

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Bài tập 7: Chọn 2 đối tượng để so sánh

Gửi bàigửi bởi quang an » Thứ 3 19/04/11 16:51

Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
quang an
 
Bài viết: 25
Ngày tham gia: Thứ 7 02/10/10 6:42
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Tình bạn trong sáng giữa nam và nữ bậc cao học ở thành p

Gửi bàigửi bởi quang an » Thứ 4 27/04/11 9:30

Rất mong các bạn góp ý để mình làm tốt hơn bài tập môn này!
RANDOM_AVATAR
quang an
 
Bài viết: 25
Ngày tham gia: Thứ 7 02/10/10 6:42
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

8 bài tập theo một chủ đề

Gửi bàigửi bởi quang an » Thứ 6 29/04/11 17:43

Đề tài: Bình đẳng giới trong Ki tô giáo ở Việt Nam
Bài tập 1: 06 Tháng 4 2011 10:47
(các version trước: 21 Tháng 3 2011 09:30, 23 Tháng 3 2011 07:31)
Đường dẫn version ngày 21 tháng 3 2011 09:30 viewtopic.php?f=57&t=4007
- Đề tài: Bình đẳng giới trong Ki tô giáo ở Việt Nam
- Mâu thuẫn:
Tôn trọng phụ nữ > < coi thường phụ nữ
Vị trí, vai trò của người nữ được đề cao> < hạ thấp vị trí, vai trò của người nữ
Người nam có quyền> < người nữ không có quyền
- Vận dụng Phương pháp dịch lý để nghiên cứu:
1- Kiểm tra tính tương hiện:
Trong việc đề cao vị trí, vai trò của người nữ thì hàm chứa yếu tố coi nhẹ người nam (bất bình đẳng). Không đề cao vị trí, vai trò của người nữ hàm chứa trong đó việc đem lại quyền lợi cho người nam (yếu tố bình đẳng).
2- Kiểm tra tính tương hóa:
Nhiều người thực hiện việc coi trọng vị trí, vai trò cũng như quyền lợi của người nữ thì bình đẳng giới giữa nam và nữ được thiết lập. Mối quan hệ giữa hai phái được tốt đẹp dẫn cuộc sống phát triển một cách hài hòa đảm bảo cho tiến bộ xã hội.
3- Kiểm tra tính tương hòa:
Coi trong phụ nữ dẫn đến bình đẳng nhưng nếu quá coi trọng người nữ thì nam giới sẽ mất quyền lợi và dẫn đến mất bình đẳng. Như vậy, phải giữ được trạng thái cân bằng: hiểu và thực hiện đúng vị trí, vai trò của cả giới nam và nữ. Không quá đề cao nam hay hạ thấp nữ và ngược lại
4- Mở rộng:
Các giải pháp:
- Hiểu đúng vị trí, vai trò, quyền lợi của nam và nữ.
- Có hành động cụ thể để thực hiện việc xóa bỏ bất bình đẳng.

Bài tập 2: 06 Tháng 4 2011 10:47
(các version trước: 23 Tháng 3 2011 07:31, 04 Tháng 4 2011 20:10 )

- Phân tích đề tài:
Đề tài có 4 từ khóa: Bình đẳng giới, Ki tô giáo, Việt Nam, góc nhìn văn hóa trong đó Bình đẳng giới là danh từ trung tâm, danh từ Ki tô giáo là định tố 1 và Việt Nam là định tố 2, dưới góc nhìn văn hóa là định tố 3
- Định vị đối tượng nghiên cứu:
Chủ thể: Bình đẳng giới trong Ki tô giáo
Không gian: Việt Nam
Thời gian: Toàn thời

- Sơ đồ cấu trúc cấp hệ của khái niệm
Hình ảnh

Bài tập 3: 06 Tháng 4 2011 10:47
( version trước: 04 Tháng 4 2011 20:13)
- Đề tài: Bình đẳng giới Ki tô giáo ở Việt Nam
Định vị:
Chủ thể: Bình đẳng giới trong Ki tô giáo
Không gian: Việt Nam
Thời gian: Toàn thời (từ lúc xuất hiện Ki tô giáo ở Việt Nam đến nay)
- Xây dựng đề cương chi tiết cho đề tài:
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trong xã hội ta vẫn còn một số người phân biệt đối xử với người phụ nữ dẫn đến nhiều thiệt thòi, thậm chí là đã gây ra những tội ác đối với người nữ.
Việc bình đẳng giới phải được bắt đầu từ sự nhận thức về vị trí,vai trò của người nam, người nữ - đặc biệt là người nữ trong xã hội. Đồng thời cả hai giới cũng phải hiểu đúng giá trị của mình trong quan hệ với nhau. Việc thực hiện bình đẳng giới là một vấn đề phức tạp, cần có thời gian và đòi hỏi nhiều sự cố gắng hơn nữa trong xã hội.
Để góp phần làm rõ hơn vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “bình đẳng giới Ki tô giáo ở Việt Nam” dưới góc độ văn hóa học.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu làm rõ bình đẳng giới Ki tô giáo ở Việt Nam dưới hai góc độ sau:
Về vấn đề nhận diện bình đẳng giới Ki tô giáo, đề tài sẽ tập trung vào không gian, chủ thể và thời gian bình đẳng giới Ki tô giáo tồn tại.
Sau đó, đề tài nghiên cứu cấu trúc của bình đẳng giới Ki tô giáo gồm nhận thức, tổ chức và ứng xử.
3. Lịch sử vấn đề
Bình đẳng giới thì đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam. Hầu hết các tài liệu này đã nghiên cứu trên một bình diện rộng lớn như dưới góc độ xã hội, tâm sinh lý, truyền thống dân tộc…Đề tài nghiên cứu ở góc độ hẹp hơn chưa nhiều. Theo tác giả được biết thì tài liệu bình đẳng giới Ki tô giáo ở Việt Nam dưới góc độ văn hóa chưa có. Do đó, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài này như một đóng góp rất nhỏ cho bình đẳng giới nói chung và bình đẳng ở Việt Nam nói riêng.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đê tài tập trung nghiên cứu những quan niệm, thái độ và cách đối xử đối với người phụ nữ trong Ki tô giáo ở Việt Nam. Những quan niệm, thái độ, cách đối xử này được nghiên cứu từ những lời dạy của Đức Chúa trong Kinh thánh Cựu Ước, của Chúa Giê su và các Tông đồ trong Kinh thánh Tân Ước. Những hành động của Đức Chúa và những người môn đệ (Tông đồ) đã đem lại sự bình đẳng giới cho phụ nữ.
Đề tài chỉ nghiên cứu bình đẳng giới Ki tô giáo ở Việt Nam mà thôi, tác giả chưa có điều kiện để nghiên cứu trên phạm vi rộng hơn.Tác giả tập trung nghiên cứu bình đẳng giới nơi các tín hữu và các cộng đoàn tín hữu Ki tô giáo Việt Nam, không có điều kiện mở rộng nghiên cứu ở những đối tượng khác.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Bình đẳng giới Ki tô giáo được xem xét như một giá trị trong hệ thống hữu cơ các giá trị của văn hóa. Góp phần làm sâu sắc hơn về bình đẳng giới nói chung. Đồng thời đề tài làm rõ những giá trị của bình đẳng giới Ki tô giáo trong văn hóa của Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn: Giúp cho người đọc nhận thức một cách toàn diện hơn về vấn đề bình đẳng giới, góp phần tạo nên sự đồng thuận trong xã hội về việc đem lại quyền lợi chính đáng cho người phụ nữ ở xã hội ta hiện nay.
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Phương pháp nghiên cứu: khi nghiên cứu đề tài này tác giả đã dùng nhiều phương pháp như phương pháp Dịch lý, phương pháp Hệ thống…
Nguồn tư liệu: tác giả đã tham khảo nhiều nguồn tư liệu khác nhau như sách, báo… nói về bình đẳng giới trong Kit tô giáo và những tài liệu khác có liên quan.
7. Bố cục của đề tài
Đề tài có 3 chương đúng với yêu cầu của một luân văn.
Trước hết, để đưa ra nền tảng lí luận và đặt đối tượng nghiên cứu trong hệ trục tọa độ K-C-T, do đó tác giả có chương một “Cơ sở lý luận và thực tiễn”. Sau đó tác giả tiến hành nghiên cứu cấu trúc bình đẳng giới Ki tô giáo dưới góc độ văn hóa học. Ở chương tiếp theo tác giả nghiên cứu hai thành tố của nó, nhan đề chương hai là “Nhận thức và tổ chức trong bình đẳng giới Kitô giáo ở Việt Nam” . Sau cùng, tác giả trình bày thành tố thứ ba của nó với tên gọi của chương là “Ứng xử của bình đẳng giới Ki tô giáo ở Việt Nam”.
Dựa trên “cơ cơ lý luận và thực tiễn” về bình đẳng giới Ki tô giáo, đề tài đi vào phân tích cấu trúc của bình đẳng giới Ki tô giáo ở Việt Nam với chương hai là nhận thức và tổ chức, chương ba là ứng xử. Như vậy sự sắp xếp các chương trong đề tài là hợp lý.
Chương một: Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Ki tô giáo
1.1.2. Bình đẳng giới Ki tô giáo
1.2. Nhận diện bình đẳng giới Kitô giáo ở Việt Nam
1.2.1. Định vị theo thời gian
1.2.2. Định vị theo chủ thể
1.2.3. Định vị theo không gian
1.3. Những đặc trưng của bình đẳng giới trong Ki tô giáo
Chương hai: Nhận thức và tổ chức trong bình đẳng giới Kitô giáo ở Việt Nam
2.1. Nhận thức trong Ki tô giáo về bình đẳng giới
2.1.1. Bình đẳng giới trong Thánh kinh
2.1.2. Vai trò của người nữ trong các gia đình Ki tô giáo và trong xã hội ở Việt Nam
2.1.3. Vai trò của Đức Mẹ Maria trong đời sống các tín hữu Ki tô ở Việt Nam

2.2. Tổ chức giới nữ trong Ki tô giáo
2.2.1. Tổ chức trong các sinh hoạt tôn giáo
2.2.2. Tổ chức trong đời sống cộng đoàn
2.2.1. Tổ chức trong đời sống xã hội
Chương ba: Ứng xử của bình đẳng giới Ki tô giáo ở Việt Nam
3.1. Ứng xử trong Ki tô giáo đối với phụ nữ
3.1.1. Ứng xử về giới giữa người nam đối với người nữ trong Ki tô giáo
3.1.2. Ứng xử về giới giữa người nam Ki tô giáo với người nữ ngoài Ki tô giáo
3.3. Bình đẳng giới Ki tô giáo đã có sự giao thoa với văn hóa bản địa Việt Nam
3.4. Đóng góp bình đẳng giới Ki tô giáo đối với vấn đề bình đẳng giới trong xã hội ta hiện nay
Kết luận
Tài liệu tham khảo

Bài tập 4: 06 Tháng 4 2011 10:47
- Sưu tầm tư liệu đa ngành, đa công cụ, đa ngôn ngữ, đa chủng loại, đa phương tiện một cách hệ thống phục vụ cho đề tài NCKH
1. Tài liệu nói về bình đẳng giới
http://www.phunu.hochiminhcity.gov.vn/h ... t=c&cat=89

2. Kinh Thánh
http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8 ... _gi%C3%A1o
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_%C6%AF%E1%BB%9Bc
http://en.wikipedia.org/wiki/Bible
http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnb ... newtes.htm

3. Tìm kiếm đa phương tiện (dùng or)
http://www.search-results.com/web?l=dis ... Ao%3D15920
- Sử dụng Document map để sắp xếp tư liệu
Hình ảnh

- Ảnh sử dụng Document map quản lý tài liệu

Hình ảnh

- Các ảnh khác trong việc tìm tài liệu

Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh

Bài tập 5: 13 Tháng 4 2011 10:56
- Bình đẳng giới ở Việt Nam
Hình ảnh

- Mô hình:

Hình ảnh

Bài tập 6: 13 Tháng 4 2011 10:56
Định nghĩa khái niệm: Bình đẳng giới
Bước 1. Tìm những định nghĩa hiện có
- Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam:
“sự được đối xử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá... không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đó, trước tiên và cơ bản nhất là BĐ trước pháp luật. BĐ đã được quan niệm và thực hiện một cách khác nhau qua các thời kì lịch sử với các chế độ chính trị xã hội khác nhau. Thủ tiêu các đặc quyền, đặc lợi phong kiến, xác lập sự BĐ của mọi người trước pháp luật là một tiến bộ của cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Song sự BĐ đó không thể triệt để trong một xã hội có sự cách biệt lớn giữa người giàu và người nghèo, người áp bức bóc lột với người bị áp bức bóc lột. Sự BĐ toàn diện và triệt để chỉ có thể thực hiện khi nào xoá bỏ được tình trạng không BĐ trong quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, xoá bỏ được cơ sở của sự bóc lột giai cấp và áp bức dân tộc, xoá bỏ mọi đặc quyền, đặc lợi trong xã hội”.
Trích từ nguồn: http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.v ... w==&page=1
- Sau đây là những định nghĩa khác trích từ nguồn:
http://www.google.com.vn/giaidap/search ... B3ng&hl=vi

+ GA.namkhanh
Quyền bình đẳng nam nữ ở Việt Nam đã được quy định trong Hiến pháp nhà nước, công nhận phụ nữ ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện. Theo đó, nam và nữ đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.
+ QA.tradao
- Trường hợp ý chồng khác ý vợ thì ta dựa theo quan niệm phân chia quyền hành của ông bà ta ngày xưa : "Đàn ông làm nhà, đàn bà làm đám giỗ" . Tức là những chuyện thuộc về bếp núc,ẩm thực ,trang phục ... thì theo ý vợ. Những chuyện thuộc về nhà cửa , xe cộ, làm ăn, thì theo ý chồng.
- Trong cơ quan nếu có 2 giám đốc thì công chuyện sẽ lộn tùng phèo lên. Thế thì trong gia đình cũng như vậy, một người chủ gia đình thôi. giống như trong sổ hộ khẩu chỉ có một chủ hộ ấy mà.

Bước 2. Phân tích từng định nghĩa theo yêu cầu của định nghĩa
Hình ảnh
Hình ảnh
Bước 3. Phân loại định nghĩa, xác định những nét chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/thiếu cần bổ sung, sửa chữa
Đặc trưng giống: định nghĩa trên đưa ra đặc trưng “sự được đối xử” thì không chính xác.
Đặc trưng loài: Theo pháp luật ngang nhau về mọi phương diện, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, phân chia quyền hành… là không hợp lý
Như thế có thể tiếp thu chỉnh sửa: đặc trưng loài là “sự đối xử”, “bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”.
Cần bổ sung đặc trưng giống.
Bước 4. Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả (3) để điều chỉnh bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng
Khi nói đến bình đẳng giới là ta nói đến “nữ có quyền ngang với nam” (Mai Huy Bích, Xã hội học, Nxb. Đại học QGHN, 2009. tr123).
Khi nói về bình đẳng giới, người ta thường bàn đến:
- Nam và nữ có khả năng tiếp cận như nhau với các nguồn lực có giá trị của xã hội.
- Nam và nữ có những lựa chọn điều mình muốn (phù hợp với pháp luật và đạo đức) trong cuộc sống.
- Vai trò và hoạt động của nam và nữ phải được đánh giá đúng giá trị…
Bước 5. Xác định đặc trưng giống để qui khái niệm được định nghĩa vào
- Là một giá trị
Bước 6. Xác định các đặc trưng loài cho phép khu biệt khái niệm được định nghĩa với các khái niệm cùng bậc
- Vị trí, vai trò của nam và nữ trong gia đình và xã hội.
- Tiếp cận các dịch vụ
- Quyền lựa chọn trong cuộc sống
Sản phẩm sơ bộ: “Bình đẳng giới là giá trị mang lại cho nam và nữ có vị trí, vai trò xứng đáng trong gia đình và xã hội, có quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội khi có nhu cầu và có quyền lựa chọn, thực hiện khi nó không vi phạm pháp luật và đạo đức”
7. Lập sơ đồ cấu trúc để kiểm tra định nghĩa
Hình ảnh
- “Tiếp cận” không hay lắm, thay bằng “hưởng”
- Bỏ “có quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội khi có nhu cầu và có quyền lựa chọn” vì không cần thiết.
Sản phẩm cuối cùng: “Bình đẳng giới là giá trị mang lại cho nam và nữ có vị trí, vai trò xứng đáng trong gia đình và xã hội, có quyền thực hiện điều mình thích khi nó không vi phạm pháp luật và đạo đức”.



Bài tập 7
(version trước đó: 19 Tháng 4 2011 16:51)
Bảng so sánh giữa “Gia đình” và “Xã hội”
Hình ảnh
Bài tập 8
Vận dụng phương pháp loại hình để nghiên cứu “Giới ở Việt Nam”
1. Lựa chọn loại hình:
- Loại hình văn hóa trọng động (+)
- Loại hình văn hóa trọng tĩnh (-)
2. Định vị CTK cho đối tượng nghiên cứu
Chủ thể: giới nam và nữ
Không gian: Việt Nam
Thời gian: Toàn thời
3. Phân loại các phần tử của đối tượng nghiên cứu
Giới ở Việt Nam được phân chia thành 2 nhóm: nam và nữ
4. Căn cứ vào một vài đặc điểm loại hình để xác lập ánh xạ giữa các tập hợp các nhóm của đối tượng nghiên cứu với tập hợp các loại hình đã chọn
Hình ảnh

* Phát hiện ra tri thức mới
- Nam miền Bắc không chỉ thích các hoạt động xã hội (như nam miền Nam) mà còn làm nhiều hơn các công việc gia đình (so với nam miền Nam) do có tính + hơn.
- Trong lịch sử cũng như hiện nay đã có dòng lao động di chuyển từ Bắc xuống Nam bởi vì cả nam và nữ miền Bắc đều có tính + hơn (dĩ nhiên là còn do yếu tố khác chưa được bàn đến ở đây), thích hoạt động, di chuyển nhiều hơn.
RANDOM_AVATAR
quang an
 
Bài viết: 25
Ngày tham gia: Thứ 7 02/10/10 6:42
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Tình bạn trong sáng giữa nam và nữ bậc cao học ở thành p

Gửi bàigửi bởi thpthao » Chủ nhật 01/05/11 20:25

Bạn quang an ơi!
Thầy bảo là mình copy 8 bài tập này vào file word để gửi cho Ban cán sự, và BCS sẽ tổng hợp lại gửi cho Thầy, chứ không phải là post toàn bộ 8 bài tập thành 1 group như thế này lên topic đâu bạn!
Hình đại diện của thành viên
thpthao
 
Bài viết: 24
Ngày tham gia: Thứ 7 09/10/10 9:33
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Bài tập 1,2,6 và 8 làm lại

Gửi bàigửi bởi quang an » Thứ 5 30/06/11 22:43

Đề tài: Bình đẳng giới ở thành phố Vinh giai đoạn hiện nay
Bài tập 1: Chọn đề tài, phân tích mâu thuẫn và vận dụng phương pháp dịch lý để tìm hiểu
Hiện nay, trong cuộc sống hiện đại, vai trò của người phụ nữ càng ngày càng được khẳng định, thế nhưng một số nơi vẫn còn diễn ra sự bất bình đẳng giới. Trong bài tập này, tác giả sử dụng phương pháp dịch lý để phân tích bình đẳng giới ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay, nhằm làm rõ hơn vấn đề này dưới góc nhìn mới – góc nhìn văn hóa học qua phương pháp dịch lý.
- Xác định mâu thuẫn:
Nhu cầu thay đổi để có sự bình đẳng giới (thiên về dương tính) > < Duy trì sự ổn định của truyền thống bất bình đẳng giới (thiên về âm tính).
* Tính tương hiện:
Phân tích các cạnh mâu thuẫn của vấn đề này, tác giả thấy khía cạnh này ẩn chứa điều khía cạnh kia hướng đến và ngược lại – tức là trong âm có dương và trong dương có âm.
- Nhu cầu thay đổi, tìm kiếm sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của nam và nữ trong xã hội.
Khi nam được đề cao, nữ bị coi thường dẫn đến phụ nữ sẽ đấu tranh để có được vị trí, vai trò xứng đáng trong gia đình và xã hội. Điều này cũng làm cho nam giới thay đổi quan niệm đối với phụ nữ. Như vậy cả nam và nữ đều có sự thay đổi, tạo ra quan hệ giưa nam và nữ tốt đẹp hơn, thúc đẩy xã hội phát triển.
Trong quá trình thay đổi để tiến đến bình đẳng giới, có người chống lại việc bình đẳng giới. Mục đích của họ là để duy trì sự ổn định – bất bình đẳng giới – đã có trong truyền thống.
Như vậy, trong việc thay đổi tiến đến bình đẳng giới (+) vẫn có nhu cầu giữ lại truyền thống bất bình đẳng trước đó (-).
- Duy trì sự ổn định – bất bình đẳng:
Trong xã hội truyền thống, việc duy trì bất bình đẳng giới dẫn đến phẩm giá của người nữ bị coi thường, người nam được đề cao, từ đó dẫn đến mâu thuẫn giữa hai giới với nhau. Phụ nữ không thể chịu mãi cảnh bị đánh giá thấp hơn nam giới. Mặt khác, với sự phát triển của nhận thức, người nam cũng hiểu được việc coi thường phụ nữ là không đúng. Do đó nảy sinh nhu cần phải thay đổi, đem lại vị trí xứng đáng cho giới nữ trong xã hội, để họ có điều kiện phát triển như nam giới. Đó là điều mọi người trong xã hội mong đợi.
Như thế, trong sự ổn định của truyền thống - trọng nam khinh nữ (-) vẫn hàm chứa mong muốn có sự thay đổi (+) để gia đình, xã hội phát triển.
* Tính tương hóa:
Sự thay đổi trong cách cư xử của người nam với người nữ bằng cách thực hiện bình đẳng giới (+) sẽ làm cho gia đình, xã hội ổn định (-). Không còn có sự đấu tranh của giới nữ với giới nam, nhận thức của giới nam đạt tới tầm cao mới về quan hệ giới.
Trong xã hội cho dù phụ nữ bị coi thường những vẫn phải cam chịu để duy trì trật tự gia đình, xã hội. Nhưng đến một lúc nào đó họ không chịu được nữa, vùng lên đấu tranh xóa bỏ trật tự cũ – phụ nữ bị đánh giá thấp hơn nam giới.
Nhu cầu muốn duy trì sự ổn định - bất bình đẳng giới (-) lại hóa ra thúc đẩy cả nữ lẫn nam đến việc muốn thay đổi, thoát ra khỏi tình trạng bất bình đẳng (+).
Người nữ và người nam muốn duy trì trật tự gia đình và xã hội nên nam tìm cách áp đặt quyền hành của mình trên người nữ, còn người nữ thì tìm mọi cách để hạn chế quyền hạn của người nam với mình. Từ đó dẫn đến cả hai đều cảm thấy căng thẳng, khó chịu, mệt mỏi. Do đó, cả hai đều muốn thay đổi, tức là thực hiện bình đẳng giới.
* Tính tương hòa:
Giải pháp đưa ra là làm thế nào để có sự bình đẳng giới mà vẫn duy trì phát huy được ưu điểm cũng như hạn chế được những nhược điểm của mỗi giới trong quan hệ với nhau.
Có những phụ nữ biết nam giới đối xử bất bình đẳng, những vẫn âm thầm chịu đựng vì muốn giữ vững ổn định gia đình, xã hội. Bên cạnh đó, có những phụ nữ đứng lên để phản đối, đấu tranh cho quyền lợi của mình.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bình đẳng giới được thực hiện như: giới nữ đấu tranh, sự tiến bộ của xã hội đem lại môi trường tốt cho giới nữ thể hiện vai trò của mình…
Những điều cần thiết để bình đẳng giới được thực hiện:
Trước hết, phải có sự thay đổi trong nhận thức của cả nữ và nam giới về vị trí, vai trò của giới mình (đặc biệt là giới nữ) trong gia đình và xã hội. Thứ đến, cần phải có luật quy định cụ thể, hợp lý về quyền lợi, nghĩa vụ của nữ giới và nam giới. Cuối cùng, mọi người biết tạo ra môi trường tốt để cho bình đẳng giới được thực hiện.

Bài tập 2: Phân tích và lập cấu trúc cho đề tài “Bình đẳng giới ở thành phố Vinh giai đoạn hiện nay”
A. Phân tích đề tài:
Từ khóa: “Bình đẳng giới”, “thành phố Vinh”, “giai đoạn hiện nay”
Danh từ trung tâm: “Bình đẳng giới”
Định tố 1: “thành phố Vinh”
Định tố 2: “giai đoạn hiện nay”


B. Lập sơ đồ cấu trúc đề tài:
Hình ảnh
Bài tập 6: Định nghĩa “Gia đình”
1. Tìm các định nghĩa tiêu biểu hiện có:
- Hoàng Phê 2009: Từ điển tiếng Việt. – Đà Nẵng.: NXB Đà Nẵng, tr.496.
Gia đình là tập hợp người sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chống, cha mẹ và con cái.
- Từ điển vietgle
http://www.vietgle.vn/tratu/tu-dien-tru ... aspx?k=gia đình&t=V-V
Gia đình là tập hợp những người có quan hệ hôn nhân và huyết thống sống trong cùng một nhà, tạo thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, thường gồm có cha mẹ, vợ chồng và con cái.
- Từ điển Vdict.com
http://vdict.com/gia%20đình,3,0,0.html
Gia đình là tập hợp những người có quan hệ hôn nhân và huyết thống sống trong cùng một nhà.

2. Phân tích từng định nghĩa theo yêu cầu của định nghĩa:
Hình ảnh
3. Phân loại các định nghĩa, xác định những nét nghĩa chung có thể bổ sung và những đặc trưng sai/ thiếu cần bổ sung:
- Đặc trưng giống: là tập hợp những người (tất cả 3 định nghĩa trên đều thống nhất ở điểm này), đặc trưng giống này chưa chính xác vì tập hợp được hiểu là tập trung từ nhiều chỗ, nhiều nơi lại để làm việc gì đó, gia đình không chỉ là tập hợp mà còn có phát sinh thêm như việc sinh sản con cái. Ở đây nét nghĩa có thể tiếp thu là “những người”. Trong định nghĩa của Hoàng Phê có thêm “sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội” điều này thì không chính xác bởi có những gia đình gồm nhiều thành viên thì không phải là đơn vị nhỏ nhất trong xã hội. Mặt khác nếu thêm cụm từ này vào đặc trưng loài thì làm cho đình nghĩa thêm dài dòng.
- Đặc trưng loài: định nghĩa của Hoàng Phê “gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu” đặc trưng này đúng nhưng chưa bao quát được hết đối tượng, bởi có những gia đình có những thành viên sống với nhau không phải là quan hệ hôn nhân và huyết thống. Mặt khác, tác giả dùng từ “dòng máu” thì chưa hay lắm. Ở hai định nghĩa còn lại đều thống nhất đặc trưng loài là “có quan hệ hôn nhân và huyết thống”, như trên đã nói đặc trưng này đúng nhưng chưa đủ. Như vậy có thể tiếp thu đặc trưng “có quan hệ hôn nhân và huyết thống” nhưng nên bổ sung thêm “và những quan hệ đặc biệt khác”. Ở định nghĩa của Từ điển Vdict.com vàTừ điển vietgle có đặc trưng loài là “sống trong cùng một nhà” còn Hoàng Phê thì không có dấu hiệu này. Đặc trưng “sống trong cùng một nhà” không thể thiếu được vì nếu cho dù có quan hệ hôn nhân và huyết thống nhưng không sống chung một nhà thì chưa thể gọi là gia đình. Vậy đặc trưng tiếp theo có thể tiếp thu là “sống trong cùng một nhà”.
Ở từ điển của Hoàng Phê có thêm đặc trưng “thường gồm có vợ chống, cha mẹ và con cái” và Từ điển vietgle có thêm đặc trưng “thường gồm có cha mẹ, vợ chồng và con cái”, đặc trưng này không cần thiết vì có nhiều gia đình không đầy đủ các thế hệ như thế.
Như vậy, có thể tiếp thu đặc trưng giống là: tập hợp những người và đặc trưng loài là “quan hệ hôn nhân và huyết thông”, “sống trong cùng một nhà”.

4. Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả 3 để điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng:
Cho dù gia đình thường có nhiều thành viên nhưng nói “gia đình là tập hợp” thì không chính xác bởi gia đình không chỉ là tập hợp mà nó còn là sự phát sinh trong quá trình tồn tại và phát triển của gia đình, do đó cần thay “tập hợp” bằng “tập thể”.
Đặc trưng loài “quan hệ hôn nhân và huyết thống” chưa bao quát hêt đối tượng, vì hiện nay có những thành viên trong gia đình không có quan hệ hôn nhân và huyết thống như trường hợp con nuôi hay các gia đình nuôi trẻ mồ côi…cần phải bổ sung thêm “quan hệ đặc biệt khác”

5. Xác định đặc trưng giống (khái niệm rộng hơn cùng loại):
Là tập thể người

6. Xác đinh đặc trưng loài (khu biệt khái niệm được định nghĩa với những khái niệm khác cùng bậc):
Có quan hệ hôn nhân và huyêt thống hoặc quan hệ đặc biệt khác.
Sống trong cùng một một nhà.
- Định nghĩa sơ bộ: “Gia đình là tập thể người có quan hệ hôn nhân và huyết thống hoặc quan hệ đặc biệt khác, sống trong cùng một nhà”.




7. Lập sơ đồ kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu về hình thức và nội dung, chỉnh sửa lại:
Hình ảnh
- Định nghĩa: Gia đình là tập thể người có quan hệ hôn nhân và huyết thống hoặc quan hệ đặc biệt khác, sống trong cùng một nhà.




Bài tập 8: Chọn nội dung thích hợp trong đề tài để vận dụng phương pháp loại hình nhằm phát hiện những tri thức mới


Bình đẳng giới ở Việt Nam và phương Tây từ cái nhìn loại hình văn hóa
Hình ảnh
Hình ảnh
Xuất phát từ 2 loại hình văn hóa khác nhau nên việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam và phương Tây có nhiều khác biệt.
- Loại hình văn hóa phương Tây là trọng động nên có sự thay đổi nhanh trong mối quan hệ giữa nam và nữ. Khi đã thay đổi, họ thay đổi một cách toàn diện và triệt để. Cụ thể là phương Tây đã đi trước trong việc thực hiện bình đẳng giới. Việt Nam thuộc loại hình văn hóa trọng tĩnh, thích sự ổn định nên việc thay đổi cách nhìn đối với phụ nữ rất chậm. Việc thay đổi cũng không triệt để, mang tính nước đôi, lĩnh vực này thay đổi, nhưng lĩnh vực kia thì chưa muốn thay đổi. Cho đến nay thì việc phân biệt đối xử đối với phụ nữ vẫn còn diễn ra ở một số nơi.
- Với loại hình văn hóa trọng tĩnh, người Việt trọng cộng đồng, trọng danh dự, nên phụ nữ thường nghiêng về cam chịu hơn là đấu tranh để tránh tai tiếng. Nam giới thì thích duy trì sự áp đặt quyền thế của mình trên phụ nữ để tạo ra uy danh cho mình.
- Phụ nữ phương Tây sống trong môi trường văn hóa trọng động nên họ mạnh mẽ hơn, chú ý đến lợi ích của giới mình (trọng lợi ích) hơn phụ nữ Việt Nam (trong danh dự). Sẵn sàng đấu tranh cho quyền lợi của mình mà không sợ mang tai tiếng. Nam giới ở phương Tây cũng dễ dàng thay đổi cách đối xử với nữ giới hơn mà không sợ mất danh dự như nam Việt Nam.
- Tóm lại, so sánh quá trình thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam và phương Tây có nhiều điểm khác biệt. Sự khác biệt này là do đặc trưng loại hình văn hóa quy định.
RANDOM_AVATAR
quang an
 
Bài viết: 25
Ngày tham gia: Thứ 7 02/10/10 6:42
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Tình bạn trong sáng giữa nam và nữ bậc cao học ở thành p

Gửi bàigửi bởi kimhue » Chủ nhật 03/07/11 9:02

chào bạn mình nghĩ bạn nên để cấp độ 0 là văn hoá giao tiếp.
RANDOM_AVATAR
kimhue
 
Bài viết: 26
Ngày tham gia: Thứ 5 07/10/10 9:40
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Tình bạn trong sáng giữa nam và nữ bậc cao học ở thành p

Gửi bàigửi bởi thuytrangnvtq » Thứ 5 07/07/11 18:05

Chào bạn, mình xin góp ý một chút về sơ đồ cấu trúc cấp hệ của bạn trong đề tài: Tình bạn trong sáng...
Theo mình thì ở cấp độ 1 (chủ thể), nếu bạn đã phân theo cấp học: ĐH, cao học thì phần còn lại nên đổi thành "Tình bạn khác giới bậc phổ thông", mình nghĩ như vậy sẽ hợp lí hơn.
Mình chỉ có chia sẻ nhỏ như vậy thôi. Chúc bạn thành công.
RANDOM_AVATAR
thuytrangnvtq
 
Bài viết: 33
Ngày tham gia: Thứ 5 17/03/11 12:10
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Trang trước

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến111 khách