PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI BA NƯỚC ĐÔNG NAM Á

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

Gửi bàigửi bởi NGUYEN THI NGOC HANH » Chủ nhật 01/05/11 17:00

BÀI TẬP 6
Chọn một khái niệm cơ bản (chìa khóa) trong đề tài nghiên cứu của mình:
Định nghĩa và trình bày theo 7 bước
Lập sơ đồ định nghĩa
Khái niệm cơ bản trong đề tài là: Văn hóa
Định nghĩa Văn hóa trình bày theo 7 bước như sau:
1. Tìm tất cả các định nghĩa hiện có
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử”.
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa:
- Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
- Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát)
- Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát)
- Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh
- Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm, Nhà xuất bản Tp.HCM, 2001 cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa.
Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia.
Hình ảnh
Hình ảnh
Hình ảnh
3. Phân loại các định nghĩa, xác định những nét nghĩa chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/thiếu cần bổ sung , sửa chữa
Theo đặc trưng giống: Điều là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần
Theo đặc trưng loài: cả 5 điều có 4 tiêu chí là hệ thống, giá trị, nhân sinh và lịch sử; nhưng xét về tiêu chí nhân sinh và lịch sử chưa thống nhất, do vậy tính giá trị cần khái quát và chính xác hóa.
Như vậy, có thể tiếp thu: đặc trưng giống “là những giá trị vật chất và tinh thần”, phạm trù của 4 đặc trưng loài ( hệ thống, giá trị, nhân sinh và lịch sử).
Cần chỉnh sửa , khái quát hóa và chính xác hóa nội dung 4 đặc trưng loài.
4. Tìm tất cả các cách sử dụng khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả (3) để điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng.
5. Xác định đặc trưng giống ( khái niệm rộng hơn cùng loại)
là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần
6. Xác định các đặc trưng loài (khu biệt khái niệm được định nghĩa với những khái niệm khác cùng bậc)
Tính hệ thống ( phân biệt với giá trị, phi giá trị)
Tính giá trị ( phân biệt văn hóa với hậu quả của nó hoặc những hiện tượng phi văn hóa)
Tính nhân sinh ( phân biệt loài người sáng tạo với loài vật bản năng, phân biệt văn hóa với những giá trị tự nhiên chưa mang dấu ấn sáng tạo của con người)
Tính lịch sử ( phân biệt với truyền thống văn hóa)
Sản phẩm sơ bộ: “ Văn hóa là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn”
7. Lập sơ đồ, kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu về hình thức và nội dung, chỉnh sửa lại
Hình ảnh
Văn hóa là “Văn hóa là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn”
RANDOM_AVATAR
NGUYEN THI NGOC HANH
 
Bài viết: 13
Ngày tham gia: Thứ 6 11/03/11 21:50
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

Gửi bàigửi bởi NGUYEN THI NGOC HANH » Chủ nhật 01/05/11 17:10

BÀI TẬP 7
Chọn một cặp đối tượng, lập bảng so sánh đưa lên diễn đàn
Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
NGUYEN THI NGOC HANH
 
Bài viết: 13
Ngày tham gia: Thứ 6 11/03/11 21:50
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

Gửi bàigửi bởi NGUYEN THI NGOC HANH » Chủ nhật 01/05/11 20:55

BÀI TẬP 8
Chọn nội dung thích hợp trong đề tài của mình để vận dụng PP loại hình nhằm phát hiện những tri thức mới.
1. Lựa chọn loại hình nền văn hóa nông nghiệp lúa nước
2. Định vị C – K – T cho đối tượng nghiên cứu:
C: Người Việt Nam
K: Việt Nam
T: Hội nhập
3. Phân loại các phần tử của đối tượng được nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được phân chia thành 2 nhóm: Văn hóa Hội nhập và Văn hóa Truyền thống
4. Với đối tượng nghiên cứu được định vị như trên, ta có bảng sau đây
Hình ảnh
5. Phát hiện ra tri thức mới
Với các bước như trên chúng ta nhận thấy rằng; việc vận dụng phương pháp loại hình đã giúp ta làm nỗi bật sự giống và khác nhau giữa Văn hóa hội nhập và Văn hóa truyền thống
Việc so sánh giúp ta có một cái nhìn đầy đủ hơn về đối tượng mà chúng ta so sánh cụ thể ở đây là so sánh Văn hóa hội nhập và Văn hóa truyền thống. Sự khác biệt trong bảng so sánh được bộc lộ rõ và làm nỗi bậc đối tượng chúng ta cần so sánh
Từ những sự khác nhau ở bảng trên đã cho ta thấy được những đặc trưng riêng của Văn hóa hội nhập và Văn hóa truyền thống, từ đó dẫn đến mối quan hệ khác nhau của hai đối tượng này trong loại hình văn hóa nông nghiệp lúa nước
Qua việc vận dụng phương pháp loại hình trong nghiên cứu đã cho ta tri thức mới trong Văn hóa hội nhập và Văn hóa truyền thống cùng tồn tại trong văn hóa ( loại hình văn hóa nông nghiệp lúa nước) nhưng do những đặc trưng khác nhau mà chúng có quan hệ, vị trí vai trò khác nhau trong nền văn hóa, và cũng từ đó cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của Văn hóa hội nhập trong nền Văn hóa Việt Nam.
RANDOM_AVATAR
NGUYEN THI NGOC HANH
 
Bài viết: 13
Ngày tham gia: Thứ 6 11/03/11 21:50
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

Gửi bàigửi bởi NGUYEN THI NGOC HANH » Thứ 5 14/07/11 23:11

SỬA BÀI TẬP 8:
Chọn nội dung thích hợp trong đề tài của mình để vận dụng PP loại hình nhằm phát hiện những tri thức mới.

Hình ảnh
Hình ảnh
Hình ảnh
Mỗi nền văn hóa điều là tài sản của một cộng đồng người nhất định – một chủ thể của văn hóa. Trong quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng người - chủ thể văn hóa đó luôn luôn có nhu cầu tìm hiểu và vì vậy, đã tích lũy được một kho tàng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và con người. Mọi hệ thống văn hóa điều có quan hệ với môi trường xã hội. Vì vậy, giữa văn hóa và môi trường xã hội có sự gắn kết sâu sắc. Đó là những vấn đề có liên quan đến tổ chức xã hội vĩ mô như tổ chức nông thôn, quốc gia, đô thị và những vấn đề có liên quan đến đời sống cá nhân như tín ngưỡng, phong tục, tập quán, đạo đức, sự giao tiếp, ứng xử, nghệ thuật…. Tận dụng môi trường tự nhiên cũng như việc đối phó với thiên tai… Với môi trường xã hội, bằng quá trình giao lưu văn hóa, tiếp xúc và biến đổi văn hóa, mỗi dân tộc điều cố gắng tận dụng các thành tựu của các dân tộc, quốc gia để làm giàu thêm nền văn hóa của mình. Đồng thời phải đối phó với họ trên các mặt quân sự, ngoại giao, chính trị… Văn hóa phải được xem xét trên cả hai khía cạnh đồng đại và lịch đại, không gian (vấn đề địa lý – môi trường) và thời gian (lịch sử dân tộc), khái quát và cụ thể.

Do vậy, Văn hóa hội nhập các nước Phương Đông (Việt Nam) và Văn hóa hội nhập các nước Phương Tây (Phương Tây); xuất phát từ hai loại hình Văn hóa khác nhau. Đó là, Văn hóa Nông nghiệp và Văn hóa Du mục, hai loại hình văn hóa này tạo nên hai kiểu tư duy trái ngược nhau. Nghề nông, nhất là nông nghiệp lúa nước sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều. Không chỉ phụ thuộc vào một hai hiện tượng riêng lẻ nào, mà là cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả: Trời, đất, nắng, mưa… Đó chính là lối tư duy tổng hợp. Tổng hợp kéo theo biện chứng. Cái mà người làm nông nghiệp quan tâm không phải là tập hợp của các yếu tố riêng rẽ mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng. Tổng hợp có nghĩa là bao quát được mọi yếu tố, còn biện chứng thì chú trọng đến mối quan hệ giữa chúng. Đó chính là đặc trưng tư duy của văn hóa gốc nông nghiệp mà nông nghiệp lúa nước điển hình. Người Việt tích lũy một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này, được thể hiện qua ca dao, tục ngữ. Cũng như mối quan hệ giữa chúng với các hiện tượng trong đời sống thường ngày và trong xã hội.
Ngược lại, đối tượng quan tâm của nghề chăn nuôi không tản mạn mà tập trung vào đàn gia súc, con vật. Xuất phát từ một chỉnh thể cụ thể là con vật mà xẻ chia ra thành các bộ phận. Và thế là tư duy tất yếu đi theo lối phân tích về các yếu tố cấu thành. Vì mối liên hệ giữa chúng trong các chỉnh thể là lẽ đương nhiên nên đối tượng quan tâm ở đây tập trung vào các bộ phận riêng lẻ. Phân tích kéo theo siêu hình, chú trọng các yếu tố, trừu tượng hóa chúng khỏi mối quan hệ. Phân tích và siêu hình là đặc trưng tư duy của văn hóa gốc Du mục mà Phương Tây là điển hình.. Tư duy này là cơ sở cho sự hình thành và phát triển khoa học. Một tư tưởng được coi là khoa học và khi nó được biện giải, lặp luận chặt chẽ và được kiểm tra bằng thực nghiệm khoa học hình thành theo con đường thực nghiệm, khách quan, lí tính, đẻ ra tính chặt chẽ và sức thuyết phục. Tuy nhiên, do phương pháp khoa học bao giờ cũng giới hạn đối tượng, cho nên cái đúng của khoa học chỉ là đúng trong phạm vi những giới hạn ấy thôi. Do đó, nó luôn chứa khiếm khuyết, thậm chí sai lầm, tư tưởng trước sai sẽ có tư tưởng sau thay thế nên khoa học phát triển nhanh.
Còn lối tư duy tổng hợp và biện chứng thì sự chú ý về chi tiết có phần bị phân tán, không có điều kiện cho việc hình thành những khoa học chuyên sâu nhưng lại là cơ sở cho đạo học – là hệ thống những tri thức thu được bằng con đường kinh nghiệm, chủ quan, cảm tính, tuy sức thuyết phục thấp vì không được biện luận, chứng minh, nhưng diễn đạt ngắn gọn súc tích và đẻ ra tính thâm thúy.
Về nguyên tắc tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa tổ chức xã hội theo nguyên tắc trọng tình. Hàng xóm sống cố định với nhau nên phải tạo ra một cuộc sống hòa thuận, lấy tình nghĩa làm đầu. Lối sống trọng tình cảm dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ.
Về cách tổ chức cộng đồng (lối tư duy tổng hợp và biện chứng của người Việt Nam nói riêng) dẫn đến lối sống linh hoạt, luôn ứng biến cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Nguyên tắc trọng tình cảm cũng là cơ sở của tâm lí hiếu hòa, tôn trọng và cư xử bình đẳng. Nền “dân chủ làng mạc” Phương Đông xuất hiện sớm hơn nền dân chủ tư sản Phương Tây rất nhiều. Trong khi đó, tư duy phân tích và hữu hình dẫn đến lối sống theo nguyên tắc. Cuộc sống du cư của tổ tiên xưa đòi hỏi tính tổ chức và kỷ luật cao, trọng lý, coi trọng sức mạnh, trọng võ,…..
Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận, mềm dẻo trong đối phó. Còn lối sống theo nguyên tắc du mục dẫn đến lối ứng xử độc tôn, chiếm đoạt trong tiếp nhận và cứng rắn trong đối phó. Đây là hai loại hình văn hóa cơ bản có tính bao trùm.
Tuy nhiên, không có nền văn hóa nào là nông nghiệp hoàn toàn hay du mục hoàn toàn. Vấn đề chỉ là mức độ ít nhiều của từng nền văn hóa. Người ta có thể áp dụng các đặc trưng loại hình trên để phân biệt văn hóa công nghiệp, văn hóa đô thị, văn hóa hậu công nghiệp, sự phân loại của nội bộ nền văn hóa hay mỗi loại hình văn hóa hoặc mỗi giai đoạn phát triển của văn hóa, bằng một vài phương pháp khác nhau.
RANDOM_AVATAR
NGUYEN THI NGOC HANH
 
Bài viết: 13
Ngày tham gia: Thứ 6 11/03/11 21:50
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Trang trước

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến0 khách

cron