PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VĂN HÓA HỌC
GS.TS Trần Ngọc Thêm
Lớp: Cao học Văn hóa học k14B
HV: Lê Thị Thanh Tuyền
BÀI TẬP 1
1. Tên đề tài: Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ của người Việt vùng Tây Nam Bộ.
Cấu trúc ngữ pháp:
[tín ngưỡng] [thờ Bà Chúa Xứ] [người Việt] [vùng Tây Nam Bộ]
2. Các cặp đối lập:
Tín ngưỡng > < tôn giáo
Thờ Bà Chúa Xứ > < thờ các nữ thần khác (Bà Đen, Bà Liễu Hạnh,…)
Người Việt > < các tộc người khác (người Hoa, người Khmer, người Chăm)
Vùng Tây Nam Bộ > < các vùng văn hóa khác
3. Cặp đối lập chính: thờ Bà Chúa Xứ > < thờ các nữ thần khác ( Bà Đen, Bà Liễu Hạnh,…)
4. Vận dụng phương pháp dịch lý để nghiên cứu mâu thuẫn:
- Tính tương hiện: tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ và thờ các nữ thần khác đều là văn hóa tinh thần, tâm linh, đều thờ mẫu, tín ngưỡng dân gian bản địa.
- Tính tương hóa: tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Tây Nam Bộ có tiếp thu từ tín ngưỡng thờ mẫu ở người Việt Bắc Bộ, thờ Thiên Y A Na ở Miền Trung, thờ Po Yan Inư Nagar của người Chăm. Không phân biệt tộc người, xứ sở, nguồn gốc, lòng tin vào sự phù hộ của các Mẫu luôn hiện hữu trong cộng đồng.
- Tính hướng hòa: mặc dù tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Tây Nam Bộ có khác với thờ các nữ thần ở một số nơi về đối tượng thờ (Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Thiên Y A Na,…), truyền thuyết về các Bà khác nhau nhưng cùng là tín ngưỡng thờ mẫu của cả cộng đồng người Việt, của nền văn hóa âm tính.
