SÔNG MEKONG TRONG QUAN HỆ NHẬT BẢN VÀ BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Re:Đào tạo nhân lực sau CTTGII ở NhậtBản dưới gócnhìn khuvực

Gửi bàigửi bởi Duong Thanh Mai » Thứ 7 15/03/14 20:55

Bài tập 7: Thủ pháp so sánh trong phương pháp Loại hình
Lập bảng so sánh hai chủ thể tùy chọn
Bảng 1: So sánh lúa và cá di cư

Hình ảnh

Bảng 2: So sánh mô hình quản lý Kaizen và mô hình quản lý gia đình Nhật Bản
Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
Duong Thanh Mai
 
Bài viết: 25
Ngày tham gia: Thứ 3 14/02/12 10:00
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re:Đào tạo nhân lực sau CTTGII ở NhậtBản dưới gócnhìn khuvực

Gửi bàigửi bởi Duong Thanh Mai » Chủ nhật 16/03/14 17:03

Bài tập 6: Chọn một khái niệm cơ bản trong đề tài, định nghĩa và trình bày theo 7 bước, lập sơ đồ định nghĩa.

Định nghĩa từ “ nhân lực"

1. Những định nghĩa hiện có về “nhân lực”:


[1] Theo: Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực trường ĐH Kinh Tế
Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động.
[2] Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A ... s%E1%BB%B1
Bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
[3]Theo Vdict.com (Vietnamese - Vietnamese dictionary); Online Dictinary: sức người
[4]The Oxford modern English Dictionary (online) – influence:
manpower (noun)
the number of workers needed or available to do a particular job - số lượng lao động cần thiết hoặc có sẵn để làm một công việc cụ thể
a need for trained/skilled manpower- nhu cầu đào tạo / nhân lực có tay nghề cao
a manpower shortage - thiếu nhân lực
We have undertaken a major review to ensure best use of the available manpower - Chúng tôi đã tiến hành rà soát tổng thể để đảm bảo sử dụng tốt nhất nguồn nhân lực có sẵn.
[5]The American Heritage Dictionary (Peter Davies, Dell publishing , 1971) – influence:
(1) The power of human physical strength. – Sức mạnh của thể chất của con người.
(2) Power in terms of the workers available to a particular group or required for a particular task. - điều kiện của người lao động có sẵn cho một nhóm cụ thể hoặc cần thiết cho một công việc cụ thể.
[6]Dictionary.com – influence:
Based on the Random House Dictionary, © Random House, Inc. 2014. Influence:
Origin: 1860–65; man + power
(1) ability to do or act; capability of doing or accomplishing something - khả năng để làm hay hành động; khả năng làm hoặc hoàn thành một cái gì đó.
(2) political or national strength: the balance of power in Europe. - sức mạnh chính trị hoặc quốc gia: cán cân quyền lực ở châu Âu.
(3) great or marked ability to do or act; strength; might; force. - khả năng tuyệt vời hoặc có dấu hiệu để làm hay hành động; sức mạnh; lực.
(4)the possession of control or command over others; authority;ascendancy: power over men's minds. - sở hữu kiểm soát hoặc lệnh hơn những người khác; thẩm quyền; uy: điện hơn trí tuệ con người.
(5)political ascendancy or control in the government of a country,state, etc.: They attained power by overthrowing the legalgovernment. – quyền uy chính trị hoặc kiểm soát trong chính phủ của một quốc gia, nhà nước, vv: Họ đạt được quyền lực bằng cách lật đổ chính phủ hợp pháp.
[7] World English Dictionary – influence:
(1) power supplied by men – Khả năng hay sức mạnh được cung cấp bởi những người đàn ông
(2)a unit of power based on the rate at which a man can work;approximately 75 watts – một đơn vị năng lượng dựa trên tốc độ mà một người đàn ông có thể làm việc; khoảng 75 watt
(3)the number of people available or required to perform a particularfunction: the manpower of a battalion - số lượng người có sẵn hoặc yêu cầu để thực hiện một particularfunction: nguồn nhân lực của một tiểu đoàn
usage Gender-neutral form: personnel, staff - hình thức sử dụng: nhân viên, nhân viên
2. Phân tích định nghĩa:
Hình ảnh
3. Phân loại các định nghĩa, xác định những nét nghĩa chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/thiếu cần bổ sung, sửa chữa:
**Theo chức năng: có 2 loại:
(1) nhân lực là khả năng (đã được thể hiện cụ thể hay ở dạng tiềm ẩn) của con người
(2) nhân lực là sức lực tiêu hao của con người trong một công việc cụ thể, có thể tính được giá trị
**Theo chủ thể: con người là chủ thể.
Như vậy, có thể tiếp thu các ý sau từ các định nghĩa trên: Nhân lực là khả năng (được thể hiện cụ thể hay ở dạng tiềm ẩn) của con người, sử dụng vào một hay nhiều công việc cụ thể.
Những đặc trưng thiếu / cần bổ sung:
Sự nâng cao năng lực của con người về mặt thể lực, trí lực, nhân cách, tâm lý…., thông qua đào tạo
Sức mạnh tiềm ẩn của cộng đồng người, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng (trí tuệ, thể lực, nhân cách, cảm xúc tích cực…) và cơ cấu dân số.
Là khả năng lao động, từ lao động mới có giá trị lao động. Giá trị sức lao động là sự định giá sức lao động như một giá trị hàng hóa, còn giá trị lao động đem lại thặng dư về kinh tế, tạo sự phát triển LLSX. (Ví dụ: phát minh ra bóng đèn điện được định giá trị sức lao động là x (đơn vị tiền) để trả cho chủ nhân của nó. Nhưng giá trị lao động của tác giả phát minh ấy là vô giá, cả thế giới được hưởng lợi không ngừng nghỉ).
4. Các cách sử dụng hiện có:
Việc sử dụng từ “nhân lực” còn thể hiện quá trình nâng cao năng lực của con người về mặt thể lực, trí lực, cùng quá trình phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó để phát triển cá nhân, phát triển doanh nghiệp, đất nước (Vd: Đào tạo nhân lực công nghệ thông tin để phát triển ngành này cho đất nước)
Việc sử dụng từ “nhân lực” còn thể hiện khả năng hiện có của con người mà không tính đến khả năng tiềm ẩn (Vd: Nhân lực ngành lâm nghiệp của tỉnh này còn yếu kém)
5. Xác định đặc trưng giống:
Là khả năng
6. Xác định đặc trưng loài:
(1) Khả năng của con người (phân biệt với các nguồn lực khác như nguồn lực tài nguyên)
(2) Được thể hiện cụ thể hay ở dạng tiềm ẩn
(3) Sự nâng cao năng lực của con người về mặt thể lực, trí lực, nhân cách, tâm lý….,
(4) Sức mạnh tiềm ẩn của cộng đồng người, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.
(5) Là nguồn gốc của lao động
*Định nghĩa sơ bộ: Nhân lực là khả năng của con người, biểu hiện cụ thể hay tiềm ẩn, cùng sự nâng cao năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách, tâm lý….., khả năng lao động, tham gia vào quá trình tạo ra vật chất và tinh thần cho xã hội.
7. Lập sơ đồ kiểm tra:
Hình ảnh
Qua kiểm tra sơ đồ thấy, định nghĩa đã đáp ứng các yêu cầu.
*** Định nghĩa cuối cùng: Nhân lực là khả năng của con người, biểu hiện cụ thể hay tiềm ẩn, cùng sự nâng cao năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách, tâm lý….., khả năng lao động, tham gia vào quá trình tạo ra vật chất và tinh thần cho xã hội.
RANDOM_AVATAR
Duong Thanh Mai
 
Bài viết: 25
Ngày tham gia: Thứ 3 14/02/12 10:00
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re:Đào tạo nhân lực sau CTTGII ở NhậtBản dưới gócnhìn khuvực

Gửi bàigửi bởi Duong Thanh Mai » Chủ nhật 08/06/14 16:41

Bài tập 8: Vận dụng phương pháp loại hình nhằm tìm kiếm những tri thức mới.

Từ đề tài “đào tạo nhân lực ở Nhật Bản sau chiến tranh thế giới II dưới góc nhìn khu vực học”, rút ra những đặc trưng loại hình của Nhật Bản khi đặt Nhật Bản trong cấu trúc khu vực Đông Bắc Á.
Hình ảnh
Hình ảnh
(1) Năm 2008 Nhật Bản có 589 ĐH tư thục, 86 ĐH công lập quốc gia (NUC), 90 ĐH công lập địa phương (PUC). Phần lớn chi tiêu quốc gia cho đại học dành cho NUC, dù phần lớn sinh viên học ở ĐH tư thục do các tập đoàn Keiretsu thành lập.
Đặc trưng loại hình trong công cuộc đào tạo nhân lực của Nhật Bản thể hiện qua đặc trưng chung của khu vực Đông Bắc Á, và đặc trưng của riêng Nhật Bản khi xét Nhật Bản như một hệ thống con trong cấu trúc khu vực. Với tư cách như môt hệ thống con, các đặc trưng riêng của Nhật Bản được nêu ở bảng trên. Với tư cách là môt thành tố mang nét đặc trưng chung của khu vực Đông Bắc Á, công cuộc đào tạo nhân lực nổi bật ở các điểm sau:
1. Cải cách phát triển nguồn nhân lực sớm. Nền tảng cải cách sớm, triệt để, quyết liệt, với quyết tâm cao độ đưa chất lượng nhân lực lên cao, thúc đẩy xoay chuyển nền kinh tế. Có chủ thuyết GD rõ ràng. Có khao khát mạnh mẽ tiến lên vị trí cao nhất thế giới thông qua việc thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực, không chấp nhân ở vi trí thứ hai.Từ vị trí nước bại trận (Nhật Bản), lạc hậu (Trung Quốc), hoặc lún vào chiến tranh (Hàn Quốc), các nước này đều có các đợt cải cách và có công cuôc đào tạo nhân lực thành công, trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới (Nhật Bản năm 1973, Trung Quốc năm 2012). Hàn Quốc gia nhập các nước có nền kinh tế mạnh vào thâp niên 1990. Quá trình đào tạo nhân lực diễn ra nhất quán, quyết liệt và có chủ thuyết rõ ràng của chính phủ qua các thời kỳ.
2. Đông Bắc Á tận dụng triệt để được lợi thế thời kỳ dân số vàng, thúc đẩy nguồn vốn con người môt cách toàn diện, sâu rộng, tao nên những kỳ tích phát triển; đưa đất nước bứt phá ngoạn mục, xoay chuyển kinh tế thần kỳ, tạo kỳ tích, trở thành cường quốc kinh tế, dù xuất phát điểm là nước nghèo hoặc bại trận. Nhật Bản và Hàn Quốc đã vượt qua bẫy thu nhập trung bình môt cách ngoạn mục, khi giai đoạn dân số vàng vẫn chưa qua đi, còn đang ở đỉnh cao.Trung Quốc chậm hơn song đang phát triển ngoạn mục về chất lượng nguồn nhân lực. Đặc biệt ở Trung Quốc, cuộc phát triển và đào tạo nhân lực đi song hành và làm bệ phóng cho các yêu sách về đường lưỡi bò ở biển Đông và các yêu sách vùng nhận diện phòng không, cùng với căn tính văn hóa Trung Hoa là bành trướng bá quyền, mở rộng lãnh thổ, xác lập vị trí trung tâm thiên hạ; kết hợp với sự phát triển đang hiệu quả về chất và lượng nguồn nhân lực, kết hợp với sự phát triển như vũ bão về kinh tế, và các chủ thuyết bộc lộ khao khát thu tóm tài nguyên năng lượng giàu có ở biển Đông, giành quyền kiểm soát tuyến đường biển huyết mạch của nền kinh tế thế giới, thay đổi trật tự lãnh đạo thế giới… Các yếu tố trên khiến chất lượng nguồn nhân lực của Trung Quốc ngày càng phát triển về các lĩnh vực mũi nhọn như quốc phòng, vũ trụ, năng lượng, quân sự và chế tạo các loại khí tài. Công nghê quốc phòng, vũ trụ, năng lượng và quân sự cũng vì thế ngày càng lớn mạnh ngay trong giai đoạn phát triển kinh tế thần tốc và trong giai đoạn dân số vàng; dấy lên mối lo ngại về sự hiện diện đầy đủ của các tiền đề, các thành tố hình thành chủ nghĩa phát xít hậu hiện đại.
3. Đông Bắc Á có chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ, tinh thần tự tôn cao, là những nước đã trải qua chiến tranh. Nằm trong khu vực văn hóa xem trọng lợi ích trần thế , sư khắc nghiệt của khí hậu và núi, nghèo tài nguyên, nên có đặc tính chung là dấn thân dũng cảm và quyết liệt, cứng rắn cương quyết, ít nước đôi đối với việc đề ra và thực hiện các chính sách, trong đó có chính sách đào tạo nhân lực.
RANDOM_AVATAR
Duong Thanh Mai
 
Bài viết: 25
Ngày tham gia: Thứ 3 14/02/12 10:00
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: SÔNG MEKONG TRONG QUAN HỆ NHẬT BẢN VÀ BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG

Gửi bàigửi bởi vothanhhung » Thứ 2 09/06/14 23:18

Chào Cô Mai,
Xin phép tôi có vài lời suy tư khi đọc về bài viết " Sông Mekong trong quan hệ NB và 3 nước Đông Dương".
Chắc Cô Mai muốn khu biệt bài viết mối quan hệ các nước Đông Dương với NB nhằm hạn chế không gian văn hóa của đề tài. Điều này không có gì sai. Tuy nhiên, khái niệm Đông Dương (Indochine) ít còn dùng trong trên các phương tiện truyền thông tại NB nên nếu có bạn NB nào tình cờ đọc sẽ hơi khó khăn một xíu. Và nó cũng phần nào gợi lại quá khứ của thời thuộc địa của Pháp ở khu vực này. Và sông Mekong chảy xuyên qua cả Myanmar; Thailand và tỉnh Yunnan (China). NB cũng có quan hệ cả 2 nước này đồng thời cả China. Bằng chứng là khi hội họp các quốc gia thuộc tiểu vùng sông Mekong (Mekong Subregion) NB luôn có mặt với tư cách nhà tài trợ chính.
Cô Mai có nói đến mối quan hệ qua lại giữa NB và 3 nước Đông Dương là có sự quan hệ có qua có lại, hổ tương với nhau. Thực ra, đề tài lấy sông Mekong làm đối tượng để so sánh các mối quan hệ với NB có gì đó không rõ ở đây. NB có quan hệ với các nước ASEAN trong đó có Laos, Cambbodia và Vietnam. Trong đó có việc hợp tác trong việc bảo tồn, gìn giữ tài nguyên sông Mekong của 3 nước "Đông Dương". Nếu đặt trọng tâm mối quan hệ hợp tác của NB với các nước tiểu vùng sông Mekong thì quan hệ này là quan hề của nhà tài trợ. Nếu bạn chọn đề tài là quan hệ giữa NB và 3 nước "Đông Dương" (mà trên bản đồ hiện nay không có cái gọi là Indochine đâu) có thể hay hơn. Và Cô Mai có thể đặt trọng tâm về các quan hệ trong lĩnh vực văn hóa chẳng hạn.
Nói chung, tên đề tài có gì đó không ổn nên việc phân tích các mối quan hệ trong đó cũng không được rõ ràng cho lắm.
Rất mong Cô Mai, khi nào có thời gian rảnh, chỉ dạy thêm cho tôi được rõ. Cám ơn Cô trước.
RANDOM_AVATAR
vothanhhung
 
Bài viết: 21
Ngày tham gia: Thứ 7 31/05/14 22:09
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 2 lần

Re: SÔNG MEKONG TRONG QUAN HỆ NHẬT BẢN VÀ BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG

Gửi bàigửi bởi Duong Thanh Mai » Thứ 7 14/06/14 21:41

Chào ban vothanhhung,
1)Rất thất lễ vì tôi làm dề tài “SÔNG MEKONG TRONG QUAN HỆ NHẬT BẢN VÀ BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG” chẳng tới đâu, chất lượng không có, nên đã làm bạn suy tư. Mời bạn xem đề tài “đào tạo nhân lực ở Nhật Bản sau chiến tranh thế giới II dưới góc nhìn khu vực hoc” ỏ ngay link này. Tôi đã đổi tên đề tài và lấy đề tài mới này làm bài tập nộp Thầy. Mời bạn xem va góp ý cho tôi.
2) Thât ra, với đề tài bạn thắc mắc, sông Mekong không phải la không gian văn hóa, lại càng không phải đối tượng so sánh. Không gian sông Mekong và đồng bằng quanh sông Mekong là không gian khu vực. Theo tôi, khái niệm khu vực có thể nằm gọn trong một không gian văn hóa, ví dụ khu vực đồng bằng sông Hồng. Khái niệm khu vực lại có thể chỉ không gian hẹp, được xác lập theo chức năng, và mất đi khi chức năng kết thúc, ví dụ: khu vực cấm, khu vực cách ly (ở sân bay), khu vực nguy hiểm, khu vực tiếp tân. Khái niệm khu vực lại có thể xuyên quốc gia, xuyên châu lục; loại bỏ một vài đơn vi hẹp là vài quốc gia trong cùng không gian văn hóa, và thu nhận thêm các đơn vị khác là các quốc gia ngoài không gian văn hóa đó nhưng có cùng lợi ích cốt lõi hay lợi ích quan trọng ở hiện tại hoặc mong muốn hình thành ở tương lai. Vi dụ: Khu vực đồng tiền chung châu Âu, khu vực xuyên Thái Bình Dương (TPP)…
Với ý nghĩa đó, tiêu đề có danh từ trung tâm: quan hệ của Nhật Bản. Cấu trúc cấp hệ con của danh từ trung tâm là: Quan hệ với ai (với 3 nước Đông Dương/ với Mỹ/ với các nước Đông Bắc Á…) , cấp con phía dưới nữa là các loại quan hệ (quan hệ về kinh tế/ hay văn hóa/ hay quốc phòng… Cấu trúc cấp hệ cho thấy tên đề tài quá rộng ở chỗ này). Không gian là sông Mekong và đồng bằng quanh sông Mekong. Nếu xem khu vực là một hệ thống có cấu trúc hoàn chỉnh và đầy đủ các thành tố tạo thành hệ thống như chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, văn hóa… thì sẽ thấy sông Mekong là một thành tố rất quan trọng trong mối quan hệ giữa 3 nước Đông Dương với Nhật Bản (về vị trí địa – chính trị của con sông, về không gian văn hóa châu thổ Mekong, về lợi thế chiến lược giao thông khi xuất hàng hóa đi sang các nước thứ ba, nếu Nhật Bản đặt các nhà máy ở khu vực này…).
Ví dụ đề tài tương tự mà chúng ta có thể đã bắt gặp:
Biển Đông trong quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc.
Nhân tố Nhật Bản trong quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN.
Ta thấy "biển Đông" trong tên đề tài trên không thể hiểu là không gian văn hóa, vì bản thân biển Đông cách xa Trung Quốc lẫn Mỹ hàng ngàn km, chẳng chịu ảnh hưởng văn hóa Hán lẫn Mỹ. Nhưng, vị trí địa chính trị có tính chất chiến lược cực kỳ quan trọng. Tham vọng bành trướng của Trung Quốc, và chiến lược toàn cầu của Mỹ đều phải tính đến biển Đông; tính đến ASEAN, đặc biệt là Việt Nam. Trung Quốc chỉ có thể trở thành cường quốc biển, xác lập vị trí dẫn đầu thế giới khi vượt qua được các chuỗi đảo đang tranh chấp với Hàn Quốc và Nhật Bản, kiểm soát được tuyến đường biển rộng lớn ở biển Đông, không bị các nước ASEAN chặn lại ở cửa ngõ vươn ra Thái Bình Dương. Chiến lược nhất quán của Trung Quốc từ 1956 đến nay là chiếm dần từng phần, kể cả các bãi chìm bãi nổi ở biển Đông. Các vị trí TQ đánh chiếm, hợp lại thì giống như một hệ cờ để thiết lập các căn cứ quân sự, khép dần đường lưỡi bò, từ đó tạo thành hệ thống con ngay trong cấu trúc hệ thống khu vực lớn. Khu vực này, với tư cách là một hệ thống, có tính tự bảo vệ để ổn định cấu trúc hệ thống. Hành động của Trung Quốc nhằm thay đổi cấu trúc khu vực, nên đã tạo ra sự dịch chuyển các thành tố trong khu vực như dịch chuyển các nguyên tắc an ninh, đường lối ngọai giao,... của các nước, gắn kết ASEAN (và cả Nhật Bản) lại vì lợi ích chung là an tòan hàng hải và hòa bình khu vực. Nếu không thì khi đủ mạnh, hệ thống con ấy đủ sức làm thay đổi vị trí các thành tố về an ninh, chính trị… trong khu vực, thay đổi cấu trúc khu vực, và thiết lập trật tự khu vực mới.
Ở đề tài “SÔNG MEKONG TRONG QUAN HỆ NHẬT BẢN VÀ BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG”, theo tôi, tên đề tài lủng củng ở chỗ: quan hệ gì giữa Nhật Bản và 3 nước Đông Dương? Quan hệ thì đủ mọi lĩnh vực, nên thu hẹp đề tài là quan hệ kinh tế, hay an ninh, hay ngoại giao…. Cụm từ “3 nước Đông Dương” không phải là vấn đề cần xem lại. Đề tài rộng quá nên khó làm, không đủ sức, và tôi đã đổi tên đề tài.
Xin chân thành cảm ơn bạn.
RANDOM_AVATAR
Duong Thanh Mai
 
Bài viết: 25
Ngày tham gia: Thứ 3 14/02/12 10:00
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Trang trước

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến5 khách

cron