1. Chọn một khái niệm cơ bản trong đề tài nghiên cứu của mình để xây dựng định nghĩa.
Bước 1 và 2: Tìm và phân loại, phân tích từng khái niệm
- Britanica : Network marketing, a direct-selling approach similar to home sales, is also gaining prevalence in markets worldwide.
Tạm dịch: Kinh doanh theo mạng, hình thức bán hàng trực tiếp như bán hàng tại nhà, là hình thức phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới.
Khái niệm ngắn gọn, đưa ra được 1 đặc trưng là: bán hàng trực tiếp. Tuy nhiên chưa bao quát hết phạm vi và chưa nêu ra được hết các đặc trưng của định nghĩa cần nêu.
- Wikipedia: Kinh doanh tiếp thị mạng lưới hoặc Kinh doanh theo mạng hay Bán hàng đa cấp chính thống (tên gọi thông dụng tại Việt Nam) là thuật ngữ chung dùng để chỉ một phương thức marketing sản phẩm. Đây là hoạt động kinh doanh/ bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng, họ có thể trực tiếp đến mua hàng tại công ty (hoặc qua một nhà phân phối duy nhất) mà không phải thông qua các đại lý hay cửa hàng bán lẻ. Nhờ vậy, hình thức này tiết kiệm rất nhiều chi phí từ tiền sân bãi, kho chứa, vận chuyển hàng hóa, khuyến mại, quảng cáo và các chương trình tiếp thị khác. Số tiền này thay vào đó, được dùng để trả thưởng cho nhà phân phối và nâng cấp, cải tiến sản phẩm (do đó chất lượng sản phẩm của ngành hàng bán hàng trực tiếp thường cao và liên tục được nâng cấp). Đây là phương thức tiếp thị tận dụng chính thói quen của người tiêu dùng: khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ tốt thường chia sẻ cho người thân, bạn bè và những người xung quanh. Nhà phân phối có vai trò như những đại lý. Họ dùng những kết quả sử dụng của bản thân và những người quen biết để thu hút khách hàng. Qua việc làm đó họ đem về lượng khách hàng cho công ty và bản thân họ. Ngoài ra họ còn có thể tìm kiếm những đối tác khác để có thể trở thành nhà phân phối cùng làm việc với mình, việc này được quản lý bằng mã số. Khi đó, mã số của một nhà phân phối mới được kết nối với mã số của người bảo trợ của anh ta.
Ưu điểm: Chi tiết, nêu được đặc trưng giống là phương thức marketing sản phẩm. Miêu tả được hết đặc trưng
Nhược điểm: Dài dòng, miêu tả cụ thể, thiếu tính khái quát. Lặp lại việc mua hàng trực tiếp tại công ty và việc không qua đại lý.
- Nghị định số 42/2014/NĐ-CP của Chính Phủ về Quản lý hoạt động bán hàng đa cấp : Kinh doanh theo phương thức đa cấp là hình thức kinh doanh thông qua mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều khách hàng khác nhau, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và các lợi kinh tế khác từ hoạt động kinh doanh của mình và của mạng lưới do mình xây dựng
Ưu điểm: Ngắn gọn, nêu được đặ trưng giống là hình thức kinh doanh và các đặc trưng.
Nhược điểm: Chưa liệt kê được hết các đặc trưng và chưa khát quát được hết các đặc trưng.
- Hiệp hội bán hàng đa cấp Việt Nam : Bán hàng đa cấp (tên gọi thông dụng tại Việt Nam) hay kinh doanh đa cấp (multi-level marketing) hoặc kinh doanh theo mạng (network marketing) là thuật ngữ chung dùng để chỉ một phương thức tiếp thị sản phẩm. Đây là hoạt động kinh doanh bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng, người tiêu dùng có thể trực tiếp đến mua hàng tại công ty mà không phải qua các đại lý hay cửa hàng bán lẻ. Nhờ vậy, hình thức này còn tiết kiệm rất nhiều chi phí từ việc quảng cáo, khuyến mại, tiền sân bãi, kho chứa, vận chuyển hàng hóa. Số tiền này được dùng để trả thưởng cho nhà phân phối và nâng cấp, cải tiến sản phẩm tiếp tục phục vụ người tiêu dùng. Đây là phương thức kinh doanh tận dụng chính thói quen của người tiêu dùng: khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ tốt thường đem chia sẻ cho người thân, bạn bè và những người xung quanh
Ưu điểm: Chi tiết, liệt kê hết tất cả đặc trưng mà khái niệm cần diễn tả.
Khuyết điểm: Dài dòng, thiếu tính khái quát cao.
- Richard Poe : Kinh doanh theo mạng- bất kỳ một phương pháp kinh doanh nào mà cho phép một cá thể kinh doanh độc lập tiếp nhận vào công việc của mình các cá thể kinh doanh khác và lấy ra được các khoản tiền hoa hồng từ các công việc kinh doanh của các cá thể mà họ thu hút được
Ưu điểm: Ngắn gọn, khái quát cao
Nhược điểm: Định nghĩa vòng, khó hiểu và chưa diễn tả hết đặc trưng của đối tượng
- Don Failla : Kinh doanh đa cấp – một hình thức kinh doanh sử những người họp thành một tổ chức để lưu hành hàng hóa và dịch vụ từ điểm sản xuất đến người tiêu dùng bằng phương pháp tiếp xúc giữa con người với con người.
Ưu điểm: Ngắn gọn
Nhược điểm: Thiếu các đặc trưng khác của đối tượng.
Bước 3: Những nét chung
Có nhiều tên gọi: Kinh doanh đa cấp, kinh doanh theo mạng, bán hàng đa cấp…
Đều là hình thức bán hàng, tiếp thị( marketing) đem lại hiệu quả cao. Có hai loại định nghĩa cho đối tượng là định nghĩa miêu tả và định nghĩa nêu đặc trưng. Định nghĩa miêu tả là của Wikipedia, Hiệp hội bán hàng đa cấp Việt Nam. Các định nghĩa còn lại là định nghĩa nêu đặc trưng.
Tuy nhiên định nghĩa chi tiết, đầy đủ thì dài dòng thiếu tính khái quát. Ngược lại, định nghĩa ngắn gọn, khái quát thì thiếu các đặc trưng.
Bước 4. Xác định đặc trưng giống
Là hình thức kinh doanh
Bước 5. Cách thức sử dụng khái niệm
Hiện nay, khái niệm “ kinh doanh đa cấp” hay “ kinh doanh theo mạng” đều chỉ về một hình thức kinh doanh mới, một trào lưu mới trong phương thức kinh doanh. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia và trong nhận định của nhiều người, hình thức này mang tính tiêu cực nhiều hơn tích cực.
Bước 6. Các tiêu chí khu biệt định nghĩa
- Bán hàng trực tiếp
- Giảm được các loại chi phí, hạ giá thành sản phẩm
- Mạng lưới người tham gia theo cấp
- Nhận được hoa hồng từ việc bán sản phẩm

Bước 7. Định nghĩa
Kinh doanh đa cấp hay kinh doanh theo mạng là hình thức kinh doanh bằng phương pháp bán hàng trực tiếp đến người tiêu dùng thông qua mạng lưới người tham gia theo cấp bậc nhằm giảm giá thành sản phẩm và đem lại lợi nhuận cho người tham gia mạng lưới.
2. Phân tích 1 định nghĩa trong tác phẩm Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng hoặc Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ.
Định nghĩa văn hóa kinh doanh trong tác phẩm Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng: Văn hóa kinh doanh là hệ thống các giá trị của hoạt động kinh doanh được người kinh doanh ( doanh nhân và doanh nghiệp) sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động cung cấp sản phẩm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng nhằm mang lại lợi nhuận tối đa cho người kinh doanh.
Đặc trưng giống: Hệ thống giá các trị
Đặc trưng loài: của hoạt động kinh doanh, chủ thể người kinh doanh gồm cả doanh nhân và doanh nghiệp được sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động cung cấp sản phẩm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, mang lại lợi nhuận tối đa cho người kinh doanh.
Văn hóa kinh doanh là hệ thống giá trị, theo nghĩa này thì giá trị có nghĩa là tốt trái với phi giá trị. Tuy nhiên trong hoạt động kinh doanh nếu như theo khái niệm là quá trình hoạt động cung cấp sản phẩm đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng và mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp thì để làm được mục tiêu trên thì ít có hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nào chỉ hoàn toàn tạo ra giá trị tốt mà không có giá trị xấu ( tính phi giá trị) như gây ô nhiễm môi trường, bóc lột sức người lao động, sử dụng hóa chất… . Cũng như định nghĩa thiếu đi phần không gian về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội trong hoạt động kinh doanh. Bởi hoạt động kinh doanh nào cũng chịu ảnh hưởng của hai yếu tố trên. Bên cạnh đó, nếu văn hóa văn hóa kinh doanh là hệ thống giá trị thì cũng nên kèm theo đạo đức kinh doanh .






